Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 3

Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 3

Tác giả: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Dịch giả: Thích Phước Sơn. Hiệu đính Hán Văn: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 551.

Chương 21: Pháp Xuất Tội (Trang 260 - 268)

Tỳ-kheo hành Ma-na-đỏa (433c) phải tùy thuận chấp hành 7 việc như trên đã nói. Ðó gọi là Ma-na-đỏa. Tỳ-kheo phải tùy thuận chấp hành, nếu không chấp hành thì gọi là không tùy thuận hành. 
PHÁP XUẤT TỘI. 
Có trường hợp không nên cho xuất tội, có trường hợp nên cho xuất tội. 
Trường hợp không nên cho: 
- Không có tội thì không nên cho; che giấu, chưa cho pháp Biệt trụ thì không nên cho; hành Ma-na-đỏa chưa xong thì không nên cho; chưa hành Ma-na-đỏa thì không nên cho; vừa che giấu, vừa không che giấu thì không nên cho; tội chưa quyết định, che giấu không quyết định, đêm không quyết định, biệt trụ không quyết định, Ma-na-đỏa không quyết định, đương sự không yêu cầu, không đòi hỏi, thì không nên cho xuất tội. 
Trường hợp nên cho: 
- Có tội thì nên cho; che giấu tội thì nên cho hành biệt trú, và khi hành Ma-na-đỏa xong thì nên cho; không che giấu, hành Ma-na-đỏa xong, thì nên cho; tội quyết định, che giấu quyết định, đêm quyết định, biệt trú quyết định, Ma-na-đỏa quyết định và đương sự có yêu cầu, thì nên cho xuất tội. 
Cho xuất tội đúng pháp, cho xuất tội không đúng pháp. 
Cho xuất tội không đúng pháp: 
Không có tội, không nên cho, cho đến chúng không thành tựu, bạch không thành tựu, Yết-ma không thành 
tựu. Nếu mỗi một thứ không thành tựu thì đó gọi là cho xuất tội không đúng pháp. 
Cho xuất tội đúng pháp: 
- Có tội, trường hợp nên cho, cho đến chúng thành tựu, bạch thành tựu, Yết-ma thành tựu. Nếu mỗi mỗi việc đều thành tựu thì đó gọi là cho xuất tội đúng pháp. 
Trường hợp cùng che giấu: 
- Tỳ-kheo vào ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu, cũng thế, đến ngày Mồng hai, Mồng ba cho đến Mồng mười, tất cả đều biết là có tội, rồi cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Ðó là mười tội. Tất cả các tội ấy đều có cùng một đêm che giấu, nên làm mười lần Yết-ma Biệt trụ, mười lần xuất tội; nhưng cũng được làm một lần Yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó gọi là cùng chung che giấu. 
Lại có trường hợp cùng chung che giấu: 
Tỳ-kheo, ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội mà không cố tâm che giấu, cũng thế, ngày Mồng hai phạm hai tội, ngày Mồng ba phạm ba tội, cho đến ngày Mồng Mười phạm mười tội Tăng-già-ba-thi-sa. Tất cả đều biết là phạm tội và đều cố tâm che giấu tất cả cho đến rạng đông hôm sau. Ðó gọi là 55 tội Tăng-già-ba-thi-sa. Tất cả đều có một đêm che giấu, nên làm 55 lần Yết-ma biệt trụ, 55 lần Ma-na-đỏa, 55 lần xuất tội; nhưng cũng được làm một lần Yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó gọi là cùng chung che giấu. 
Lại có trường hợp cùng chung che giấu: 
- Tỳ-kheo ngày Mồng một trong tháng phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, không biết [434a] là phạm tội, cũng thế, ngày Mồng hai, ngày Mồng ba cho đến ngày Mồng mười, tất cả đều biết là phạm tội, và cố tâm che giấu tất cả đến rạng đông hôm sau. Ðó là mười tội cùng chung một đêm che giấu, cho đến... cũng được làm Yết-ma Biệt trụ một lần, Ma-na-đỏa một lần, xuất tội một lần. Ðó gọi là cùng chung che giấu. 
Lại có trường hợp cùng chung che giấu: 
Tỳ-kheo ngày mồng một trong tháng, phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, không biết là phạm tội, không có tâm che giấu, cho đến ngày mồng mười phạm mười tội Tăng-già-ba-thi-sa, tất cả đều biết là phạm tội, cố tâm che giấu cho đến rạng đông hôm sau. Trong 55 tội ấy đều có cùng một đêm che giấu, cho đến... cũng có thể làm Yết-ma Biệt trụ một lần, Ma-na-đỏa một lần, xuất tội một lần. Ðó gọi là cùng chung che giấu. 
Trường hợp che giấu sai khác: 
- Tỳ-kheo vào ngày mồng một trong tháng phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, tới ngày thứ hai đến nói với người khác, rồi lại phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa, cho đến ngày thứ mười tới nói với người khác rồi lại phạm tội và biết là phạm tội, nhưng cố tâm che giấu cho đến ngày 11 mới nói với người khác. Như vậy, trong mười tội Tăng-già-ba-thi-sa ấy tất cả đều có một đêm che giấu sai khác, nên làm mười lần Yết-ma Biệt trụ, mười lần Ma-na-đỏa, mười lần xuất tội; nhưng
cũng có thể làm một lần Yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó gọi là che giấu sai khác. 
Lại có trường hợp che giấu sai khác: Tỳ-kheo vào ngày mồng một trong tháng phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, đến ngày mồng hai nói với người khác, rồi lại phạm tội như vậy, cho đến ngày mười phạm mười tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, đến ngày 11 tới nói với người khác. Trong 55 tội Tăng-già-ba-thi-sa này tất cả đều có một đêm che giấu sai khác, nên làm 55 lần Yết-ma Biệt trụ, 55 lần Ma-na-đỏa, 55 lần xuất tội; nhưng cũng có thể làm một lần Yết-ma Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó gọi là trường hợp che giấu sai khác. 
Trường hợp che giấu vô lượng: 
Hoặc nhớ tội, không nhớ số đêm; hoặc nhớ số đêm, không nhớ tội; hoặc vừa nhớ tội, vừa nhớ số đêm; hoặc không nhớ tội cũng không nhớ số đêm. 
1/ Nhớ tội, không nhớ số đêm: Nhớ biết có phạm tội nhiều hay ít, nhưng không nhớ là mấy đêm. 
2/ Nhớ số đêm, không nhớ tội: Nhớ biết bao nhiêu đêm, nhưng không nhớ tội nhiều hay ít. 
3/ Vừa nhớ tội, vừa nhớ số đêm: Nhớ biết số tội nhiều hay ít, đồng thời cũng nhớ bao nhiêu đêm. 
4/ Không nhớ tội, cũng không nhớ số đêm: Không nhớ phạm tội nhiều hay ít, cũng không nhớ là bao nhiêu đêm. 
Trong trường hợp nhớ tội mà không nhớ số đêm này, nên hỏi:
- Ông phạm tội khi nào, (434b) từ lúc chưa có tuổi (hạ) phải không? 
Nếu đương sự im lặng, thì tùy theo năm (thọ giới) mà cho pháp Biệt trụ. 
- Nếu đáp: "Không phải vậy", thì hỏi tiếp: "Một tuổi chăng? Hai tuổi chăng? Năm tuổi chăng?". Nên tùy theo họ im lặng ở khoảng nào mà cho pháp Biệt trụ ở khoảng đó. Ðó là trường hợp nhớ tội mà không nhớ số đêm. 
Trong trường hợp nhớ số đêm mà không nhớ tội thì tùy theo đêm nhiều ít mà cho pháp Biệt trụ vô lượng tội. Ðó gọi là nhớ đêm mà không nhớ tội. 
Trong trường hợp vừa nhớ tội vừa nhớ đêm thì khi đã nhớ tội nhiều hay ít, tùy theo nhớ đêm bao nhiêu mà cho pháp Biệt trụ. Ðó gọi là vừa nhớ tội, vừa nhớ đêm. 
Trong trường hợp không nhớ tội cũng không nhớ đêm, thì nên hỏi: "Ông phạm tội khi chưa có tuổi (hạ) phải không?". 
Nếu im lặng, thì tùy theo số năm mà cho pháp Biệt trụ vô lượng tội. 
Nếu đáp: "Không phải vậy", thì hỏi tiếp: "Từ lúc chưa có tuổi hạ phải không? hay một tuổi, hai, ba, bốn, năm tuổi?". 
Tùy theo họ im lặng ở chỗ nào thì cho pháp Biệt trụ vô lượng tội ở chỗ đó. Ðó gọi là che giấu vô lượng. 
Cùng chung che giấu, che giấu sai khác, che giấu vô lượng, ba loại này đều gọi là che giấu. 
Che giấu riêng: 
Tỳ-kheo ngày mồng một trong tháng phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác, ngày thứ hai lại phạm, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác, cho đến ngày thứ mười lại phạm, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác. Mười tội này mỗi tội đều che giấu riêng, nhưng tội cuối cùng chỷ có một đêm che giấu, như vậy hai đêm, ba đêm tính ngược lên đến tội đầu tiên thành mười đêm che giấu, do vậy nên làm mười pháp Yết-ma Biệt trụ, mười Ma-na-đỏa, mười lần xuất tội; nhưng cũng có thể làm một lần Biệt trụ, một lần Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. 
