8) Xuất khứ xả: Nếu suy nghĩ: "Khi nào ta rời khỏi đây thì sẽ xả y Ca-hi-na", thì khi ra đi tức là xả. Ðó gọi là xuất khứ xả.
9) Thời quá xả: (453b) Nếu tới ngày 15 tháng chạp mà không xả, để đến ngày 16 đương nhiên là xả, nhưng phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là thời quá xả.
10) Cứu cánh xả: Ðến ngày 15 tháng chạp đương nhiên phải xả. Một người nên xướng ở giữa Tăng như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Hôm nay Tăng xả y Ca-hi-na. (nói như vậy ba lần).
Ðó gọi là Cứu cánh xả.
Trên đây là 10 trường hợp xả y Ca-hi-na.
VẤN ÐỀ Y PHÁP.
Có các trường hợp sau đây:
- Trong lúc an cư chưa xong; Khi an cư xong; Trong lúc đang an cư; Vì sợ mất mạng; Vì sợ mất phạm hạnh; Y phi thời; Y đúng thời; Việc xảy ra ở Câu-thiểm-di.
1) Trong lúc an cư chưa xong.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo an cư trong thôn xóm chưa kết thúc mà đến nhà đàn việt, nói như sau:
- Này lão trượng! Hãy cúng dường y an cư cho tôi.
- Thưa tôn giả! Nay chưa đúng lúc, đợi khi an cư kết thúc, mùa màng thu hoạch xong, nhân dân hoan hỷ nghĩ nhớ công ơn, phát tâm bố thí, thì bấy giờ mới có thể bố thí được.
- Này lão trượng! Ông không biết rằng cuộc đời này vốn vô thường, hoặc bị nạn vua quan, nạn nước lửa, hoặc bị cướp bóc, lúc ấy tôi sẽ mất lợi mà ông cũng mất phước.
- Tôn giả chỉ cho tôi thấy lẽ vô thường mà không tự thấy chính mình. Tôn giả muốn được gấp phẩm vật an cư để đem đi nơi khác, hay là muốn thôi tu mà gấp gáp đến như vậy? Kỳ thay, quái gỡ, nhiều tham dục không biết chán.
Ông nói thế rồi, sinh tâm không hoan hỷ, bèn bỏ đi. Các Tỳ-kheo liền đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật bèn hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo:
- Các ông có việc đó thật không?
- Có thật như vậy. Bạch Thế Tôn!
- Này các Tỳ-kheo! Vì sao an cư chưa kết thúc mà các ông đòi cúng dường y an cư? Từ nay về sau, Ta không cho phép an cư chưa kết thúc mà đòi cúng dường y an cư. Nếu ai làm như vậy thì phạm tội Việt -tỳ-ni .
Ðó gọi là trường hợp an cư chưa xong.
2) Khi an cư xong.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, các Tỳ-kheo ở tinh xá Kỳ hoàn an cư xong bèn chia y An cư. Lúc ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo an cư tại chỗ khác xong, liền đến giữa Tăng chúng Kỳ hoàn, nói như sau: "Thưa trưởng lão, Đức Thế Tôn chế định khi an cư xong sẽ được phần y an cư. Tôi cũng đã an cư xong, đương nhiên phải được y an cư. Vậy hãy chia phần y an cư cho tôi".
Các Tỳ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
- An cư nơi khác thì đương nhiên không được phần y an cư nơi này. Tùy theo an cư nơi nào thì nhận phần nơi đó.
Ðó là trường hợp an cư xong.
3) Trong lúc đang an cư.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, nhóm sáu Tỳ-kheo đến ngày an cư, (453c) bèn nhận phòng xá, rồi đem giày da, dụng cụ để nhuộm và các vật linh tinh khác bỏ vào trong phòng, đoạn, nói như sau:
- Thưa các trưởng lão, tôi an cư nơi đây. Các vị chớ có chán ghét tôi. Tôi biết các vị thường không ưa tôi.
Thế rồi, họ thuê người nhận phần y an cư. Ðoạn, tìm nơi khác an cư.
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
- Hễ an cư ở nơi nào thì nhận phần y ở nơi đó.
4) Vì sợ mất mạng.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, tại Tỳ-xá-ly gặp nạn đói lớn, khất thực khó khăn. Các Tỳ-kheo bèn đi đến thành Xá-vệ, gặp lúc các Tỳ-kheo ở tinh xá Kỳ Hoàn vừa an cư xong, đang chia y. Các Tỳ-kheo ở Tỳ-xá-ly bèn vào tham dự. Các Tỳ-kheo ở Kỳ Hoàn hỏi:
- Thưa các Trưởng lão! Ðức Thế Tôn chế định hễ an cư ở nơi nào thì được nhận phần y ở nơi đó. Vậy các vị an cư ở đâu?
- Thưa trưởng lão! Chúng tôi sợ mất mạng nên mới đến đây. Nếu không đến đây thì e đói chết mất.
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
- Nếu vì sợ mất mạng mà đến thì nên chia phần y.
Ðó gọi là trường hợp sợ mất mạng.
5) Vì sợ mất phạm hạnh.
Bấy giờ, tại thành Vương Xá có một người con của ngoại đạo xuất gia. Khi ấy, cha mẹ muốn đến đem con về nhà thì những người khác nói:
- Sa-môn rất trọng việc an cư, trong lúc an cư ắt hẳn không gây trở ngại gì, bấy giờ hãy đem về.
Người chị vì thâm tín Phật pháp nên nói với em:
- Cha mẹ muốn đem em về nhà, vậy hãy nhanh chóng lánh đi nơi khác.
Người em bèn đi đến thành Xá-vệ, gặp lúc các Tỳ-kheo ở tinh xá Kỳ hoàn vừa an cư xong, đang chia y. Thầy Tỳ-kheo ấy bèn vào tham dự. Các Tỳ-kheo ở Kỳ Hoàn hỏi:
- Này Trưởng lão! Ðức Thế Tôn chế định hễ an cư ở nơi nào thì được nhận phần y ở nơi đó, (ngoại trừ trường hợp ở nơi khác) sợ bị mất mạng mà đến mới được chia phần. Còn thầy thì như thế nào?
- Vì cha mẹ muốn đem tôi về nhà, nếu tôi không đến đây thì sẽ mất phạm hạnh.
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
- Nếu vì sợ mất phạm hạnh mà đến thì nên cho phần y.
Ðó gọi là sợ mất phạm hạnh.
6) Y phi thời.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có Tỳ-kheo đi du hành trong nhân gian, chở đầy xe y đi đến. Phật biết mà vẫn hỏi:
- Này Tỳ-kheo! Y của ai thế?
- Bạch Thế Tôn! Ðó là y của con.
- Ðây là y đúng thời hay y phi thời?
- Bạch Thế Tôn! Ðây là y phi thời.
- Ðã tịnh thí chưa?
- Bạch, chưa.
- Tất cả các y đó nên cho chúng Tăng.
Ðó gọi là y phi thời.
7) Y đúng thời.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ có Tỳ-kheo đi du hành trong nhân gian, chở đầy xe y đi đến. Phật biết mà vẫn hỏi:
- Này Tỳ-kheo! Ðó là y của ai vậy?
- (454a) Bạch Thế Tôn! Ðó là y của con.
- Ðây là y đúng thời hay y phi thời?
- Ðây là y đúng thời.
- Y này nhiều quá, đem cho Tăng bớt một nửa.
Ðó gọi là y đúng thời.
8) Việc xảy ra tại Câu-thiểm-di.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Lúc ấy, quân của nước Câu-tát-la cướp lấy xóm làng câu-thiểm-di, rồi kéo về thành Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo ở tinh xá Kỳ Hoàn (thuộc Xá-vệ) đến xóm làng này đòi y cúng dường an cư. Các Tỳ-kheo ở Câu-thiểm-di trước đó đã an cư tại xóm làng này, bèn nói:
- Này trưởng lão! Trước đây tôi nương nơi xóm làng này mà an cư, lẽ ra tôi phải đòi trước.
Thế là hai người cãi nhau, rồi cùng kéo đến chỗ Phật, đem sự việc trên trình bày đầy đủ với Thế Tôn. Phật liền dạy:
- Ai an cư tại đó thì được quyền đòi trước, rồi mới đến người khác. Nếu hai người cùng đòi thì nên cùng chia đều. Nếu Tỳ-kheo an cư tại đó chưa đòi mà người khác đòi, thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Lại nữa, lúc bấy giờ có hai đệ tử đồng hành của Tôn giả Kiếp-tân-na nhân vì có việc bất bình nên xả giới, nhưng không hủy hoại phạm hạnh, rồi sau đó thọ Cụ túc trở lại. Khi ấy, các Tỳ-kheo ở Kỳ hoàn an cư xong, chia y mà không chia cho họ, nên họ nói:
- Thưa trưởng lão! Vì có việc bất bình nên tôi xả giới, nhưng không hủy hoại phạm hạnh, rồi thọ Cụ túc trở lại. Vậy nên chia phần cho chúng tôi.
Thế rồi họ cùng đi đến, bạch với Phật. Phật dạy:
- Nếu người nào có việc bất bình mà xả giới, nhưng không hủy hoại phạm hạnh, rồi thọ Cụ túc trở lại, thì nên chia phần đồng đều. Thế nhưng, có 5 trường hợp không nên cho. Ðó là:
1) Bị cử; 4)Phá an cư;
2)Thôi tu; 5)Ði không dặn lại.
3) Qua đời;
1) Bị cử: Phạm một trong ba kiến giải, hủy báng Kinh điển, tà kiến, biên kiến, được khuyên can mà không bỏ lỗi, bị làm Yết-ma cử tội. Ðó gọi là bị cử.
2) Thôi tu: Người nào xả giới thì không nên cho. Nhưng nếu họ dựa thế lực của nhà vua, đại thần hay đảng cướp, nói như sau:
- Nếu Sa-môn không chia phần cho tôi, thì tôi sẽ gây ra chuyện rắc rối.
Với hạng người như thế tuy không đáng cho ta cũng nên cho. Ðó gọi là người thôi tu.
3) Qua đời: Người chết thì đương nhiên không được chia phần. Tuy nhiên, khi y an cư đã tập trung chưa chia, mà có người sắp mệnh chung rồi căn dặn đem phần mình cho người nào đó, thì khi người ấy qua đời, nên đem cho người đó. Ðó gọi là qua đời (vô thường).
4) Phá an cư: Tỳ-kheo không tiền an cư, không hậu an cư đương nhiên không được chia phần. Nhưng nếu họ dựa thế lực của nhà vua, đại thần hay bọn giặc mà nói rằng: "Nếu không cho tôi, tôi sẽ gây ra chuyện rắc rối", thì hạng người như vậy tuy không đáng cho, cũng nên cho. Ðó gọi là phá an cư.