Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 2

Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 2

Tác giả: Hán dịch: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Dịch giả: Thích Phước Sơn. Hiệu đính Hán Văn: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 446.

Chương 86: 80. Giới: Đi Phi Thời Không Báo Người Khác (Trang 413 - 417)

trước hết sai hai Tỳ-kheo tắm rửa sạch sẽ, khoác y Tăng-già-lê, buộc lại chặc chẽ, bạch lẫn nhau, rồi khiến họ vào thôn xóm xin chỗ ngủ tạm. Nếu xin được chỗ ngủ thì phải xin đàn việt cung cấp những thứ cần thiết, rồi trở ra khỏi xóm làng, nói với các Tỳ-kheo rằng: "Ðã xin được chỗ ngủ". 
Bấy giờ, các Tỳ-kheo nên rửa tay chân sạch sẽ, nếu cần uống thức uống phi thời thì nên uống ngay khi ấy, đừng để vào xóm làng mới uống mà bị người ta chê trách là Sa-môn ăn đêm. Ðoạn, phân công mang vác các túi xách, mặc y Tăng-già-lê, buộc lại chặc chẽ, cầm tích trượng, mang giày dép, bạch hỏi nhau rồi mới vào xóm làng. Khi đã đến chỗ dừng nghỉ, mà muốn đi ra khỏi xóm làng lấy củi, cỏ, nước, thì nên theo con đường cũ mà ra, không có tội. Nếu muốn đi con đường khác thì phải bạch, (389c) nếu không bạch mà đi, thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu muốn đi tìm dầu xoa chân, nước uống phi thời, đi khuyến hóa thức ăn sáng hôm sau, thì phải bạch rồi mới đi. Nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nhưng nếu trong xóm làng có Tăng-già-lam, trên đường có nhà cửa liên tiếp nhau, thì đi (mà không bạch) không có tội. Nếu đi con đường khác thì phải bạch, nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba-dạ-đề. Thế nên nói:
"Chưa đủ, đi với cướp, 
Ðào đất, bốn tháng mời. 
Chưa học và uống rượu. 
Khinh người, đứng rình nghe. 
Bỏ đi, phi thời vào. 
Bạt cừ thứ tám xong".
80. GIỚI: ÐI PHI THỜI, KHÔNG BÁO NGƯỜI KHÁC. 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, Tôn giả Ưu-ba-nan-đà sáng sớm thức dậy, khoác y đi vào xóm làng, tới nhà đàn việt, nói với Ưu-bà-di: 
"Những kẻ phàm phu khi mệnh chung phần nhiều bị đọa vào đường ác, bà nên nghe tôi thuyết pháp". 
Lúc ấy, Ưu-bà-di đang sắp đặt việc nhà, bận bịu nhiều việc không rảnh để nghe thuyết pháp, nên cự nự với Tỳ-kheo: "Thôi đi! Thầy đừng lo về những người phàm phu khi chết bị rơi vào đường ác mà hãy lo phần thầy, đừng lo việc của người khác". Sau khi ăn xong, thầy bèn sai đệ tử chuẩn bị y bát rồi trở lại nhà ấy, nói như trước: "Này Ưu-bà-di, kẻ phàm phu khi chết sẽ rơi vào đường ác; bà nên nghe tôi thuyết pháp". 
Khi ấy, Ưu-bà-di vừa lo cho chồng con ăn xong, đang dùng cơm, không rảnh để nghe pháp, nên cự nự với Tỳ-kheo: "Thôi đi! Ðừng lo về những người phàm phu sau khi chết rơi vào đường ác mà hãy tự lo việc của thầy, chớ lo việc của người khác". Các Tỳ-kheo nghe được, bèn đem việc đó bạch lên Thế Tôn. Phật liền bảo gọi Ưu-ba-nan-đà đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi lại sự việc kể trên:
- Ông có làm như vậy thật chăng?
- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn 
- Này Tỳ-kheo, vậy thì sau khi ăn xong, ông đi làm việc gì?
- Có nhiều việc lắm, bạch Thế Tôn. Con muốn làm thầy thuốc để trị liệu các chứng bệnh.
- Vì sao trước bữa ăn, sau bữa ăn, ông không bạch với những Tỳ-kheo cùng ăn với mình mà đi đến nhà dân? Từ nay về sau, Ta không cho phép Tỳ-kheo trước bữa ăn, sau bữa ăn không bạch với Tỳ-kheo cùng ăn với mình mà đi đến nhà dân. 
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ Phật bảo A-nan: "Ông báo tin cho các Tỳ-kheo biết rằng an cư xong, các đàn việt sẽ cúng dường y an cư". A-nan liền thông báo với các Tỳ-kheo. 
Các Tỳ-kheo nói: "Ðức Thế Tôn chế giới không cho phép Tỳ-kheo trước hay sau bữa ăn không bạch với Tỳ-kheo cùng ăn với mình mà ði ðến nhà dân. Tôi cùng các vị ðồng phạm hạnh cùng ãn, cùng sống bên nhau, vì tôn kính nhau nên không dám thường bạch". (390a) A-nan bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta cho phép trong lúc sắm y (khỏi bạch)". Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỳ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỳ-kheo, dù ai nghe rồi, cũng phải nghe lại:
 "Nếu Tỳ-kheo cùng ăn một chỗ mà trước khi ăn, sau khi ăn không bạch với Tỳ-kheo khác, đi đến nhà người khác - ngoại trừ trường hợp đặc biệt - thì phạm tội Ba-dạ-đề. Trừ trường hợp đặc biệt tức là khi sắm y, đó gọi là trường hợp đặc biệt".
Giải thích:
Cùng ăn: Hoặc dùng bốn thăng gạo nấu cơm, hoặc tám thăng gạo rang, hoặc một đấu hai thăng cơm lúa mạch, hoặc nửa bát, một bát cá thịt. Ðó gọi là cùng ăn.
Trước khi ăn: Lúc chưa ăn.
Sau khi ăn: Khi ăn xong, dù trời còn sớm vẫn gọi là sau khi ăn.
Ði đến nhà người khác: như nhà của Sát-lợi, nhà Bà-la-môn, nhà Tỳ-xá, nhà Thủ đà la.
Bạch: Nếu bạch vào xóm làng lúc phi thời, bạch đến tinh xá Tỳ-kheo-ni, bạch rời chỗ thuyết pháp, thì không được gọi là bạch. Mà phải bạch rằng: "Xin trưởng lão nhớ cho, con là mỗ gấp rời chỗ cùng ăn, đi đến nhà khác". Người kia đáp: "Vâng".
Ngoại trừ trường hợp đặc biệt: Tức lúc mà Thế Tôn bảo là không có tội.
Trường hợp đặc biệt: Thời gian sắm y. Thời gian này, nếu không thọ y Ca thi na thì một tháng, nếu có thọ y Ca thi na, thì năm tháng. Trong thời gian của y này được miễn trừ năm việc: 1/ Ðược ăn biệt chúng; 2/ Ðược ăn nhiều chỗ; 3/ Rời trú xứ không cần bạch với người khác; 4/ Ðược cất y dư lâu ngày; 5/ Ðược rời y ngủ chỗ khác mà không có tội.
Ba-dạ-đề: Như trên đã nói.
Nếu Tỳ-kheo rời chỗ cùng ăn với người khác để đi đến nhà khác thì phải bạch rồi mới đi, nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu ăn ở chỗ khác mà có năm thức ăn chính và năm thức ăn phụ thì phạm hai tội Ba-dạ-đề. Nhưng nếu gặp hai trường hợp bố thí bữa ăn, thời gian sắm y, thì không bạch với người cùng ăn, đi ăn chỗ khác không có tội.
Nếu trú xứ của Tỳ-kheo không nấu ăn, mà có người mời ăn, thì nơi đây được gọi là cùng ăn (đồng thực). Nếu từ đây muốn đi đến chỗ khác, thì phải bạch rồi đi, nếu không bạch mà đi, thì như trên đã nói.
Nếu Tỳ-kheo đã nhận lời mời của thí chủ trong xóm làng, thì nơi đó được gọi là cùng ăn. Nếu ở tại đây thấy thời gian còn sớm muốn đi một lát rồi trở lại thì phải bạch rồi đi; nếu không bạch mà đi thì như trên đã nói.
Nếu trong xóm làng có đàn việt mời Tăng thọ trai, rồi một Tỳ-kheo đi ngang qua nhà ấy, đàn việt bèn mời: "Thưa tôn giả,
hôm nay nhà con cúng dường trai phạn cho chúng Tăng, xin mời tôn giả ở lại thọ trai luôn". Nếu Tỳ-kheo này nhận lời mời tức là cùng ăn. Nếu thấy thì giờ còn sớm, muốn đi nơi khác thì phải bạch rồi mới đi. Nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ngoài ra như trên đã nói.Nếu đàn việt mời chúng Tăng thọ trai rồi Tỳ-kheo khất thực đi ngang qua nhà ấy, đàn việt liền mời: "Hôm nay con mời chúng Tăng thọ trai, xin Tôn giả nhận con mời luôn thể". Nếu Tỳ-kheo nhận (390b) lời mời, thì nơi đây tức là chỗ cùng ăn. Nếu bỗng chốc, Tỳ-kheo suy nghĩ: "Tâm bố thí của đàn việt này rất trọng hậu, ta không thể tiêu hóa nổi bữa bố thí này, chi bằng ta đi khất thực chỗ khác để tạm nuôi thân", rồi bỏ đi, thì phải bạch; nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba-dạ-đề. Ngoài ra, như trên đã nói.
Nếu hai Tỳ-kheo đến chỗ mời ăn, cùng đi trên đường tới xóm làng, rồi bàn nhau: "Hôm nay, trước hết chúng ta hãy ăn trước tại một nhà, rồi sau đó lần lượt ăn tại nhà khác", thì sau khi ăn xong,Tỳ-kheo nào muốn tới nhà thí chủ phải bạch với người ia rồi mới được đi. Nếu không bạch mà đi thì phạm tội Ba-dạ-đề. Nếu đến nhà ấy gặp năm thức ăn chính và năm thức ăn phụ, thì phạm hai tội Ba-dạ-đề. Nhưng nếu gặp dịp bố thí thức ăn và dịp sắm y, thì khi đi không bạch với người kia, không có tội. Người thứ hai kia cũng vậy. 
Nếu Tỳ-kheo đi khất thực tại một nhà được một thăng, hai thăng, cho đến một hộc, thì nhận lấy không có tội. Nếu một nhà mà được bốn thăng gạo tẻ, hoặc tám thăng gạo rang, một, hai thăng gạo lúa mạch, hoặc nửa bát, một bát cá thịt, thì không được đi xin thêm chỗ khác nữa. Ở đây, thế nào là phạm, thế nào là không phạm? Nghĩa là tất cả các thứ cháo, trừ cháo cá thịt, khi múc ra khỏi nồi, viết trên mặt không thành chữ (tức cháo lỏng); tất cả bánh; tất cả gạo rang; tất cả trái cây (đều không được kể là) ăn biệt chúng, hay ăn rồi ăn lại, ăn no rồi ăn nữa. Thế nên nói (như trên).
/95
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »