Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 3

Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 3

Tác giả: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Dịch giả: Thích Phước Sơn. Hiệu đính Hán Văn: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 551.

Chương 39: Phép Bồ-Tát (Trang 345 - 371)

Lại làm nhiễu loạn người ta. các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Từ nay về sau chào hỏi có ba cách: 
Dùng thân, miệng và tâm. Dùng thân nghĩa là khi đương sự đang ngồi hay đứng, mình cúi đầu đảnh lễ dưới chân. Ðó gọi là dùng thân. 
Dùng miệng nghĩa là khi đương sự ở từ xa, mình chắp tay, cúi đầu nói: "Xin chào ngài". (446c) Ðó gọi là dùng miệng. 
Dùng tâm nghĩa là khi đương sự quay lưng đi, mình chắp tay tỏ thái độ cung kính. Ðó gọi là dùng tâm bày tỏ sự cung kính. 
Nếu thấy Thượng Tọa đến mà không đứng dậy đón rước chào hỏi cung kính, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là phép tôn kính Thượng tọa. 
Kệ tóm tắt: 
"Cử tội và trị tội,  
Ðuổi đi cùng Biệt trụ.  
Người xử đoán, ruộng đất,  
Làm phòng, cho năm năm.  
Giường nệm, phép cung kính,  
Ðó là phẩm thứ ba". 
PHÉP BỐ-TÁT. 
Khi Phật an trú tại Thành Vương Xá, nói rộng như trên. Bấy giờ, chín mươi sáu loại người xuất gia đều cử hành Bố-tát, mà Tỳ-kheo không Bố-tát. Vì thế, bị người đời chê bai: 
- Vì sao chín mươi sáu loại người xuất gia đều có Bố-tát mà Sa-môn Thích tử không Bố-tát? 
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỳ-kheo: 
- Như thế thật đáng bị người ta chê trách. Từ nay về sau phải Bố-tát, gồm các việc: 1) Ðọc kệ; 2) Ngày 14 ngày 15; 3) Chỉ chỗ Bố-tát; 4) Bố-tát ban ngày; 5) Trong nhà; 6) Bọn cướp; 7) Vua; 8) A Na Luật; 9) Hai cách đếm; 10) Không tụng thuộc; 11) Không tụng thuộc tất cả; 12) Thuận nghịch; 13) Muốn nghe từ đầu; 14) Người chưa Thọ Cụ túc; 15) Tụng giới sớm quá; 16) Một trú xứ; 17) Hai chúng; 18) Hai chúng đã tụng, hai chúng chưa tụng; 19) Gởi dục; 20) Nhận dục; 21) Gởi dục nhiều; 22) Gởi dục bằng; 23) Cù-sư-la; 24) Ðại Ái Ðạo; 25) Xiển-đà; 26) Bệnh; 27) A-luyện-nhã; 28) Không nên cho mà cho; 29) Sông A-chi-la; 30) Mười một việc không được gọi là gởi dục: Chuyển dục; gởi dục ban đêm; ở ngoài giới; Tỳ-kheo-ni; người chưa Thọ Cụ túc; Nhận dục rồi ra đi; gởi dục rồi ra đi; Nhận dục rồi trả giới; gởi dục rồi trả giới; mất dục; phá hoại chúng; 31) Bốn cách Bố-tát; 32) Bốn cách tụng giới; 33) Bảy việc nên ngăn cản; 34) hai việc nên ngăn cản. 
1/ Ðọc kệ: 
Phật nói với các Tỳ-kheo: 
(1) Ðức Phật Tỳ-bà-thi Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, nói giới bản đầu tiên:
"Nhẫn, khổ hạnh bậc nhất,  
Niết-bàn, đích tối thượng.  
Tu hành còn hại người,  
Không thể gọi Sa-môn". 
(2) Ðức Phật Thi-Khí Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: 
"Ví như người sáng mắt,  
Tránh được đường nguy hiểm.  
Bậc thông minh trên đời,  
Tránh được mọi điều ác". 
(3) Ðức Phật Tỳ-xá Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bổn: 
"Không nói dối, hại người,  
Vâng hành theo giới pháp.  
Ăn uống có điều độ,  
Thường thích nơi thanh vắng.  
Tâm thanh tịnh chuyên cần,  
Ðó là lời Phật dạy". 
(4) Ðức Phật Câu-lưu-tôn Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri (447a) vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bổn: 
"Tỳ-kheo vào thôn xóm,  
Như ong đi tìm hoa.  
Lấy mật rồi bay đi,  
Không hại gì hương sắc.  
Không nhìn việc người khác,
Xem có làm hay không.      
Chỷ xét hành vi mình,  
Có tốt hay không tốt". 

(5) Ðức Phật Câu-na-hàm Mâu-ni Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: 

"Muốn tâm mình tốt chớ buông lung,  
Thiện pháp Thánh nhân luôn gắng học.  
Những người trí tuệ tâm chuyên chú,  
Khổ não ưu sầu dứt tuyệt ngay". 

(6) Ðức Phật Ca-diếp Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: 

"Không làm các việc ác,  
Tuân hành các hạnh lành.  
Giữ tâm ý trong sạch,  
Chư Phật dạy như vậy". 

(7) Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri vì chúng Tăng tịch tĩnh, đầu tiên nói giới bản: 

"Lành thay gìn giữ thân,  
Gìn giữ miệng cũng vậy.  
Lành thay giữ tâm ý,  
Giữ vẹn toàn tất cả.  
Tỳ-kheo giữ tất cả,  
Ắt xa lìa khổ não.  
Tỳ-kheo giữ miệng ý 
Thân không làm điều ác,  
Ba nghiệp đều thanh tịnh,  
Sẽ đạt được Thánh quả". 
Ðó gọi là đọc kệ khi Bố-tát. 

2/ Ngày 14, ngày 15: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, đệ tử đồng hành của tôn giả A-nan đang hành Ma-na-đỏa, tôn giả bạch với Phật: 
- Bạch Thế Tôn! Ðệ tử đồng hành của con muốn đến một căn lều nhỏ ở thôn xóm để hành Ma-na-đỏa vào ngày 14. 
Phật nói với A-nan: 
- Hôm nay nhằm ngày 14 tinh tú thuận hòa, thời tiết thuận hòa, Tăng chúng thuận hňa, nęn Bố-tát xong rồi mới đi. 
Ngày 14: Lần Bố-tát thứ ba và thứ bảy của mùa Ðông, lần Bố-tát thứ ba và thứ bảy của mùa Xuân và lần Bố-tát thứ ba, thứ bảy của mùa Hạ. 
Ngày 15: Gồm có mười tám lần Bố-tát. Trong một năm có hai mươi bốn kỳ Bố-tát, sáu kỳ vào ngày 14 và 18 kỳ vào ngày 15. 
Ðó gọi là Bố-tát ngày 14, ngày 15. 
3/ Chỷ chỗ Bố-tát: 
Khi Phật an trú trong núi Kỳ-xà-quật nơi thành Vương Xá, lúc ấy, các Tỳ-kheo không biết chỗ Bố-tát, nên có người thì được Bố-tát, có người thì không. Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền nói với các Tỳ-kheo: 

- Nên làm Yết-ma chỷ rõ chỗ Bố-tát trong núi Kỳ-xà-quật. 
Người làm Yết-ma nên bạch: 
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Nếu thời gian của Tăng đã đến, kể từ hôm nay Tăng dùng nơi này trong núi Kỳ-xà-quật làm chỗ Bố-tát thường xuyên. Ðây là lời tác bạch. 
Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Tăng nay dùng nơi này trong núi Kỳ-xà-quật (447b) làm chỗ Bố-tát thường xuyên. Các Đại đức nào bằng lòng Tăng dùng nõi này làm chỗ Bố-tát thýờng xuyên thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói. 
Tăng đã bằng lòng dùng nơi này làm chỗ Bố-tát thường xuyên, vì im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy. 
Ðó gọi là chỷ chỗ Bố-tát. 
4/ Bố-tát ban ngày: 
Khi Phật an trú trong núi Kỳ-xà-quật nơi Thành Vương Xá, lúc ấy, các Tỳ-kheo Bố-tát vào ban đêm. Vì đường sá hiểm trở, triền dốc khó đi, đến nơi Bố-tát cực khổ, các Tỳ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn, rồi hỏi: 
- Bạch Thế Tôn, có thể Bố-tát ban ngày được không? 
Phật dạy: 
-Ðược. Nếu Bố-tát ban ngày mà Tăng ở xa thì nên tuyên bố: "Thưa các trưởng lão, kỳ này Tăng sẽ Bố-tát vào ngày 14, hoặc ngày 15, hoặc trước bữa ăn, hoặc sau bữa ăn, vào lúc bóng mặt trời chừng ấy, phải tập họp tại chỗ mỗ xứ, hoặc tại giảng đường, phòng Thiền, phòng 
sưởi, dưới gốc cây (để Bố-tát)". Nếu không tuyên bố thì phạm tội Việt-tỳ-ni". Ðó gọi là Bố-tát ban ngày. 
5/ Nhà: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, vua A-xà-thế làm nhà Bố-tát trong núi Kỳ-xà-quật, rồi trang trí bằng các cánh sen dát vàng. Sau khi Tăng ngồi xong, Đức Thế Tôn mới đến ngồi. Các Tỳ-kheo vào hết, chuẩn bị Bố-tát, thì bỗng dưng một cánh hoa sen dát vàng rơi xuống đất. Lúc ấy, một ác Tỳ-kheo khởi tâm trộm cắp, bèn lấy cánh sen kẹp dưới nách. Vì Phật và Tỳ-kheo Tăng ngồi lâu mà không Bố-tát nên tôn giả A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay bạch với Phật: 
- Bạch Thế Tôn, đầu đêm đã qua, Tăng ngồi lâu mỏi mệt, kính xin Thế Tôn vì các Tỳ-kheo mà thuyết giới Bố-tát. 
Khi ấy Thế Tôn im lặng. Tình hình như thế kéo dài sang nửa đêm rồi đến cuối đêm, tôn giả lại bạch với Phật: 
- Bạch Thế Tôn rạng đông đã xuất hiện, chúng Tăng ngồi lâu, kính xin Thế Tôn thuyết giới Bố-tát. 
Phật liền nói với A-nan: 
- Chúng Tăng không thanh tịnh. 
Khi ấy Tôn giả Ðại Mục-liên suy nghĩ: 
- Vì ai mà Thế Tôn nói rằng chúng Tăng không thanh tịnh? 
Ðoạn, Mục-liên nhập định, liền thấy được ác Tỳ-kheo đang ngồi xếp ro trong chúng. Tôn giả bèn từ chỗ ngồi 
đứng dậy đến chỗ vị ấy, dùng tay trái nắm cổ lôi đến cửa, rồi dùng tay phải đẩy ra, nói: - Này ác Tỳ-kheo, từ hôm nay ông không phải là Sa-môn, không phải là Tỳ-kheo, không được ở trong chúng nữa. 
Sau khi Thầy đuổi đi, Phật dạy: 
- Từ nay về sau, Ta không cho phép lôi người đi. 
Rồi Phật nói với A-nan: 
- Từ nay về sau, các Thầy hãy tự tụng giới. Vì sao vậy? Vì Như Lai ,Ứng Cúng, Chánh Biến Tri không tụng giới cho một chúng không thanh tịnh. Này A Nan, trong pháp luật của Như Lai (447c) cũng giống biển lớn có tám việc chưa từng có, như trong Tuyến Kinh đã nói rõ. Do thế, các đệ tử của Ta thấy rồi, liền sinh tâm thích thú. Ðó gọi là nhà. 
6/ Bọn cướp: 
Khi Phật an trú tại núi Kỳ-xà-quật nơi Thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỳ-kheo Bố-tát tụng giới. Khi tụng đến phần cuối của Ba-dạ-đề, đọc: "Cắt bỏ rồi Ba-dạ-đề, phá bỏ rồi Ba-dạ-đề, lôi ra rồi Ba-dạ-đề", thì bọn cướp đến. Người tụng giới liền im lặng. Bọn cướp đứng một lát rồi bỏ đi. Người tụng giới lại tiếp tục; như vậy đến ba lần. Bọn cướp suy nghĩ: "Ðây là ác Sa-môn, nên nói như sau: Cắt bỏ, phá bỏ, lôi ra rồi Ba-dạ-đề. Họ đang định cắt chúng ta, phá chúng ta, lôi chúng ta đây", bèn xông vào đánh các Tỳ-kheo. 
Các Tỳ-kheo sinh tâm nghi hoặc, hay là bọn cướp vừa rồi đã nghe tụng giới? Thế rồi, họ đem sự kiến ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:
- Bọn cướp là vua ở trong rừng, chúng có thể làm những việc bất lợi, vì sao các ông lại tụng lại những lời cũ? Từ nay về sau khi Tỳ-kheo Bố-tát tụng giới mà có bọn cướp đến thì Ta cho phép được đọc sang kinh khác, hoặc là kinh Ba La Diên, hoặc kinh Bát Bạt Kỳ, hoặc kệ Mâu Ni, hoặc kinh Pháp Cú. 
Nếu bọn cướp biết phép tắc của Tỳ-kheo, nói: "Này Sa-môn, chúng tôi đã biết rồi", thì hãy tụng tiếp giới đã tụng trước. Khi ấy, Tỳ-kheo nên tụng gấp, khiến không thể phân biệt được chương cú, để cho bọn chúng không biết là đoạn đầu, đoạn giữa hay đoạn cuối. Nếu tụng lại những lời cũ thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Ðó gọi là bọn cướp. 
7/ Vua: 
Khi Phật an trú tại vườn Kỳ-xà Am-bà-la nơi Thành Vương Xá, như trong kinh Sa-môn đã nói rõ, cho đến tự nhủ: 
- Không biết có thể tụng giới trước nhà vua hay không? 
Rồi họ đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Vua có thể làm những việc bất lợi. 
Như trong trường hợp bọn cướp ở trên đã nói rõ. Ðó gọi là vua. 
8/ A-na-luật: 
Khi Phật an trú trong núi Kỳ-xà -quật, nơi Thành Vương Xá, lúc ấy các Tỳ-kheo làm Yết-ma Bố-tát thì Tôn 
giả A-na-luật không đến. Các Tỳ-kheo bèn cho sứ giả đến gọi: 
- Thưa trưởng lão A-na-luật, các Tỳ-kheo đang vân tập định làm Yết-ma Bố-tát. 
Thầy đáp: 
- Ðức Thế Tôn dạy rằng Thanh tịnh tức là Bố-tát. Kẻ thanh tịnh trong đời này chính là tôi đây. Tôi không đi. 
Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Ông hãy đi gọi A-na-luật lại đây. Nhưng không được dùng Thiên nhãn mà đến. 
Vì trưởng lão này đã hỏng nhục nhãn nên phải vượt qua núi non hiểm trở đến một cách cực khổ. 
Phật liền nói với A-na-luật: 
- Ông không tôn kính Bố-tát thì ai sẽ tôn kính? Từ nay về sau, khi Bố-tát thì tất cả đều phải đến. Nếu không đến, (448a) hoặc bị bệnh mà không gởi dục thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Ðó gọi là A-na-luật. 
9/ Hai cách đếm: 
Khi ấy, Phật hỏi Ưu-ba-ly: 
- Ông tụng giới được không? 
- Bạch Thế Tôn, tụng được, nhưng những câu chi li rất khó ghi nhớ. 
- Nên làm thẻ đếm để mà tụng. 
Thế rồi, Ưu-ba-ly liền làm thẻ đếm mỗi khi tụng. Phật lại hỏi: 
- Ông có làm thẻ để đếm mỗi khi tụng giới không?
- Bạch Thế Tôn, khi tụng những câu chi li con có đếm thẻ, nhưng cũng khó nhớ. 
- Từ nay về sau hãy làm hai loại thẻ, một loại năm trăm và một loại bảy trăm. Khi muốn tụng, phải rửa tay sạch rồi cầm thẻ bỏ xuống đếm đến năm, lại rửa tay nữa. Nếu còn thẻ thì phải dùng nước thơm để rửa. Người khác muốn cầm thẻ cũng phải như vậy. 
Ðó gọi là hai cách đếm. 
10/ Không tụng thuộc: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy trong Thôn có các Tỳ-kheo đang sống, khi Tăng vân tập sắp làm Yết-ma Bố-tát, liền thưa với Thượng Tọa: 
- Xin Thượng Tọa tụng giới. 
Thầy đáp: 
- Tôi không thuộc. 
Vị thứ hai, thứ ba cũng thế, cho đến Hạ tọa cũng nói như thế. Các Tỳ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Từ nay về sau, thọ Cụ túc rồi nên đọc hai bộ Luật. Nếu không thể đọc cả hai bộ thì nên đọc một bộ. Nếu cũng không thể đọc được thì nên đọc năm thiên giới. Nếu cũng không thể đọc được thì nên đọc bốn, ba, hai hay một thiên. Khi Bố-tát nên đọc rộng năm bộ Diên Kinh. Nếu có nhân duyên không thể đọc được, thì nên đọc bốn, ba, hai hay một, cho đến bốn Ba-la-di và các bài kệ, (rồi nói) các phần khác như Tăng đã thường nghe. Nếu Bố-tát mà không tụng giới thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Giả như 
cả chúng đều không có ai tụng thuộc, thì nên bảo Thượng tọa ra ngoài giới trường, tâm nghĩ, miệng nói: 
- Kẻ dư thừa khi Bố-tát. 
Rồi ba người còn lại trong giới trường nói ba lần Bố-tát. Làm như vậy là phạt Thượng tọa. Ðó gọi là không tụng thuộc. 
11/ Không tụng thuộc tất cả: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỳ-kheo đang ở trong thôn xóm tập họp định Bố-tát, liền thưa với Thượng tọa: 
- Xin Thượng tọa hãy tụng giới. 
Thầy đáp: 
- Tôi chỷ tụng thông thạo có một thiên. 
Tăng lại thưa Thượng tọa thứ hai, thì thầy đáp: 
- Tôi chỉ tụng thuộc có hai thiên. 
Như vậy, mỗi người chỷ tụng thuộc có một thiên, họ bèn tuần tự tụng mỗi người một thiên để Bố-tát. Nhưng khi Bố-tát xong sinh nghi, các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: 
- Từ nay về sau, ta không cho phép cùng lần lượt tụng để Bố-tát. Nếu gặp trường hợp như thế thì cùng ủy thác cho một người thông minh tụng thuộc để tụng. Khi tụng đến chỗ nào mà quên, thì người khác được tụng tiếp. (448b) Nếu phối hợp nhau lần lượt tụng để Bố-tát thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là không tụng thuộc tất cả. 
12/ Tụng xuôi, tụng ngược: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, có các Tỳ-kheo đang sống trong thôn xóm, vân tập Bố-tát. Có một Tỳ-kheo
tụng thuộc giới bản xuôi và ngược. Thầy bắt đầu tụng từ bài tựa cho đến pháp tùy thuận, rồi tụng ngược từ pháp tùy thuận lên giới bản để Bố-tát. Nhưng khi Bố-tát xong tâm sinh nghi ngờ, các Tỳ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Từ nay về sau Ta không cho phép tụng ngược mà phải tụng xuôi. Nếu lúc tụng mà lỡ quên th́ được tụng bổ khuyết. Người nào tụng xuôi rồi tụng ngược để Bố-tát thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Ðó gọi là tụng xuôi, ngược. 
13/ Muốn nghe từ đầu: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỳ-kheo vân tập Bố-tát, tụng giới bản cho đến pháp tùy thuận thì có Tỳ-kheo khách tới, nói: 
- Thưa trưởng lão, tôi sống trong xóm làng này mà chưa từng nghe tụng giới bản đầy đủ, xin trưởng lão tụng đầy đủ cho tôi nghe. 
Người tụng bèn đọc lại từ bài tựa của giới cho đến pháp tùy thuận. Các Tỳ-kheo sinh tâm nghi ngờ, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật khiển trách: 
-Vì sao các ông tụng lại giới bản cho người muốn nghe lại từ đầu? Từ nay về sau Ta không cho phép làm như thế. Nếu Tỳ-kheo Tăng vân tập Bố-tát tụng giới đến pháp tùy thuận mà có Tỳ-kheo khách đến rồi vào ngồi nghe, tức được gọi là Bố-tát. Nếu Tỳ-kheo khách nói: "Tôi sống trong xóm làng này mà chưa từng nghe tụng giới bản đầy đủ, xin trýởng lão tụng đầy đủ cho tôi 
nghe", thì hãy đợi Tăng giải tán rồi hãy tụng cho vị ấy. Nếu Tăng chưa giải tán mà tụng thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là muốn nghe từ đầu. 
14/ Chưa Thọ Cụ túc: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có Tỳ-kheo nói cho người chưa Thọ Cụ túc về năm thiên tội từ tội Ba-la-di, đến tội Việt-tỳ-ni. Sau đó, vị Tỳ-kheo ấy vào Thôn xóm, người thế tục nói: 
- Trưởng lão, Thầy phạm tội Ba-la-di cho đến tội Việt-tỳ-ni. 
Các Tỳ-kheo nghe thế lấy làm xấu hổ, bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật khiển trách: 
- Vì sao các ông lại nói giới bản năm Thiên tội cho người chưa thọ Cụ túc nghe? Từ nay về sau ta không cho phép đem nói với người chưa thọ Cụ túc. Chỉ được nói: "Ông không được làm điều phi phạm hạnh, không được trộm cắp, không được sát sinh, không được nói dối v.v...", như vậy mà thôi. Nếu ai đem nói tên của năm Thiên tội thuộc giới bổn cho người chưa thọ Cụ túc nghe (448c) thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là chưa thọ Cụ túc. 
15/ Tụng giới quá sớm: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy có một Tỳ-kheo sống trong Thôn xóm, sáng sớm thức dậy liền Bố-tát. Khi làm xong, có Tỳ-kheo khách đến, nói: 
- Trưởng lão hãy đến cùng tôi Bố-tát. 
Thầy đáp: 
- Tôi đã Bố-tát rồi. 
Tỳ-kheo khách nói:
- Trưởng lão Bố-tát như thế là quá sớm. 
Rồi thầy đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Từ nay về sau không nên Bố-tát quá sớm. Nếu một Tỳ-kheo sống trong thôn xóm thì đến ngày Bố-tát nên quét tháp và trú xứ của Tăng. 
Nếu có người đến thì dùng nước hoa rưới trên đất, rải hoa, đốt đèn, đợi Tỳ-kheo khách đến rồi cùng nhau Bố-tát. Nếu không có Tỳ-kheo khách đến mà bản thân mình có tội thì nên suy nghĩ: "Nếu gặp được Tỳ-kheo thanh tịnh thì sẽ đoạn trừ tội này đúng như pháp". 
Sau khi nghĩ thế xong, nên tâm niệm, miệng nói: 
- Hôm nay ngày 15, Tăng Bố-tát, tôi là Tỳ-kheo mỗ giáp thanh tịnh thọ Bố-tát. 
Nói như vậy ba lần. Nếu khi Bố-tát xong mà có Tỳ-kheo khách đến, thì vị này nên nói lời tùy hỷ: - Trưởng lão đã Bố-tát, tôi là mỗ giáp xin tùy hỷ. 
Nếu không thể tùy hỷ thì phải ra ngoài cương giới Bố-tát. Nếu ai Bố-tát lúc sáng sớm thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là Bố-tát quá sớm. 
16/ Một trú xứ: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỳ-kheo đang đi trên đường, vì trời u ám, tưởng trời đã tối nên vào trú xứ của Tỳ-kheo trong thôn Bố-tát. Khi Bố-tát xong thì trời quang tạnh, thấy mặt trời hãy còn sớm, các Tỳ-kheo thầm nghĩ: "Chúng ta nên ra đi". Khi họ đi rồi, bỗng chốc chúng thứ hai lại đến. Thế rồi, họ Bố-tát tại đó, đồng thời nghỉ đêm luôn ở đây đến sáng hôm sau mới 
đi. Lúc đi trên đường bèn gặp nhóm Tỳ-kheo Bố-tát trước, liền hỏi: 
- Thưa trưởng lão, đêm rồi trưởng lão nghỉ ở đâu? 
- Nghỉ tại mỗ xứ. 
- Vậy chứ Bố-tát nơi nào? 
- Tại mỗ xứ. 
- Chúng tôi cũng Bố-tát tại nơi đó. 
Các Tỳ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Từ nay về sau tại một chỗ không được Bố-tát hai lần. Nếu Tỳ-kheo đi xa, đến ngày Bố-tát vào trú xứ của Tỳ-kheo trong Thôn để Bố-tát, thì lúc Bố-tát xong không được im lặng bỏ đi, mà phải dặn lại Sa-di, hoặc người làm vườn, hoặc kẻ chăn bò rằng: "Nếu có Tỳ-kheo đến thì nên nói cho họ biết rằng ở đây đã có Bố-tát rồi". 
Nếu không có ai cả thì nên viết nơi cột hay cánh cửa, hoặc rải hoa làm dấu. Nếu mình đến sau thì nên hỏi, nên tìm dấu vết, không được Bố-tát liền. Nếu đoàn người trước (449a) không dặn, không làm dấu, đoàn người sau không hỏi, không tìm dấu vết, thì cả hai đều phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là một trú xứ. 
17/ Hai chúng: 
Nếu hai chúng Tỳ-kheo khách đến, một chúng Bố-tát vào ngày 14, một chúng Bố-tát vào ngày 15, vậy thì nên theo ai? 
- Nên theo chúng đến trước.
Nếu hai chúng cùng vào một lúc, thì nên theo chúng có Thượng tọa. Nếu không phân biệt lớn nhỏ được thì nên theo người giữ luật. 
Nếu hai chúng cùng có người giữ luật như nhau thì nên theo chúng nào ngõ lời trước, hoặc là ngày 14, hoặc ngày 15, nên theo họ Bố-tát. Ðó gọi là hai chúng. 
18/ Cả hai đều đã tụng, cả hai đều chưa tụng: 
Khách Tỳ-kheo Bố-tát ngày 14, còn cựu Tỳ-kheo Bố-tát ngày 15. Nếu khách Tỳ-kheo đến chỗ cựu Tỳ-kheo, cựu Tỳ-kheo nói với khách Tỳ-kheo: "Thưa trưởng lão, chúng ta cùng hợp tác Bố-tát", thì lúc đó, khách Tỳ-kheo không được nói: "Chúng tôi đã Bố-tát xong", (rồi ở yên trong trú xứ), mà nên đi ra ngoài cương giới để giữ tính chất hòa hợp. 
Nếu cựu Tỳ-kheo Bố-tát ngày 14, khách Tỳ-kheo Bố-tát ngày 15, mà khách Tỳ-kheo nói: "Trưởng lão, hãy Bố-tát", thì cựu Tỳ-kheo nên nói: 
- Chúng tôi đã Bố-tát rồi. 
Lúc ấy, khách Tỳ-kheo nên nói lời tùy hỷ: 
- Trưởng lão đã Bố-tát rồi, chúng tôi xin tùy hỷ. 
Nếu không tùy hỷ thì nên ra ngoài cương giới Bố-tát. Ðó gọi là cả hai đều đã tụng hoặc cả hai đều chưa tụng. 
19/ Gởi dục: 
Khi chúng tăng vân tập Bố-tát, thì có một Tỳ-kheo vì việc y bát không đến dự được, các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền dạy: 
- Từ này về sau, Ta cho phép gởi dục. Người gởi dục nên nói thế này:  
- Xin Trưởng lão hãy lắng nghe. Hôm nay (hoặc ngày 14, hoặc ngày 15) chúng Tăng Bố-tát, tôi là Tỳ-kheo mỗ giáp xin gởi dục Bố-tát thanh tịnh. Xin trưởng lão hãy nói giúp tôi. (Nói như vậy ba lần). 
Khi gởi dục, không được gởi cho người mù mờ, mà nên gởi cho người có thể nhận dục vào giữa chúng Tăng nói rành mạch. Nếu vì bận việc y bát mà lúc Bố-tát không gởi dục, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là gởi dục. 
20/ Nhận dục: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỳ-kheo Tăng vân tập làm Yết-ma Bố-tát, thì có một Tỳ-kheo đang bệnh và lo việc y bát, gởi dục cho Tỳ-kheo khác, nhưng vị này không nhận. Do đó, các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Từ nay về sau phải nhận dục. Khi nhận dục phải tự suy nghĩ xem mình có thể truyền dục được không. Không được nhận dục nhiều người, chỉ nhận tối đa ba người. Khi gởi dục, nên nói như sau:
- Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay chúng Tăng Bố-tát, tôi là Tỳ-kheo mỗ giáp xin gởi dục Bố-tát thanh tịnh. 
Nếu quên tên thì nên nhớ số tuổi, rồi nói: 
- Vị Tỳ-kheo chừng ấy tuổi. 
Nếu đó là Tỳ-kheo khách thì nói là khách; bệnh thì nói là bệnh, rằng: 
- Tỳ-kheo... gởi dục Bố-tát thanh tịnh. 
Nếu ai đang bệnh và lo việc y bát gởi dục mà không nhận (449b) thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là nhận dục. 
21/ Gởi dục nhiều: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Tỳ-kheo Tăng Bố-tát, những người gởi dục thì nhiều mà những người tập họp thì ít. Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Từ nay về sau Ta không cho phép khi Bố-tát mà những người gởi dục thì nhiều, còn những người tập họp thì ít. Nếu Bố-tát trong trường hợp ấy thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Ðó gọi là gởi dục nhiều. 
22/ Gởi dục bằng số người kia: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, Tỳ-kheo Tăng Bố-tát, thì số người gởi dục bằng số người tập họp làm Bố-tát. Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Từ nay về sau Ta không cho phép làm Bố-tát mà số người gởi dục bằng số người tập họp. Số người tập họp phải nhiều hơn, nếu bằng số người gởi dục mà Bố-tát thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Ðó gọi là số người gởi dục bằng số người tập họp. 
23/ Cù-sư-la: 
Khi Phật an trú tại vườn Cù-sư-la ở Câu-diệm-di, lúc ấy Tỳ-kheo Tăng vân tập Bố-tát, vị làm Yết-ma xử đoán nói lớn tiếng, cư sĩ Cù-sư-la nghe thế bèn đi vào giới trường. Tăng liền im lặng. Chốc lát, ông ta bước ra, th́ì Tăng tiếp tục giải quyết sự việc lại nói lớn tiếng như trước. Ðến ba lần như vậy, rồi cư sĩ thầm nghĩ: "Khi Ta vào thì im lặng, khi ta ra thì lại lớn tiếng, giờ ta hãy vào
mà không trở ra nữa", như trường hợp Cù-sư-la hỏi tôn giả A-nan, mà trong Lục Nhập diên Kinh đã nói rõ. 
Lúc ấy, các Tỳ-kheo sinh tâm nghi hoặc, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Nếu đó là người có đức hạnh cao quý muốn nghe chúng Tăng giải quyết công việc thì nên để cho ông ta nghe. Ðồng thời, nếu trong chúng có người tài giỏi, nói năng lưu loát, giải quyết sự việc phân minh thì cứ tự nhiên tiến hành. Trái lại, nếu giải quyết sự việc trýớc kẻ phàm phu tầm thường thì phạm tội Việt-tỳ-ni: . 
Ðó gọi là Cù-sư-la cư sĩ. 
24/ Ðại Ái Ðạo: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy Ðại Ái Ðạo Cù Ðàm Di gởi dục mà Tỳ-kheo không nhận. Thế rồi, Ðại Ái Ðạo Cù Ðàm Di đi đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân rồi đứng hầu một bên, đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn: 
- Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo không nhận dục con gởi thì ai nhận? 
Bấy giờ Thế Tôn tùy thuận thuyết pháp cho Ðại Ái Ðạo Cù Ðàm Di khiến bà sinh tâm hoan hỷ, bèn cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi cáo lui. Phật liền bảo gọi vị Tỳ-kheo kia đến. Khi thầy đến rồi, Phật liền hỏi: 
- Ông có việc đó thật không? 
- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn. 
- Từ nay về sau, Tỳ-kheo-ni gởi dục thì nên nhận. Nếu mình là Thượng tọa thì nên nói: 
- Tôi là Thượng tọa của chúng Tăng nên không nhận dục. 
Hoặc là người dạy bảo Ni, hoặc là người tụng giới thì phải tự trình bày rõ, không nên nhận dục. Nếu là người coi phòng, (449c) người có bệnh thì nên nói: 
- Tôi không đến trong Tăng, nên gởi dục người khác. 
Trái lại nếu nói: "Tôi là Tỳ-kheo khất thực, tôi là người ở A-luyện-nhã, tôi là người mặc y phấn tảo, tôi là hàng Đại đức, rồi không nhận dục", thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Nhưng nếu nói: "Tôi là Thượng tọa, là người dạy bảo Ni, là người tụng giới", rồi không nhận dục, thì không có tội. Ðó gọi là Cù Ðàm Di Ðại Ái Ðạo. 
25/ Xiển-đà: 
Khi Phật an trú tại vườn Cù-sư-la ở Câu-diệm-di, lúc ấy Tăng vân tập Bố-tát, thì Tỳ-kheo Xiển-đà không chịu đến. Các Tỳ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch với Thế Tôn, rồi hỏi: 
- Bạch Thế Tôn, trường hợp ấy phạm vào tội gì? 
