Nếu Sa-di bị Hòa Thượng, A-xà-lê khiển trách thì Tỳ-kheo không được dụ dỗ gọi về cùng ở chung, nói rằng: "Ta sẽ cho ngươi y bát, thuốc men, sẽ dạy kinh cho ngươi".
[369a] Nếu biết Sa-di ấy nhân việc đó sẽ hoàn tục thì có thể nhỏ nhẹ dỗ dành, rồi nói với ông Ta: "Ân đức của Hòa thượng, A-xà-lê rất nặng, khó mà báo đáp. Ngươi nên trở về sống thân cận với ngài".
Nếu (Sa-di) bị đuổi mà tưởng không bị đuổi (rồi đem về nuôi), thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Nếu không bị đuổi mà tưởng bị đuổi (rồi đem về nuôi), thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Nếu bị đuổi và tưởng là bị đuổi (mà đem về nuôi), thì phạm Ba-dạ-đề.
Nếu không bị đuổi và tưởng không bị đuổi (mà đem về nuôi), thì không có tội.
Thế nên nói (như trên).
47. GIỚI: MẶC Y KHÔNG HOẠI SẮC.
Khi Phật trú tại thành Vương Xá, nói rộng như trên. Bấy giờ, các Tỳ-kheo mặc y không được cắt các tua vải, ngoại đạo cũng mặc y không cắt sạch các tua vải. Thế rồi, Ưu-bà-tắc muốn đảnh lễ Tỳ-kheo mà đảnh lễ nhằm ngoại đạo, khi nghe chú nguyện rồi mới biết là ngoại đạo, nên trong lòng Ưu-bà-tắc cảm thấy hổ thẹn. Ðồng thời, đệ tử của ngoại đạo muốn đảnh lễ ngoại đạo mà đảnh lễ nhằm Tỳ-kheo , khi nghe chú nguyện mới biết là Tỳ-kheo , nên đệ tử của ngoại đạo cảm thấy hổ thẹn trong lòng.
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay về sau nên may y khác nhau, cắt sạch các tua vải và nhuộm cho hoại".
Tỳ-kheo liền cắt sạch các tua vải và nhuộm thành màu sắc khác. Khi ấy, ngoại đạo dùng đá đỏ nhuộm y thành màu đỏ Lưu-châu-la, cầm gậy có ba khấc để cho khác.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỳ-kheo ở nơi hoang dã lượm được y Kiều-xá-da, nấu nước nhuộm định nhuộm, thì Thế Tôn đang dùng thần túc đi trên không đến chỗ Tỳ-kheo , Ngài biết nhưng vẫn hỏi Tỳ-kheo : "Ông định làm gì đấy?"
- Nấu nước nhuộm định nhuộm y Kiều-xá-da.
- Y Kiều-xá-da mỏng manh nếu nhuộm bằng nước nhuộm thô kệch như thế sẽ làm hại y. Từ nay về sau, y Kiều-xá-da nên tác tịnh (làm dấu cho hợp lệ) bằng hai cách: cắt (một miếng) may lên tác tịnh và làm cho xanh tác tịnh.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tỳ-kheo ở Tỳ-xá-ly được một chiếc y Khâm-bà-la mềm mại, thầy bèn nấu nước nhuộm định nhuộm, thì gặp lúc Phật dùng thần túc đi tới chỗ Thầy. Phật biết nhưng vẫn hỏi: "Này Tỳ-kheo , ông làm gì đấy?".
- Nấu nước nhuộm để nhuộm y Khâm-bà-la.
- Y Khâm-bà-la mềm mại mỏng manh mà nhuộm thuốc nhuộm thô kệch thế này sẽ làm rách y mất. Từ nay về sau, Ta cho phép, y Khâm-bà-la tác tịnh bằng hai cách: cắt sạch các tua vải và làm cho xanh.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, tôn giả Tôn Ðà-la-nan-đà là con trai
bà dì của Phật, do Ðại Aí-đạo sinh, có ba mươi tướng, với tướng bạch hào, và tướng trái tai thòng xuống. Sau khi thầy khất thực xong, từ trong thành Xá-vệ đi ra [369b], thì lúc ấy có tôn giả A-nan đi sau; đồng thời các Tỳ-kheo cũng vừa ăn xong, đang ngồi thiền hoặc đi kinh hành trước cổng tinh xá Kỳ Hoàn. Từ xa trông thấy họ tưởng là Thế Tôn, liền cùng nhau đứng dậy chắp tay, nói: "Thế Tôn đến, Thế Tôn đến". Tôn Ðà-la-nan-đà cũng xoa tay chắp tay nói: "Các trưởng lão, tôi là Tôn Ðà-la-nan-đà , tôi là Tôn Ðà-la-nan-đà ".
Các Tỳ-kheo nghe nói thế, ai nấy đều cảm thấy mắc cỡ, bèn đem sự kiện ấy đến bạch Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay về sau phải làm một dấu chấm trên y hoại sắc". Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỳ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỳ-kheo , dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
- Nếu Tỳ-kheo được y mới phải dùng ba thứ làm hoại sắc, hoặc dùng một thứ làm hoại sắc (các y ấy), đó là: màu xanh, màu đen và màu mộc lan. Nếu không dùng ba thứ ấy làm hoại sắc các y mà đem mặc thì phạm Ba-dạ-đề.
Giải thích:
Tỳ-kheo : Như trên đã nói.
Ðược: Ðược từ người nam, người nữ, tại gia, xuất gia.
Y mới: Khi vừa mới may xong, như y Khâm-bà-la, y điệp, y Sô-ma, y Kiều-xá-da, y Xá-na, y Gai, y Khu-mâu-đề.
Ba thứ hoại sắc, hoặc mỗi một thứ hoại sắc: Ðó là màu xanh, màu đen, màu mộc lan.
Màu xanh: Ðó là màu xanh đồng, màu xanh trưởng dưỡng và màu xanh đá.
- Mầu xanh đồng: Ðem đồ đựng bằng đồng để lên trên rượu đắng (làm cho đồng sanh ten) rồi lấy ten ấy, đó gọi là màu xanh đồng.
- Màu xanh trưởng dưỡng: Tức màu xanh của bã chàm, hay màu xanh lam.
- Màu xanh đá: Tức màu xanh da trời.
Nói chung đem các màu kể trên điểm tịnh (làm dấu cho hợp lệ) trên y.
Màu đen: Gồm hai loại: Danh-tự-nê và bất danh-tự-nê.
- Danh-tự-nê: (Dùng bột của các loại) a-lê-lặc, tỳ-ê-lặc, a-ma-lặc đổ chung vào một cái tô; đó gọi là danh-tự-nê.
- Bất danh-tự-nê: Ðó là bùn thật, bùn dưới hồ, bùn dưới giếng, nói chung các loại bùn như vậy.
Màu mộc lan: Hoặc dùng a-lê-lặc, tỳ-ê-lặc, a-ma-lặc mài trên sắt, đem điểm tịnh; đó gọi là màu mộc lan.
Tỳ-kheo được y mới không tác tịnh (hay điểm tịnh) mà đem mặc, thì phạm Ba-dạ-đề.
Ba-dạ-đề: Như trên đã nói.
Nếu được y Tăng-già-lê mới, tác tịnh thì tốt, không tác tịnh thì phạm Ba-dạ-đề. Cũng vậy, khi được Uất-đa-la-tăng, An-đà-hội, y tắm mưa, y che ghẻ, tọa cụ (tấm trải ngồi) đem tác tịnh thì tốt, nếu không tác tịnh thì phạm Ba-dạ-đề.
Y Khâm-bà-la tác tịnh bằng hai cách: cắt may "tịnh"và điểm tịnh màu xanh. Khi cắt may tịnh mà không điểm tịnh màu xanh thì phạm Ba-dạ-đề.
Nếu điểm tịnh màu xanh mà không cắt sạch các tua vải, thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Nếu không điểm tịnh màu xanh, cũng không cắt sạch các tua vải, thì phạm một tội Ba-dạ-đề, một tội Việt-tỳ-ni.
[369c] Vừa tác tịnh bằng cắt sạch các tua vải, vừa tác tịnh bằng màu xanh thì không có tội.
Y nhiều lớp phải tác tịnh bằng ba cách: tác tịnh bằng cắt may, tác tịnh bằng nhuộm và tác tịnh bằng màu xanh. Nếu tác tịnh bằng cắt may, tác tịnh bằng nhuộm mà không tác tịnh màu xanh, thì phạm một tội Ba-dạ-đề.
Nếu tác tịnh màu xanh mà không tác tịnh bằng cắt may, không tác tịnh bằng nhuộm, thì phạm hai tội Việt-tỳ-ni
Không tác tịnh bằng cắt sạch các tua vải, không tác tịnh bằng nhuộm, không tác tịnh bằng màu xanh, thì phạm một tội Ba-dạ-đề, hai tội Việt-tỳ-ni. Nếu tác tịnh bằng ba cách trên thì không có tội.
Y sô-ma tác tịnh ba cách giống như y nhiều lớp; y Kiều-xá-da tác tịnh hai cách như y Khâm-bà-la; y Xá-na, y ma, y Khu-mâu-đề tác tịnh bằng ba cách giống như y nhiều lớp, đó là tác tịnh màu xanh, màu đen và màu mộc lan cũng lại như vậy.
Khi tác tịnh không được lớn, không được nhỏ, lớn tối đa bằng bốn ngón tay, nhỏ tối thiểu bằng hạt đậu. Hoặc dùng a-lê-lặc, tỳ-ê-lặc, a-ma-lặc để trên sắt ép lấy nước rồi tác tịnh; không được làm thành số chẵn, (mà làm thành số lẻ) hoặc một, hoặc ba, hoặc năm, hoặc bảy, hoặc chín; không được tác tịnh như hình đóa hoa. Nếu khi giặt, vá mà có bùn rơi lên trên, hoặc có dấu chân đất của chim, quạ dẫm lên trên, thì cũng được xem là đã tác tịnh.
Nếu được nhiều phẩm vật tạp nhạp rồi đem để đống một chỗ, thì chỉ cần tác tịnh một chỗ. Nếu đổ thành nhiều đống thì mỗi đống đều tác tịnh.
Nếu may Tăng-già-lê mới thì phải tác tịnh tại một góc. Nếu chắp thêm nửa điều hoặc một điều cũng phải tác tịnh.