đùm bọc che chở hàm thức. Nhưng nghiệp chúng sinh không có tương ứng, dù cùng ở chung mà không thấy. Giống như các loài quỷ và linh thần, cùng ở chung với người, mà người không thể nhìn thấy. Như vậy thì đều gọi là Hoa tạng thế giới, có đồng với sát trần mà ông nhìn thấy không? Nếu cho là đồng, thì các Ngài Mục-liên, Xá-lợi-phất, cái nghe cái thấy vẫn còn bị ngăn cách. Nếu nói là khác thì sao gọi là nhất chân. Lại như có tăng Linh Cán, hành trì pháp quán Hoa Nghiêm và quán Di- lặc thiên cung, đến khi bệnh nặng, mắt nhìn lên trên, như có thấy điều gì. Kẻ đồng chân hỏi thì Ngài nói: Thấy đồng tử dẫn đến thiên cung Đâu-suất, hưởng lạc chẳng lâu dài, cuối cùng cũng đọa vào luân hồi, Liên Hoa Tạng mới chính là mong cầu của ta. Nói xong thì hơi thở dứt, trong khoảnh khắc thì sống lại. Đồng chân lại hỏi trông thấy gì. Tăng Cán đáp: Thấy nước lớn đầy khắp, hoa như bánh xe, được ngồi lên đó, ý nguyện tròn đủ. Nói xong thì lâm chung.
Cho nên Ngài Thánh Lương Quốc sư có nói: Quán hạnh thì thiên đồng rước, mà nước lớn tràn ngập thì sẽ vãng sinh về Tây phương, hai việc này là đồng hay khác. Cho nên biết rằng một giọt nước biển tràn ra khắp nơi, một ngọn lửa đom đóm tỏa sáng cả núi, chẳng cần phải nhọc công, là người có trí không nên phân biệt như thế!
(Nghĩa là nói cõi Ta-bà ở Hoa tạng tầng thứ mười ba, đó là báo độ của phẩm phu, chẳng phải là Tịnh độ của Phật. Trưởng giả luận về Hoa tạng cùng Hoa tạng của tăng Linh Cán sinh về, đều là báo độ của Phật, phẩm nhân cùng ở mà không thể thấy được).
THỨ 9: PHÁP MÔN TU TRÌ
Tình trần tích tụ trong nhiều kiếp, rồi nhiều đời sinh ra trong biển ai dục, như loài cỏ rêu ăn dần kiếm báu, như bùn sét nuốt hột châu. Không có đá mài thì chẳng có ăn mòn, bỏ đi cấu uế thì mới được tỏ sáng. Muốn đắc được tâm tịnh thì phải diệt trừ uế. Người ngộ thì thường phải quán sát tỏ thông. Người mê thì cần khắc phục thêm. Nếu không rồi sẽ chịu trói buộc trong lưới tham ái thật đáng thương xót.
Khổng Tử có nói: “Khốn khổ mà không học, là hạng hạ dân.” Nay muốn trong một đời, đạt được quả tăng-kỳ, trong mười niệm thâu nhiếp cả lộ trình ức vạn. Há đó là cái thấy và tư tưởng thiển cận sao. Tâm kết khẩu trần, sở năng đều siêu việt. Không dính vào một niệm nhẫn, không lụy nhiều đời, như pháp mà tu, tránh đọa vào ác đạo.
1.Tịnh ngộ môn.
2.Tịnh tín môn.
3.Tịnh quán môn.
4.Tịnh niệm môn.
5.Tịnh sám môn.
6.Tịnh nguyện môn.
7.Tịnh giới môn.
8.Tịnh xứ môn.
9.Tịnh lữ môn.
10.Bất định tịnh môn.