Lại có trường hợp che giấu riêng: Tỳ-kheo ngày mồng một trong tháng phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác, cho đến ngày thứ mười phạm mười tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không nói với người khác. Trong 55 tội này mỗi tội đều che giấu riêng, nhưng tội cuối cùng chỷ che giấu có một đêm, như vậy hai đêm, ba đêm, tính ngược lên đến tội đầu tiên thành ra 55 đêm che giấu, do đó, nên cho pháp Yết-ma Biệt trụ 55 đêm, 55 Ma-na-đỏa, 55 lần xuất tội; nhưng cũng có thể cho một pháp Biệt trụ, một Ma-na-đỏa, một lần xuất tội. Ðó gọi là che giấu riêng. 
Hai loại cùng che giấu, che giấu riêng này đều gọi là che giấu. 
Tỉ-xá-già-cước: 
Hoặc là tội dài không phải đêm dài; hoặc đêm dài
không phải tội dài; hoặc tội dài, đêm cũng dài; hoặc không phải tội dài cũng không phải đêm dài. 
1/ Có trường hợp tội dài, không phải đêm dài: Tỳ-kheo suốt ngày phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội, đến nói với người khác. Ðó gọi là tội dài, không phải đêm dài. 
2/ Có trường hợp đêm dài, (434c) không phải tội dài: Tỳ-kheo phạm một tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là phạm tội, cố tâm che giấu, không đến nói với người khác. Ðó gọi là đêm dài, không phải tội dài. 
3/ Có trường hợp tội dài, đêm cũng dài: Tỳ-kheo hằng ngày đều phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là có tội, nhưng che giấu một nửa, phát lồ một nửa. Đó gọi là tội dài, đêm cũng dài. 
4/ Có trường hợp không phải tội dài cũng không phải đêm dài: Tỳ-kheo phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa, biết là có tội, không cố tâm che giấu, đến nói với người khác, rồi không phạm nữa. Ðó gọi là không phải tội dài cũng không phải đêm dài. 
Ở đây hai trường hợp tội dài đêm không dài và tội dài đêm cũng dài thì khi hành Ba-lợi-bà-sa nên cho ăn ít mà bắt làm việc nhiều, nếu cố tình không chấm dứt, thì nên bảo tịnh nhân cột tay chân, đặt trên giường, rồi nói: "Nếu còn tái phạm thì Tăng sẽ trị tội ông nặng hơn nữa". Ðó gọi là Tỉ-xá-già-cước. 
Hoặc có trường hợp tội hợp, không phải đêm hợp; hoặc có trường hợp đêm hợp, không phải tội hợp; hoặc có
trường hợp tội hợp mà đêm cũng hợp; hoặc có trường hợp không phải tội hợp cũng không phải đêm hợp: 
1/ Tội hợp, không phải đêm hợp: Tỳ-kheo phạm mười tội Tăng-già-ba-thi-sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng gom lại làm Yết-ma cho một trăm đêm Biệt trụ. 
Tỳ-kheo liền thưa: "Thưa trưởng lão, tôi bị bệnh hoạn ốm yếu không thể kham nổi, có thể cho hành tóm lược pháp Ba-lợi-bà-sa được không?". Tăng nên nói: "Ðược", rồi làm Yết-ma gom một trăm đêm Biệt trụ thành mười đêm Biệt trụ. Ðó gọi là tội hợp, không phải đêm hợp. 
2/ Ðêm hợp, không phải tội hợp: Tỳ-kheo phạm mười tội Tăng-già-ba-thi-sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng gom lại cho mười đêm Biệt trụ. Tỳ-kheo bèn thưa: "Thưa trưởng lão, tôi thấy xấu hổ, muốn hành Ba-lợi bà-sa đầy đủ". Tăng nên nói: "Ðược". Ðó gọi là đêm hợp, không phải tội hợp. 
3/ Tội hợp, đêm cũng hợp: Tỳ-kheo phạm mười tội Tăng-già-ba-thi-sa, tất cả đều che giấu mười đêm. Tăng gom lại cho mười đêm Biệt trụ. Ðó gọi là tội hợp, đêm cũng hợp. 
4/ Không phải tội hợp, cũng không phải đêm hợp: (Như trường hợp trên) nhưng tất cả đều làm Yết-ma cho pháp ba-lợi-bà-sa riêng. Ðó gọi là không phải tội hợp, cũng không phải đêm hợp. 
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hết quyển thứ hai mươi lăm
/64
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »