lìa hoà hợp. Cho nên người nhập vào pháp môn này thì không đồng với tình kiến phân biệt chấp trước của phẩm phu. Như Ngài Thánh Lương có dạy: Phật A-di-đà chính là Bổn sư Lô-xá-na, vẫn còn thuộc về tình lượng, vì sao? Vì các thế giới ở mười phương chỉ là một cảnh trí duy nhất, không có Phật riêng.
Hỏi: Trong luận có trích dẫn kinh Niết-bàn nói rằng do năng lực của thiện căn Từ bi, hoặc pháp tánh Như Lai vô nhân ngã xa gần, chúng sinh chịu khổ đều là cảnh tướng trong tánh Như Lai phải không?
Đáp: Chỉ nói được chánh nhân Phật tánh, nhưng nói về chánh nhân thì chỉ riêng Như Lai, tuy tánh chúng sinh cũng thế, nhưng chúng sinh bị nghiệp làm chướng ngăn nên thấy người khác chịu khổ dù có đến chỗ người ấy cũng còn không cứu được, huống gì không đến mà cứu được hay sao. Trong giáo lý nói Bồ-tát Bát địa trở lên nếu ta niệm danh hiệu các Ngài một biến thì liền được lợi ích, vì nghiệp phân biệt đã hết nên tự nhiên được như thế. Cho nên Hòa thượng Đỗ Thuận một khi bước chân vào chùa thì trong mười năm không ai trộm cắp. Ngài tự nói rằng nhiều đời Ngài không gây tạo nghiệp trộm cắp cho nên được quả báo như thế. Đời Tống có Trâu-đố-đà, hễ ai thấy mặt ông ấy thì liền bị tai họa, gần đây có người cung phi rất nghèo, hễ tay cô chạm phải vật gì thì vật đó thành đồ phế bỏ, không còn sử dụng được, đó là do nghiệp lực nhiều đời mà bị quả báo như thế, không có gì lạ.
THỨ 5: LÝ ĐẾ MÔN
Ngay nơi tánh là tướng, chẳng phải có, chẳng phải không, môn lý sự không ngại, giải thích giá biểu dùng lẫn nhau. Nói là không, giống như trăng đáy nước, hoa trong gương, chứ không giống như lông rùa sừng thỏ thực sự không. Còn nói có thì giống như gió thổi mây bay chứ không đồng với vàng cứng đá ngại. Cho nên nếu vướng mắc danh tướng thì tức là hữu lậu phẩm phu. Nếu bài bác nhân quả tức không kiến ngoại đạo. Cõi Phật trong mộng đều nguyện vãng sinh. Bọt bóng Thánh hiền, thề cùng chiêm ngưỡng. Nói chân nói tướng, giống như thêm vào mụt nhọt trên da thịt lành lặn. Bàn có bàn không, giống như hạt tuyết trong lò lửa đỏ hồng. Nay y cứ vào trong chân đế, chia làm bốn môn:
-Tức tướng tức tâm môn.
-Tức tâm tức tướng môn.
-Phi tâm phi tướng môn.
-Ly tức ly phi môn.
1.Tức tướng tức tâm môn.
Tịnh độ Cảnh quán yếu môn chép: Tâm bao trùm thái hư. Lượng khắp pháp giới. Lại nói rằng: Tâm như người thợ vẽ, tạo các thứ năm ấm, trong tất cả thế gian, thảy đều từ tâm tạo. Vì vậy cõi nước Cực lạc, đất báu, cây báu, ao báu, thân chính báo, trong hải chúng Di-đà có ba mươi hai tướng,… đều là do tâm ta sẵn có, đều do tâm ta tạo ra, không phải từ, người khác mà được, không từ bên ngoài đến, người hiểu được vấn đề này mới có thể luận về tức tâm quán Phật. Cho nên Quán kinh chép: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, nhập vào tâm tưởng của chúng sinh, cho đến câu tám mươi vẻ đẹp. Đại sư Thiên Thai giải thích thành hai nghĩa: Một là giải thích theo cảm ứng đạo giao; hai là, giải thích theo giải hành tương ứng. Nếu không có giải thích đầu, thì quán chẳng phải quán Phật. Nếu không có cách giải thích sau thì ngoài tâm có Phật, còn giải thích tâm này làm Phật, tâm này là Phật, từ phía tu quán mà nói thì gọi là “tâm là”, từ phía sẵn có mà nói thì gọi là “tâm là”, nghĩa trùm trước sau. Chẳng hạn như hợp lại nói: Tâm này làm mặt trời, tâm này là mặt trời, cho đến tâm này làm Thế Chí tâm này là Thế Chí, cho đến trong chín phẩm, tùy trần cảnh thực hành quán, thì đều có đầy đủ.
Lại nói: Quán tâm quán Phật đều thuộc vọng cảnh, ý ở chỗ rõ vọng, tức chân không cần phá vọng, sau đó hiển chân. Cho nên Ngài Kinh Khê nói: Nói rằng Duy tâm đâu phải duy chân tâm, nên biết tâm phiền não có khắp nơi, ông còn không biết tâm phiền não có khắp nơi thì làm sao biết được sinh tử sắc ở khắp nơi, sắc vì sao có thể ở khắp nơi? Vì ở sắc tức là tâm, nếu thế không cần nhiếp Phật quy tâm mới gọi là y cứ vào tâm quán Phật, như thế đã rõ, chẳng những hiểu sâu ý Phật mà cũng là thoát hẳn thường tình.
Tông Cảnh Lục chép: Tự tâm trùm khắp tất cả mọi nơi, cho nên nếu thấy Phật khác tức là Phật của chính mình, bất hoại cảnh tự tha chỉ một tâm này. Chúng sinh giống như cái khuôn bao tượng, nếu bỏ đi cái khuôn thì sẽ thấy tự Phật và cũng thấy tha Phật. Tuy thấy tha Phật cũng là tự Phật, vì do tự mình tạo ra. Nhưng cũng không hủy hoại tha Phật, vì trên bản chất của nó tuy biến đổi hình dáng của tha Phật, nhưng tức là từ tự tướng phân ra.
Lại nói rằng: Tự tâm cảm hiện, đích thân Phật đến đón rước, thân Phật thường vắng lặng, không có đến đi, thức tâm của chúng sinh nương gá vào công đức thắng lực của bản Phật, có đến có đi, như hình ảnh trong gương, như việc làm trong mộng. Hình ảnh trong gương chẳng trong chẳng ngoài. Vật chất trong mộng là chẳng có chẳng không. Chỉ
là tự tâm, không liên quan đến Phật hóa, biết Tịnh nghiệp thuần thục, mắt thấy thân Phật, ác quả sẽ thành, tâm hiện địa ngục, như người có phúc đức thì cầm gạch thành vàng, người có nghiệp nghèo thì vàng biến thành gạch, gạch không phải vàng mà vàng hiện, vàng không phải gạch mà gạch sinh. Vãng sinh chỉ là tâm sinh, gạch hiện chỉ từ tâm hiện. Chuyển biến là do ta, vàng gạch đâu có theo. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ chép: Cac họa sĩ thông minh tinh xảo dùng các thứ màu sắc, dùng màu trắng làm màu trắng, dùng màu đỏ làm màu đỏ, dùng màu vàng là màu vàng, nếu dùng màu bồ câu thì là màu bồ câu, dùng màu đen làm màu đen. Vị họa sĩ tâm nghiệp cũng giống như thế. Duyên trắng lấy màu trắng, trong trời người thì thành màu trắng. Vì nghĩa gì gọi là trắng? Không bị các lậu cấu như dục… làm ô nhiễm nên gọi là màu trắng, cũng giống như thế, vị họa sĩ tâm nghiệp dùng màu đỏ, đối với trời người có thể làm màu đỏ. Vì sao gọi là màu đỏ? Đó là “ái, thánh, vị, xúc, hương, sắc”. Nếu vị họa sĩ tâm nghiệp dùng màu vàng thì trong đường súc sinh sẽ trở thành màu vàng. Vì sao gọi là màu vàng? Vì chúng ăn thịt uống máu lẫn nhau, tham dục sân si sát hại lẫn nhau. Vì họa sĩ Tâm nghiệp dùng màu bồ câu (xám), phan duyên quán sát, nơi đường ngạ quỷ dùng màu “Bồ câu”. Vì sao gọi là màu bồ câu? Vì thân ấy giống như lửa đốt rừng cây, bị đói khát bức não, biết bao nỗi khổ. Vị họa sĩ Tâm nghiệp lại dùng màu đen, địa ngục vẽ bằng màu đen. Vì sao gọi là màu đen? Vì hắc nghiệp nên sinh vào địa ngục, có bức tường sắt màu đen, bị thiêu bị trói nên thân màu đen. Vị họa sĩ tâm nghiệp khéo sử dụng màu sắc thiền, phan duyên minh tịnh, như vị họa sĩ ấy sử dụng màu sắc vẽ thành màu đẹp đều là do tự tâm chứ không phải do người khác làm. Cho nên biết vị họa sĩ tâm nghiệp dùng sắc màu thuần tịnh để vẽ nên Tịnh độ cũng giống như thế. Lại như trong Kinh Bát-châu Tam-muội chép: Bồ-tát được Tam-muội này bèn ngồi ở đấy, thấy được Phật A-di-đà. Giống như có người nghe nói ở nước Tỳ- da-ly, có một cô gái điếm tên là Am-la-bà-lợi. Nước Xá-vệ có cô gái điếm tên là Tu-mạn-na. Trong thành Vương xá có cô gái điếm tên là Ưu-bát-la-bàn-na. Có ba người nghe người ta khen rằng ba cô gái điếm này xinh đẹp vô cùng, nên suốt ngày mơ tưởng, trong tâm không quên được. Thế là trong giấc mơ mơ thấy mình được giao hợp với ba cô gái ấy. Thức day tâm nghĩ: “Ba cô gái ấy không đến và mình cũng không đi đến chỗ họ thế mà lại thực hiện được việc giao hợp. Từ đây mà hiểu rằng tất cả các pháp đều như thế.” Họ đến nói với Bồ-tát Bạt-đà-hòa thì Bồ-tát đáp rằng: “Các pháp thật như thế, đều từ niệm sinh ra”, sau đó
nói pháp cho ba người này nghe, ba người đều được địa vị Bồ-tát không còn lui sụt. Nơi cõi nước này nghe Phật A-di-đà, thường niệm, do niệm được thấy Phật A-di-đà. Giống như người đi xa đến nước khác, nhớ đến tài sản gia đình thân thuộc ở quê nhà, trong giấc mơ người ấy được trở về quê cũ, nhìn thấy gia đình người thân cùng vui vẻ trò chuyện. Trong giấc mơ thấy vậy khi thức dậy kể lại cho người quen rằng mình đã về đến quê nhà, thấy được gia đình thân thuộc, Bồ-tát cũng giống như thế, nghe được danh hiệu Phật nơi cõi nước, thường nghĩ ngợi, muốn thấy Phật cõi ấy thì Bồ-tát đều được thấy Phật. Ví như Tỳ-kheo quán xương người chết, khi thấy màu xanh, lúc thấy mầu trắng, đỏ, đen, dù không đem xương đến, dù không có bộ xương, quán thấy như vậy là do ý tạo ra. Bồ-tát muốn thấy Phật ở phương nào thì đều sẽ được thấy. Vì sao? Vì nhờ năng lực uy thần của Phật, năng lực Tam-muội của Phật, năng lực bản công đức của Phật. Do ba việc này nên được thấy Phật. Thí như người trẻ tuổi xinh đẹp dùng đồ đựng sạch để đựng dầu mè và đựng nước sạch, hoặc gương mới mài, hoặc khối thủy tinh không có tỳ vết để tự soi mình, thì đều tự thấy hình ảnh của mình, vì những vật này đều rất trong sáng, hình ảnh mình không từ trong gương ra, cũng không phải từ ngoài vào. Bồ-tát với tâm thanh tịnh khéo léo, tùy ý mà đều thấy chư Phật, thấy rồi vui mừng, nghĩ rằng: Phật từ đâu đến, thân ta cũng không đi, tức thời liền biết Phật không từ đâu đến, ta cũng không đi đâu. Lại nghĩ rằng: Tất cả ba cõi đều do tâm làm ra, vì sao? Vì tùy theo ý nghĩ của tâm đều được nhìn thấy. Dùng tâm kiến Phật dùng tâm làm Phật, tâm tức là Phật, tâm tức thân ta, tâm không tự biết, cũng không tự nhìn thấy, nếu y cứ vào tâm tướng thì đều là vô trí, tâm cũng là luống dối đều từ vô minh có ra, vì tâm tướng này tức nhập Thật tướng các pháp. Vì thế nên biết ngoài tâm thấy Phật tức thành cảnh ma. Vì sao? Vì ngoài tâm không có pháp nào để đạt được.
2.Tức tâm tức tướng môn.
Các pháp rốt ráo cũng là không nên có các pháp, nếu các pháp có tính chất quyết định thì tất cả đều không lập. Kinh Bát-nhã chép: Nếu các pháp bất không, thì vô đạo vô quả. Kinh Pháp Cú chép: Bồ-tát đối với rốt ráo không, rõ ràng kiến lập. Kinh Pháp Hoa nói: Bồ-tát Ma-ha- tát hiểu rõ tự thân và chúng sinh bổn lai tịch diệt nên khuyên tu phước trí không chán bỏ. Đối với các cảnh giới đều lìa hẳn tham muốn, thường ưa thích chiêm ngưỡng phụng thờ sắc tướng chư Phật. Biết cõi nước Phật đều như hư không mà thường trang nghiêm cõi Phật. Do nghĩa này mà Bồ-tát ưa thích tu Tịnh độ. Luận Quần nghi:
Cõi nước chư Phật rõ ràng giai không, xem chúng sinh đại thứ năm, vì sao lại chấp trước có tướng, bỏ đây sinh kia?
Đáp: Chư Phật pháp không lìa nhị đế.
Kinh dạy: Thành tựu tất cả pháp, mà lìa tướng các pháp “Thành tựu tất cả pháp” là các pháp Thế đế.
“Lìa các pháp” là Đệ nhất nghĩa đế vô tướng.
Lại nói rằng: Tuy biết cõi chư Phật và chúng sinh cũng không mà thường tu Tịnh độ, giáo hóa các chúng sinh. Ông chỉ thấy nói về giáo tướng viên thành thực, những lời đả phá biến kế sở chấp rốt ráo không vô, không tin vào giáo lý nói về nhân duyên y tha khởi tánh, tức là người không tin vào nhân quả. Người nói tướng đoạn diệt của các pháp đều là tà kiến ngoại đạo.
Luận Thập Nghi chép: Về kẻ bất sinh bất diệt, đối với sinh duyên, các pháp hòa hợp, không giữ tự tính, mong cầu sinh thể cũng không thể được. Khi sinh này sinh không từ đâu đến nên gọi là “bất sinh”; khi các pháp tán diệt, không giữ tự tính, khi tán này diệt không đi về đâu, nên gọi là bất diệt. Chẳng phải ngoài nhân duyên sinh diệt có bất sinh bất diệt riêng, cũng không phải không cầu sinh Tịnh độ, thì gọi là “Vô sinh”.
Kệ chép:
Pháp do nhân duyên sinh
Ta nói tức là không
Cũng gọi là giả danh
Cũng gọi nghĩa Trung đạo.
Lại nói:
Các pháp không tự sinh
Cũng không từ khác sinh
Không cùng, chẳng không nhân
Cho nên nói vô sinh.
Lại nói: Ví như có người xây dựng nhà cửa trên đất trống thì được tùy ý không bị trở ngại. Nếu xây trên hư không thì chẳng thể làm được. Chư Phật nói pháp thường dựa vào Nhị đế, không hoại giả danh mà nói Thật tướng các pháp. Bậc trí mạnh mẽ cầu sinh Tịnh độ, hiểu rõ sinh thể không thể được tức là chân vô sinh, đây gọi là tâm tịnh nên cõi Phật tịnh. Kẻ ngu bị sinh ràng buộc, nghe sinh thì hiểu là sinh, nghe vô sinh hiểu là vô sinh, không biết sinh tức là vô sinh, vô sinh tức sinh, không hiểu được lý này, chỉ một mực nghĩ thị phi, sân giận thấy người cầu sinh Tịnh độ cho là sai bậy.
Trường Lô nói: Vì cho sinh là sinh, thường thấy bị mất vì cho vô sinh là vô sinh nên bị đoạn kiến mê hoặc. Sinh mà vô sinh, vô sinh mà sinh là Đệ nhất nghĩa đế. Ngài Vĩnh Minh nói: Tánh tức là tướng, dụng không lìa thể, tướng tức là tánh, thể không lìa dụng. Nếu muốn khen ngợi tánh tức là khen ngợi tướng, nếu muôn chê bai tướng chỉ thành chê bai tánh. Ngài Thiên Như nói: Tánh hay hiện tướng, vô sinh tức sinh, tướng do tánh hiện, sinh tức vô sinh. Tiếng gió thổi qua cây, tiếng nước vọng lại là âm thánh mà vô thánh; cây báu, lan can, là sắc mà phi sắc, há lại giống với bò bay, khói tản ngoan không và bọn ma bài bác nhân quả sao!
3.Phi tâm phi tướng môn.
Luận Bà-sa nói: Bồ-tát mới phát ý, trước nhớ nghĩ sắc tướng của Phật, tướng thể tướng nghiệp tướng quả tướng dụng, được thế lực bậc hạ, sau đó nghĩ nhớ bốn mươi pháp tâm Bất cộng của Phật, được thế lực bậc trung. Tiếp tục nghĩ đến Thật tướng Phật, được thế lực bậc thượng, không đắm trước sắc thân và pháp thân.
Kệ chép:
Không tham đắm sắc thân
Pháp thân cũng không đắm
Khéo biết tất cả pháp
Vắng lặng như hư không.
Luận Bảo Tín chép: Nương vào theo nghĩa Phật.
Kinh chép: Phật bảo A-nan rằng: Như Lai chẳng phải là pháp có thể thấy được, cho nên nhãn thức không thấy được.
Kinh chép: Cái gọi là pháp không phải là việc có thể nói được, cho nên nhĩ thức không thể nghe được.
Kinh chép: “Tăng” tức là vô vi, cho nên không thể dùng thân tâm cúng dường, lễ bái khen ngợi.
Kinh Bát-nhã Ma-ha chép: Bồ-tát Ma-ha-tát niệm Phật, không dùng sắc để niệm, không dùng thọ tưởng hành thức để niệm, vì tự tính pháp là không, không nên dùng ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp mà niệm, không nên dùng giới định tuệ giải thoát, giải thoát tri kiến để niệm. Không dùng mười Lực, bốn Vô sở úy, bốn Trí vô ngại, mười tám pháp Bất cộng để niệm. Vì sao? Vì tự tính các pháp là không, tự tính không thì vô sở niệm, vì vô sở niệm mới là niệm Phật.
Luận Trí Độ chép: Nếu Bồ-tát đối với chư Phật quá khứ mà chấp tướng phân biệt hồi hướng thì không gọi là hồi hướng. Vì có tướng là một bên, vô tướng là một bên, đường đi giữa hai bên này là Thật tướng
chư Phật. Cho nên nói các Phật quá khứ, rơi vào trong số tướng, nếu không chấp số tướng hồi hướng, gọi là bất điên đảo.
Kinh Phật Tạng chép: Thấy Thật tướng các pháp gọi là thấy Phật. Thế nào gọi là Thật tướng chư pháp? Vì các pháp rốt cuộc cũng chỉ là không vô sở hữu, người niệm Phật lìa bỏ suy nghĩ, các ý tưởng không sinh, thì tâm vô phân biệt, không có tên gọi nên vô chướng ngại, vô dục vô đắc, bất khởi giác quán. Vì sao? Này Xá-lợi-phất tùy theo sở niệm mà khởi phát tất cả các tưởng, đều là tà kiến. Này Xá-lợi-phất, tùy vô sở hữu, vô giác vô quán, vô sinh vô diệt, thông đạt điều ấy, gọi là niệm Phật, trong niệm như thế, không tham không đắm, không nghịch không thuận, vô danh vô tưởng. Này Xá-lợi-phất, vô tưởng vô ngữ gọi là niệm Phật, trong đó cho đến không có niệm nhỏ vi tế. Huống gì là thân khẩu ý nghiệp thô lậu, không có thân khẩu ý nghiệp xứ, vô thủ vô xả, vô tránh vô tụng, vô niệm vô phân biệt, vắng lặng vô tính, diệt các giác quán, đó gọi là niệm Phật. Này Xá-lợi-phất, nếu người thành tựu các niệm này, muốn chuyển đất trong bốn thiên hạ thì tùy ý chuyển được, cũng có khả năng hàng phục trăm ngàn ức ma, huống gì vô minh, từ các duyên luống dối mà khởi, không có tướng quyết định, pháp này như thế, vô tưởng vô hý luận, vô sinh vô diệt, không thể nói năng, không thể phân biệt, vô ám vô minh, ma nhược ma dân không thể suy lường, nhưng thế tục cho rằng: Có chỗ giáo hóa mà nói rằng khi niệm Phật, đừng để sinh ý nghĩ, đừng sinh hý luận, đừng có phân biệt. Vì pháp này đều không, không có thể tánh, không thể niệm nhất tướng. Vô tướng là “Chân thật niệm Phật”. Lại chỉ quán nói rõ về niệm Phật Tam-muội rằng: Nên niệm thế nào? Là phục niệm (niệm trở lại). Ta nên từ tâm đắc Phật, từ thân đắc Phật, Phật không dùng tâm mà đắc, không dùng thân mà đắc, không dùng tâm được sắc tướng Phật, không dùng sắc được tâm Phật. Vì sao? Nói về tâm và sắc, Phật đều không có cho nên không dùng sắc tâm mà được Chánh đẳng giác. Sắc tướng Phật đã hết, cho đến thức cũng đã hết, điều Phật nói tận hết này người ngu không biết, người trí hiểu rồi không dùng thân miệng được Phật, không dùng trí tuệ được Phật. Vì sao? Trí tuệ vốn không thể được, tự ngã vốn không thể được, cũng không chỗ thấy
Tất cả các pháp vốn không thật có. Hoại bổn, tuyệt bổn, người niệm Phật như thế, gọi là môn Thật tướng niệm Phật, cũng gọi là “Tuyệt đãi môn”.
4.Ly tức ly phi môn.
Ngài Vĩnh Minh nói: Nếu chấp nội lực tức là tự tánh, nếu nói tha
lực thì thành tha tánh. Nếu nói cơ cảm giao nhau tức là cộng tánh. Nếu nói chẳng phải nhân chẳng phải duyên tức là vô nhân tánh, đều dính mắc ở chấp trước, chưa nhập vào viên thành, nên biết Phật lực khó suy nghĩ đến được, nhiệm mầu khó so lường. Ví như cây a-na-thúc, người nữ sờ vào thì hoa liền mọc ra, cây này không có xúc giác, chẳng phải không có xúc giác, Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ bàn luận về niệm xúc cũng giống như thế. Lại như ngà voi do sấm chớp mà có vân, ngà voi này chẳng có tai, vì sao lại có nghe? Nếu không nghe thì làm sao có vân, lẽ ra các vật khác cũng phải có. Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ, bàn luận, thánh trần cũng giống như thế. Lại như, người dũng sĩ nghĩ rằng tảng đá là con cọp, khi bắn mũi tên chẳng ghim vào đá, đá chẳng bị mũi tên ghim vào. Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ bàn luận tinh tấn cũng giống như thế. Lại như có người đi xa, ngủ một mình trong căn nhà trống. Nửa đêm có con quỷ vác một thây chết đến đặt trước mặt người ấy. Lại có một con quỷ khác, theo sau tức giận mắng chửi, nói là thây chết của mình, quỷ đến trước nói mình tự vác đến, quỷ đến sau nói thật ra do mình vác đến. Hai con quỷ mỗi con nắm một tay của thây chết mà giằng co, quỷ đến trước nói: Trong nhà này có người, hãy hỏi đi. Quỷ đến sau liền hỏi ai là người đã vác đến? Người này suy nghĩ: Hai con quỷ đều có sức mạnh, nếu mình nói dối cũng chết, chi bằng nói thật, liền nói quỷ trước vác đến. Quỷ đến sau rất tức giận bèn nắm cánh tay người này bẻ lọi quăng xuống đất, quỷ đến trước liền lấy một cánh tay của thây chết gắn vào. Cứ như thế, hai tay, hai chân, đầu, hai bên sườn, toàn thân đều thay đổi. Bấy giờ hai con quỷ cùng nhau ăn thân người đã bị thay đổi kia, sau đó quẹt miệng bỏ đi. Người ấy suy nghĩ: Chính mắt ta trông thấy thân mình bị quỷ ăn hết, thân ta hiện giờ đều là thịt của người khác. Từ đó, người này lúc nào cũng nghĩ là thân của người khác, cho đến năm thứ dục lạc cũng không tham đắm, vì là thân của người khác nên không nên cấp dưỡng nuôi nó. Cho đến vợ con cũng không sinh nhiễm trước, vì là thân của người khác nên không nên có nhiễm. Cho đến các thứ quở trách khổ nhục cũng đều vâng chịu, vì là thân của người khác nên không còn kiêu mạn. Lại bỗng tự chấp: Nếu là người khác thì không có ngã, nếu chẳng phải người khác thì thân người khác ở hiện tại đối với thân này chẳng phải người khác, không phải chẳng phải người khác, chẳng phải ta, không phải chẳng phải ta, ta cũng không thật có, người khác cũng không thật có, từ xưa đến nay thường tự như thế. Tức thời biết được tất cả pháp, là ta hay chẳng phải ta đều là vọng chấp. Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ, bàn luận về
quán lực, thấy Phật, mình người cũng giống như thế.
Lại như có người nghèo tên là Thương Khưu Khai tin lời người giàu nói rằng nhảy vào lửa không bị cháy, xuống nước không bị chìm, gieo mình từ trên cao xuống mà không bị hề hấn gì, cho đến tùy theo những lời nói dối đều được vật báu chân thật, nhưng người nghèo này không có phương thuật như người khác. Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ, bàn luận về tham dục, được ngôi vị Bảo vương của Phật cũng giống như thế.
Lại như hang trống tùy theo âm thánh mà có tiếng vang, tiếng vang này chẳng phải từ hư không đến, không từ hang trống đến, không từ âm thánh đến. Nếu từ hư không đến thì lẽ ra hư không nên có tiếng vang, nếu từ hang trống đến thì lẽ ra hang trống nên thường thường có tiếng vang, nếu từ âm thánh đến thì lúc gọi ở đất bằng thì lẽ ra tiếng vang này cũng truyền, cho đến chẳng phải hòa hợp mà đến, chẳng phải nhân duyên mà đến, chẳng phải tự nhiên đến. Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ, bàn luận tướng âm thánh chẳng đến chẳng đi cũng giống như thế. Lại như người ảo thuật, như con ngựa mà huyễn trưởng giả yêu mến thu vào trong cái bình nhỏ, bình không lớn thêm mà ngựa vẫn chạy nhảy như thường. Trưởng giả bày thức ăn xong thì ngựa bị cột vào trụ như cũ. Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ, bàn luận pháp huyễn biến hiện ra cõi Phật cũng giống như thế.
Lại như thuốc Ha-trạch-ca, nếu người có thuốc này, dùng một lượng biến thành ngàn lượng đồng, đều thành vàng ròng, chẳng phải ngàn lượng đồng có công năng biến thành thuốc này. Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ, bàn luận về thuốc, chỉ uế thành tịnh cũng giống như thế. Lại như có người được thuốc An-thiện-na, dùng để bôi vào mắt, dù đi giữa mọi người mà không ai thấy. Bồ-tát Ma-ha-tát không thể suy nghĩ, bàn luận năng lực của thuốc, đối với niệm niệm sinh được thân vô sinh cũng giống như thế. Lại nói như hương Vô năng thắng, nếu bôi hương này vào mặt trống thì khi đánh âm thánh phát ra tất cả quân địch đều tự rút lui.
Lại như vua Chuyển Luân có thứ hương tên là Hải tạng, nếu đốt một viên thì vua và bốn thứ quân đều bay lên hư không. Bồ-tát Ma-ha- tát không thể suy nghĩ bàn luận hương chánh niệm hàng phục các ma quân, vượt qua ba cõi cũng giống như thế.
Cho nên phải biết niệm Phật Tam-muội không thể suy nghĩ, bàn luận. Như lỗ chân lông của Ngài Phổ Hiền không thể suy nghĩ, bàn luận. Như bụng của phu nhân Ma-da không thể suy nghĩ, bàn luận, như