1.Nói tịnh ngộ môn đó, hành giả muốn sinh về Tịnh độ thật, thì nên tham cứu một cách chân thật, như pháp mà liễu ngộ. Vì sao? Vì ngộ là đấng đạo sư dẫn dắt người ra khỏi mê lầm. Như người vào nhà tối, phải đốt đèn cho sáng lên. Giác ngộ sẽ đưa ta vào cõi tịnh, như người đi xa, cần phải biết lộ trình mình phải đi. Ngộ là lãnh tụ của muôn hạnh. Như người xông pha vào trận mạc, phải tùy theo vị chủ soái:
a.Ngộ thì có thể hiểu biết ngay uế hằng tịnh mà không bỏ tịnh.
b.Nghe cõi Phật, thanh tịnh bất khả tư nghì, mà không sợ hãi.
c.Biết cứu cánh là không, không mất nhân quả, không làm các điều ác.
d.Biết cõi tịnh kia không đến không đi, ở đây cũng không đến không đi.
e.Ngộ thân lượng Phật biến đầy cả hư không. Thân lượng của chúng sinh cũng biến cả hư không. Như nghiệp lực ở địa ngục một người cũng đầy khắp, nhiều người cũng đầy khắp.
f.Nghe vô lượng các hạnh trải qua A-tăng-kỳ kiếp, như người nói các việc trong khoảnh khắc, mà không kinh sợ.
g.Tu thập thiện tam phước, không trụ vào nhân thiên
h.Như nhớ lại các việc trong khi nằm mộng sau khi thức giấc, không nghĩ việc có không.
i.Như mắt nhìn thấy cố hương, tin hay không tin cũng không thể được.
j.Như pháp vô ngã, thuận theo tánh làm lợi ích chúng sinh, cho đến thành Phật, không hề nhàm mỏi. Cho nên Bồ-tát nhập vào môn này rồi thì thành tựu được bách pháp, tùy ý được sinh về. Cho nên trong phẩm thượng của Quán kinh có nói: “Hiểu sâu được nghĩa thú, đối với Đệ nhất nghĩa tâm không kinh động.” Sớ nói rằng: “Đệ nhất nghĩa đó là Thật tướng của các pháp. Dùng ngôn ngữ thì đạo đoạn, tâm hành thì xứ diệt” Lại ý nghĩa sáu niệm trong thượng phẩm có nói: “An tâm bất động, gọi đó là niệm.”
Sớ sao nói: Lý nghĩa đệ nhất, không bị hai bên làm động, gọi chung là niệm.
Thế nên cõi Tây phương như các vị Long Thọ, Thiện Tài, Vi-đề- hy… nhờ nhập địa mà vãng sinh, phương này như các Ngài Viễn Công, Trí Giả, Vĩnh Minh… nhờ chứng ngộ mà vãng sinh. Trong tất cả kinh luận đều có chép đủ, đây không thể nói hết. Trong luận thì có nói sinh về kia, mà được giác ngộ là nói cho hạng trung hạ, cho đến nói giác ngộ Phật tự thân, đâu cần cầu vãng sinh. Đây là nói cho hang thập địa Bồ-tát trở lên, như nói ngộ Đệ nhất nghĩa mà các kết sử chưa đoạn, đều không cầu sinh, thì như Ngài Long Thọ, Vĩnh Minh… như dụi mắt sinh ra hoa đốm, không việc mà thành đa sự vậy.
2.Tịnh tín: Trong Trí Độ luận có nói: Như ở trong tâm ngừơi, có lòng tin thanh tịnh, thì người đó có thể nhập vào pháp Phật. Nếu không có lòng tin thì không thể vào được. Ví như da trâu chưa thuộc cho mềm mại thì không thể cuốn lại. Người bất tín cũng thế.
Lại trong kinh nói lòng tin là tay. Như người có tay vào trong núi báu, có thể lấy dùng tự tại. Con người không có tay thì có vào đó cũng không lấy được. Tín cũng như thế. Xưa có Vương Trọng Hồi hỏi Vô Vi Tử rằng: Làm thế nào niệm Phật không gián đoạn, Vô Vi Tử nói: Sau khi tin rồi thì không còn nghi, thì đó là không bị gián đoạn vậy. Trọng Hồi vui mừng lui ra, chẳng bao lâu thì được vãng sinh, sau có trở lại cảm tạ. Thế nên, là người tu hành, chưa thể đốn ngộ, nên gieo trồng niềm tin sâu xa, không kinh sợ không giao động.
a.Tin lời nói thành thật từ kim khẩu Phật nói ra, quyết định sẽ được vãng sinh.
b.Tin vào tự tâm rộng lớn, thì sẽ có công đức thanh tịnh như thế.
c.Tin nhân quả như bóng theo hình, nhất định sẽ mang theo.
d.Tin hình thức của thân này và tất cả sự kiến lập của thế giới như bóng nắng, hoa đốm không tồn tại.
e.Tin cõi đời ngũ trược ác thế này, luôn bị các thứ nóng lạnh khổ não tướng uế bức bách, không một phút giây sống xót.
f.Tin tất cả pháp đều do tâm, như nhớ me mà nuốt nước bọt.
g.Tin vào niệm lực bất khả tư nghì, như là nghiệp lực.
h.Tin thai sen là bất khả tư nghì, như bào thai.
i.Tin Phật có vô lượng thân, vô lượng thọ, vô lượng quang, bất khả tư nghì. Như thân kiến, thân phù du tỏa ánh sáng ra đều bất khả tư nghì.
j.tin thân này, nhất định rồi sẽ chết. Nếu người có đầy đủ mười
lòng tin này, thì dở chân cất bước, đều là niệm Phật. Thế nên biết rằng: Một chữ tin này, thông cả thượng trung hạ. Nhưng niềm tin lại có đại tiểu. Nếu không có tín lực sâu xa, có khác gì chim không cánh, thì không thể bay lên được.
3.Tịnh quán: cấu uế của chúng sinh có từ vô thỉ biến tất cả pháp, như vàng còn nằm trong khoáng. Người tu Tịnh nghiệp, nên tu thêm các pháp quán hạnh, trừ hết tập khí, đó là rào tường của bách pháp, là cầu bến của vãng sinh.
a.Tịnh quán, nghĩa là quán tướng hảo của Phật, như trong kinh Thập Lục quán có nói vậy.
b.Bất tịnh quán: Nghĩa là quán thân tâm bất tịnh, khí thế giới bất tịnh mà sinh lòng nhàm chán.
c.Quán vô thường: Nghĩa là quán tất cả pháp là vô định, như sắc đẹp, người dâm dật cho là vui. Phụ nữ ghen ghét cho đó là khổ. Người quán hạnh quán các pháp đó thấy các sự xấu ác lộ ra. Các loại khác quán xem như cây đất.
d.Quán hòa hợp: Nghĩa là quán thân này là thế giới, thấy nghe hiểu biết này như chứa cây làm nhà, chứa đất làm bờ, chứa các loại màu sắc để thành bức họa, không có thật thể.
e.Đối trị quán: Nghĩa là quán tự thân, kiết tập nào là trọng yếu, nên dùng pháp gì để đối trị, như loại thuốc và các thứ ẩm thực ít lạnh mà đắng chát, lúc bệnh nóng thì dùng làm thuốc, đối với bệnh khác thì không phải là thuốc. Như các loài dược thảo ẩm thực ít cay nhiều ngọt nóng thì đối với bệnh lạnh là thuốc, bệnh khác thì không phải. Quán sát như thế để đối trị.
f.Quán tàm hối: Nghĩa là quán tất cả chúng sinh, từ vô lượng kiếp đến nay, đối với ta đều từng làm cha mẹ anh chị em với nhau, dâm loạn với nhau mà không biết, như loài Kiêu Kinh giết hại cha mẹ. Như loài trâu dê chim tước hôn phối với thân thuộc. Loài kia không nhận biết được, mà con người nhận thấy được thì xấu hổ cười nhạo. Chư Phật Bồ- tát nhìn thấy chúng ta cũng như thế. Vậy chúng ta nên sinh lòng hối hận vô cùng.
g.Niệm niệm quán: Quán trong tất cả thời, có bao nhiêu tâm nhớ nghĩ Phật, bao nhiêu tâm lợi sinh, bao nhiêu tâm nhơ sạch chìm đắm.
h.Quán bình đẳng: Quán tất cả sắc như một sắc, đều không có tốt xấu. Quán tất cả âm thánh như một âm thánh không có khen chê. Quán tất cả thọ như một thọ, không có ân oán. Quán tất cả nghĩa như một nghĩa không có cạn sâu.
i.Quán vi tế: Quán niệm Phật niệm pháp, từ đâu đến, đi về đâu.
j.Quán pháp giới: Nghĩa là quán một cọng lông, một vi trần, một cọng cỏ, một lá cây đều có vô lượng cõi Phật thanh tịnh nơi đó. Hành giả lúc hành các pháp quán, lấy tịnh quán thứ nhất là chính, còn chín pháp quán khác làm phụ. Như tìm trân châu trong đá, nếu không chẻ đá, thì không thể lấy được châu.
4.Tịnh niệm: pháp niệm Phật gọi là nhất hành Tam-muội, duy ở nơi chỗ quyết định, nếu không đắc niệm ắt sẽ bị tán loạn, Tam-muội không thành.
a.Nhiếp tâm niệm: Nghĩa là tất cả nơi đều nhiếp niệm không quên. Giả như có mê ngủ thì buộc niệm mà ngủ. Không bị cách niệm, không xen niệm khác.
b.Dõng mãnh niệm: Như người hiếu sắc, nghe nơi nào có dâm nữ thì dù nơi xa xôi hiểm trở cũng tìm đến mà không sợ hãi.
c.Thâm tâm niệm: như đại dương sâu rộng, cũng có chỗ tận cùng, bờ giác mênh mông, không đến chỗ tận cùng thì không ngừng nghỉ.
d.Quán tưởng niệm: Nghĩa là trong mỗi niệm, thấy ba mươi hai tướng, tám mươi tướng tốt tùy hình.
e.Tức tâm niệm: Nghĩa là dứt tất cả danh tâm, dục tâm, quan tâm, tâm thế gian, tham luyến tâm, cống cao tâm, tâm ngăn che, tâm nhân ngã thị phi. Đó là niệm Phật.
f.Bi đề niệm: (tâm thương xót): Mỗi khi quán tưởng Phật, mỗi cọng lông nơi thân đều dựng đứng lên, ngũ nội như vỡ tan ra, như nhớ mẹ hiền ẳm bồng lúc thiếu thời và đứa con quá cố có đa tuệ.
g.Phát phẩn niệm: Như lạc vào nơi cô tịch lạnh lẽo, mỗi một niệm không muốn sinh về đó.
h.Nhất thiết niệm: Thấy nghe hiểu biết, cùng trong mỗi niệm, trong xương tủy, chân lông, không có nơi nào mà không niệm Phật.
i.Tham cứu niệm: Nghĩa là niệm Phật một tiếng, liền niệm chỗ đến của tiếng này.
j.Thật tướng niệm: Nghĩa là không lấy hữu tâm mà niệm, không lấy vô tâm mà niệm chẳng lấy tâm chẳng phải có không mà niệm. Đó chính là thượng phẩm niệm Phật môn. Người niệm Phật như thế, hiện đời ắt sẽ được thấy Phật.
5.Tịnh sám: Trong kinh nói: Tâm trước khởi tội, như mây che hư không. Tâm sau diệt tội, như ánh đèn phá tan bóng tối.
Lại nói: Y phục bị cấu bẩn cả trăm năm, có thể trong một ngày hoàn toàn được giặt rửa sạch. Cho nên muốn trừ chướng nặng, nên cần
cầu sám hối.
Nội sám: Sám cái nhân bất tịnh của tâm ý thức.
Ngoại sám: Sám tất cả sắc, tất cả thinh và tất cả pháp bất tịnh.
Sự sám: Sám mười tám giới, hai mươi tám hữu và tám vạn bốn ngàn trần lao kết sử, chướng ngại sự tu học trải qua A-tăng-kỳ kiếp, thấy các hạnh nghiệp lợi sinh của chư Phật.
Lý sám: Nghĩa là sám hối từ khi mới vào đạo đến nay các thứ hiểu giải có được, chỗ học kinh luận, nghe các nghĩa sâu xa, các bệnh tác, chỉ, nhậm, diệt, chướng ngại trí vô lậu của Phật.
Quá khứ sám: Sám từ đời vô thỉ đến nay những ác nghiệp đã làm, tuy đời nay không có trộm cắp, mà sở cầu không được như ý, tức là nghiệp trộm chưa dứt. Đời này tuy không tà dâm, nhưng lại gặp quyến thuộc không vừa ý, là do nghiệp dâm chưa dứt. Tuy đời này không vọng ngữ báng pháp, nhưng lời nói ra người nửa tin nửa ngờ, như vậy nghiệp báng pháp và vọng ngữ chưa dứt hết. Ở trong tất cả pháp giới, quán sát tất cả nhân. Nên biết rằng đời trước không có việc ác nào mà không làm, phải sám hối tất cả.
Vị lai sám: Tất cả ác pháp nay nên dừng lại, cho đến tận đời vị lai vĩnh viễn không làm nữa.
Hiện tại sám: Đời này có các nghiệp khổ sinh lão bệnh tử, các nghiệp phiền não, các nghiệp cử chân cất bước, nghiệp tâm động, miệng nói, cùng vô lượng các nghiệp vi tế.
Sát-na sám: Nghĩa là trong một niệm có chín mươi sát-na, một sát-na có chín trăm lần sinh diệt. Vậy một sinh diệt là một sám hối cho dứt.
Cứu cánh sám: Trong “Đẳng giác vị “có một phần vô minh, giống như hạt bụi vi tế cuối cùng được tẩy sạch.
Pháp giới sám: Nghĩa là ở trong pháp tánh, không có ta không có người, sám hối khắp mười phương chúng sinh trong quá khứ, hiện tại, vị lai. Nếu chân thật sám hối thì tất cả chướng ngại sẽ tiêu trừ, không lìa đạo tràng, được thấy khắp cả chư Phật.
6.Tịnh nguyện: Trong Trí Độ luận có nói: Các Bồ-tát thấy chư Phật ở trong vô lượng thế giới nghiêm tịnh, phát hoằng thệ nguyện. Có thế giới Phật không còn các chúng khổ, cho nên không có tên ba ác đạo. Bồ-tát thấy như thế rồi, tự phát nguyện rằng: Lúc ta thành Phật, trong thế giới không có các điều khổ, cho đến không có tên ba ác đạo cũng như thế. Có thế giới Phật trang nghiêm bảy báu, ngày đêm thường có ánh sáng thanh tịnh, không có mặt trời mặt trăng, liền phát nguyện
rằng: Khi ta thành Phật thế giới cũng thường có ánh sáng nghiêm tịnh như thế. Có thế giới Phật, tất cả chúng sinh đều hành thập thiện, có đại trí tuệ, y phục, thức ăn uống tùy theo niệm khởi liền có, Bồ-tát liền phát nguyện rằng: Khi ta thành Phật, tất cả ẩm thực y phục của tất cả chúng sinh ở trong thế giới cũng nên như thế. Có thế giới Phật, chư Bồ-tát đều có sắc thân ba mươi hai tướng như Phật, ánh quang minh tỏa rực, cho đến không có tên Thánh văn, Bích-chi-Phật, cũng không có người nữ, tất cả đều hành trì Phật đạo thâm diệu, du hóa khắp mười phương, giáo hóa tất cả chúng sinh, liền phát nguyện rằng: Khi ta thành Phật, chúng sinh ở trong thế giới cũng lại như thế.
Vô lượng các cõi Phật nghiệm tịnh như thế, nguyện đều đạt được, cho nên nói rằng: Nguyện thọ vô lượng thế giới của chư Phật.
Hỏi: Hạnh nghiệp thanh tịnh của chư Bồ-tát, tự đắc được tịnh báo, cần gì phải lập nguyện, rồi sau đó mới đạt được. Cũng như nhà nông được mùa, đâu cần phải đợi cầu nguyện.
Đáp: Làm phước mà không phát nguyện thì không có mục tiêu. Nguyện như người dẫn đường mới đi đến chỗ thành tựu. Cũng như vàng bị nung chảy ra, tùy theo tay thợ làm ra, vì vàng thì vô định. Như lời chư Phật nói: như người tu một ít phước bố thí, tu ít phước giữ giới, không biết pháp thiền, nghe ở trong cõi người có người phước lạc, hoặc nghe ở cõi Dục thiên, Sắc thiên, tâm liền ưa thích. Sau khi mạng chung, liền sinh vào những nơi đó. Bồ-tát cũng như thế, tu nguyện vào thế giới tịnh, sau đó mới có thể đạt được. Vì thế mà biết rằng: Do nguyện mà thọ được quả báo thù thắng. Lại nữa, cõi Phật trang nghiêm là việc trọng đại, công đức độc hành thì không thể thành được. Vậy nên chủ yếu là cần có nguyện lực. Cũng như sức của con trâu có thể kéo xe, cần có người điều kiển thì mới có thể đi đến nơi, nguyện tịnh thế giới cũng như thế. Phước đức như trâu, nguyện như là người điều khiển.
Hỏi: Nếu không phát nguyện, thì không có phước ư?
Đáp: Tuy đạt được cũng không bằng có nguyện. Nguyện có thể hỗ trợ cho phước, thường nghĩ đến sở hành thì phước đức tăng trưởng. Do nghĩa này, mà người tu pháp tịnh Phật quốc độ, nên phát đại nguyện:
Không vì phước đức mà nguyện, nguyện vì tất cả chúng sinh cầu sinh về Tịnh độ.
Không vì quyến thuộc mà nguyện, nguyện giúp tất cả quyến thuộc Như Lai, sinh về Tịnh độ.
Không vì bệnh khổ mà nguyện, nguyện trị tất cả bệnh vô minh ở thế gian mà sinh về Tịnh độ.
Không vì Chuyển luân vương mà nguyện, nguyện Chuyển pháp luân của chư Phật, làm đại pháp vương mà sinh về Tịnh độ.
Không vì dục giới mà nguyện, nguyện lìa tất cả ngũ dục vi tế mà sinh về Tịnh độ.
Không vì sắc giới mà nguyện, nguyện lìa tất cả chấp chước Thiền mà sinh Tịnh độ.
Không vì vô sắc giới mà nguyện, nguyện độ tận các sự lưu chú vi tế, chứng vô lượng thân tướng hảo mà sinh về Tịnh độ.
Không vì hàng Thánh văn, Bích-chi mà nguyện, nguyện đem phước đức nhị nghiêm, làm lợi ích cho tất cả chúng sinh mà sinh về Tịnh độ.
Không vì một thế giới hay ngàn thế giới mà nguyện sinh về. Nguyện thay thế vô số thế giới khổ, cứu bạt tất cả chúng sinh mà nguyện sinh về.
Không vì chúng sinh trong một A-tăng-kỳ kiếp và chúng sinh trong ngàn A-tăng-kỳ kiếp mà nguyện sinh về. Nguyện thay thế chúng sinh khổ trong vô lượng vô số A-tăng-kỳ kiếp khổ của chúng sinh, cứu bạt tất cả chúng mà nguyện sinh về Tịnh độ.
Nếu phát các đại nguyện như thế, cho đến sát-na cuối cùng, nhất định sẽ được như trong nguyện của Ngài Phổ Hiền đã nói. Cho nên biết rằng nguyện chính là thuyền từ đưa người qua biển khổ, là đấng minh sư đưa người về cõi Cực lạc.
7.Tịnh giới: Tất cả tịnh pháp đều lấy giới làm căn bản. Như người làm nhà trước tiên cần phải có đất bằng. Như họa sĩ muốn vẽ sông 7.núi, trước phải có lụa trắng sáng sạch, sau đó mới tô màu sắc. Giới cũng như thế, cho nên nói giới là căn bản của các thiện pháp. Cánh cửa đầu tiên để đi vào Tịnh quốc, nếu không trì giới, thì như người nữ xấu ác muốn vào trai đàn thật không thể được.
Giới xan tham, nghĩa là thực hành bố thí tài, mạng và pháp thí, không có yêu tiếc.
Hủy cấm giới: Nghĩa là ngũ giới, luật nghi giới, cho đến vô lậu giới đều trì đầy đủ.
Sân nhuế giới: Nghĩa là dùng giới để điều phục tâm và thân khẩu, nếu gặp lời ác khẩu như đao trượng, chỉ nên tư duy các pháp nghiệp nhân duyên, nghĩ đó là trả nợ, là đạo sư, là trận phong hàn nóng lạnh.
Phóng dật giới: Là sinh tử hiểm nạn, không phải là chỗ gởi thân. Như người cầm đầy bát dầu đi trên một sợi dây, không nhìn nghiêng ngửa hai bên và không sinh niệm khác.
Tán loạn giới: Nghĩa là giữ nhiếp các căn, dứt hết ảnh duyên, như giữ ngọn đèn trước gió, như phóng sinh chim.
Ngu si giới: Nghĩa là dùng trí tuệ phá hết mê lầm. Như người làm việc thường nhờ ánh sáng mặt trời, nếu là đêm dài thì tất cả công việc đều phế bỏ hết. Cũng như ngọn đèn sáng cho người có mắt nhìn, đối với người mù, hoặc ngủ, thì sông núi đất trời chẳng có nghĩa gì cả.
Kiêu mạn giới: Nghĩa là không vì sự tài biện mà cống cao, không vì sự ngộ giải mà cống cao, không vì sự tranh luận mà cống cao. Tất cả chỗ đạt được, như bụi trần ở trong đại địa, như cấu bẩn ở trên mặt gương. Không nên đem cấu này để kiêu ngạo cấu kia.
Phú tàng giới: Nghĩa là trong tất cả chỗ của chư Phật, tất cả chỗ của Bồ-tát, tất cả chỗ của thần minh đều không thể che lấp, như trốn bóng mình dưới ánh nắng mặt trời, dấu tánh ướt trong nước, dấu bụi trong cát, không thể nào trốn được.
Vô ích giới: nghĩa là tất cả các việc hý luận vô ích, tất cả thi văn vô ích, tất cả trần duyên vô ích, tất cả miệng nói giải thoát vô ích thì đều nên xa lìa.
Thập trụ giới: nghĩa là như trì giới ở trên, chỉ vì sinh về Tịnh độ, làm lợi ích chúng sinh, không cầu nghe khen ngợi và các quả nhị thừa nhân thiên. Bồ-tát hành tịnh giới như thế, thì có thể nhiếp chúng sinh sinh về Tịnh độ. Vì tất cả chúng sinh tuy vô cùng tối tăm, ngoan cố, nhưng cũng đều khát ngưỡng giới đức.
8.Tịnh xứ: Nguời học đạo là đã có trí xuất trần, thì nên lìa bỏ hết những nơi xấu ác. Nếu không lìa bỏ, thì sự chán ghét chưa cùng cực, như vậy thì sự ưa thích Tịnh độ cũng chưa cùng cực. Ngài Long Thọ nói: Tâm Bồ-tát không quý cầu ngôi Chuyển luân Thánh vương, hay cầu phước lạc nhân thiên, mà chỉ cầu niệm chư Phật, cho nên tùy vào sự chú trọng của tâm mà cầu sinh về Tịnh độ. Nay những nơi vừa ý nhỏ nhặt mà không lìa bỏ được, huống gì là ngôi Chuyển luân Thánh vương. Như người bị cột chân lại muốn đi; cánh buộc lại muốn bay; đến đi đều bị ràng buộc, hai tâm, hư vinh.
Chỗ phồn hoa huyên náo nên tránh
Xa lánh chỗ cao lâu tửu điểm
Chỗ nóng bức thiêu đốt nên xa lìa
Xa lìa chỗ luạn bàn về chính sự và tự thân không chứng kiến.
Nên xa lìa chỗ ân ái buộc ràng và các nơi du lịch
Xa lìa các nơi thi đàn văn xả và đấu chương trích cú
Xa tránh chỗ cạnh tranh, chế nhạo các việc cổ kim
Nên xa lìa nơi giảng đạo không có nghĩa vị của đạo
Nên xa lìa những nơi khoe khoang tiểu trí, những nơi nghĩa giải, đấu tranh danh tướng.
Xa lìa những kẻ cuồng giải, bàn suông sự đốn ngộ, xem thường giới luật.
Vì những nơi đó như ma chướng làm não loạn đạo, nên phải xa lìa thì đạo nghiệp mới mong thành tựu.
9.Tịnh lữ: Tất cả căn cơ ngộ giải không phải bạn lữ thì không phát. Tất cả ác pháp không phải bạn hữu thì không dừng, như xe có hai bánh, bỏ một tất sẽ bị nghiêng đổ. Cho nên văn tự thế gian, các pháp hý luận, nũng cần phải có sự đồng tâm ấn chứng, huống gì là chí cầu đại đạo vô thượng.
Kinh Nhân Duyên nói: Ví như gió tánh tuy là không, tử rừng trầm, chiên-đàn thổi hương đưa đến mà gió có diệu hương. Nếu từ các mùi xứ uế mà đến, thì gió đó trở nên thúi; lại cũng như y sạch đem đặt vào hòm hương, thì y đó phát ra mùi hương. Nếu đặt vào chỗ xú uế, thì y sẽ bị hôi theo. Bạn lữ cũng vậy. Người hành đạo cầu bạn lữ, thì nên phân biệt kỹ về tịnh uế.
Là bạn chốn núi rừng khe suối nên gần, có thể giúp tâm bớt sự giao động.
Bạn nghiêm trì giới luật nên gần, xa lìa dục vọng.
Bạn trí tuệ rộng lớn nên gần, có thể giúp ta ra khỏi bờ mê.
Nên gần gũi bạn thông thái văn tự, có thể giải hết vấn nạn nghi ngờ của ta.
Bạn ở nơi chốn tịch mặc yên tĩnh, ta nên gần gũi để giúp cho Sự tiến thủ của mình.
Nên gần gũi người bạn khiêm cung nhẫn nhục, làm tiêu bớt ngã mạn cho ta.
Nên gần gũi người bạn trực tâm chí thành, có thể ngăn sự lầm lỗi của ta.
Nên gần gũi ngừơi bạn dõng mãnh tinh tấn, có thể mau thành đạo quả cho ta.
Nên gần gũi người bạn khinh tài ưa bố thí, phá hết sự keo sẻn của ta.
Gần gũi bạn nhân từ, che chở loài vật, không tiếc thân mạng, có thể giúp ta phá trừ ngã chấp.
Nếu không có bạn lữ thanh tịnh như vậy, thì ta nên tìm ở riêng một chỗ, tự tham cứu đạo nghiệp, lấy tượng Phật làm thầy, kinh luận làm