Phật dạy: 
- Phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu Bố-tát mà Tỳ-kheo không chịu đến như thế thì phạm Thâu-lan-giá. Nếu vì việc y bát nên không đến mà không gởi dục, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
26/ Bị bệnh: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc Tỳ-kheo vân tập định Bố-tát thì có một Tỳ-kheo bệnh phong lên cơn động kinh, bèn nói với người ở phòng bên cạnh: 
- Thưa trưởng lão, tôi bị bệnh phong đang lên cơn, xin gởi dục thanh tịnh cho trưởng lão. 
Nhưng Tỳ-kheo ấy không nhận, thầy bèn đi đến trước Thượng tọa, cởi dép, quỳ gối chắp tay, bạch như sau: 
- Con là mỗ giáp, thanh tịnh, xin Thượng tọa ghi nhớ cho. 
Nói như vậy ba lần, rồi đi. Các Tỳ-kheo sinh tâm nghi ngờ, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn, rồi hỏi: 
- Bạch Thế Tôn, như vậy có được không? Phật dạy: 
- Gởi dục như thế là tốt, đã làm đúng pháp. Nhưng người không nhận dục thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Ðó gọi là bị bệnh. 
27/ A-luyện-nhã: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, các Tỳ-kheo ở A-luyện-nhã và trong thôn xóm thường làm Bố-tát chung. Khi ấy, các Tỳ-kheo ở A-luyện-nhã vào trong Thôn Bố-tát xong, liền đi. Họ đi không bao lâu thì có Tỳ-kheo khách đến, lại cũng Bố-tát tại đó, rồi nghỉ đêm luôn ở đây. Sáng hôm sau, hai bên gặp nhau, liền hỏi: 
- Ðêm hôm qua trưởng lão nghỉ ở đâu? 
- Nghỉ tại đây. 
- Thế còn Bố-tát tại đâu? 
- Cũng tại đây. 
Họ nghe thế, lòng sinh nghi, bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: 
-Từ nay về sau, Ta không cho phép tại một chỗ mà Bố-tát hai lần. Nếu ở A-luyện-nhã vào trong Thôn Bố-tát 
thì khi ra đi không được làm thinh mà phải dặn lại Sa-di, hoặc người làm vườn, hoặc kẻ chăn bò, rằng: "Nếu sau đó có Tỳ-kheo đến thì nói cho họ biết là ở đây đã làm Bố-tát rồi". Nếu không có người, thì nên viết trên cột hoặc trên cánh cửa, hoặc rải hoa làm dấu. Người đến sau thì nên hỏi, tìm dấu vết. Nếu người ra đi không dặn dò, không làm dấu, còn người đến sau không hỏi, không tìm dấu vết thì cả hai đều phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Ðó gọi là a-luyện-nhã. 
28/ Không nên gởi dục mà gởi: 
(450a) Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy các Tỳ-kheo tập họp đúng lúc thì gởi dục Yết-ma, tập họp phi thời thì gởi dục thanh tịnh. Các Tỳ-kheo bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy: 
- Từ nay về sau Ta không cho phép khi tập họp đúng thời thì gởi dục Yết-ma, khi tập họp phi thời thì gởi dục thanh tịnh; trái lại, khi tập họp phi thời nên gởi dục Yết-ma, khi tập họp đúng thời nên gởi dục thanh tịnh. Ðồng thời khi tập họp đúng thời cũng có thể gởi cả hai loại dục, nói như sau: "Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Bố-tát – ngày 14, hoặc ngày 15 - tôi là Tỳ-kheo mỗ giáp xin gởi dục Bố-tát thanh tịnh, mong trưởng lão nói giúp cho tôi". (nói như vậy ba lần). Khi gởi dục Yết-ma cũng nói ba lần. Nếu lúc tập họp phi thời mà gởi dục thanh tịnh, lúc tập họp đúng thời mà gởi dục Yết-ma thì phạm tội Việt-tỳ-ni. 
Ðó gọi là không nên gởi dục mà gởi.  
29/ Sông A-chi-la: 
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, lúc ấy, các Tỳ-kheo đi đến gần sông A-chi-la trải tọa cụ ngồi tụng giới. Thế rồi, nước sông dâng lên dần dần đến đầu gối, rồi lên cao ngang miệng, khiến họ cực khổ tột độ. Sau đó, họ trở về chỗ Phật, đem sự việc trên trình bày đầy đủ với Thế Tôn, rồi hỏi: 
- Bạch Thế Tôn, có thể đứng Bố-tát được không?
Phật dạy: 
- Ðược. Ðược đi, đứng, ngồi, nằm Bố-tát. 
Ði Bố-tát: Nếu Tỳ-kheo đi với khách buôn, đến ngày Bố-tát mà gặp đoạn đường nguy hiểm, khách buôn không dám chờ, thì được vừa đi vừa Bố-tát. Trước hết phải trù tính xem đi đến chỗ nào mới tụng xong giới bổn, hoặc dãy núi, hoặc tảng đá, thì lấy đó làm tiêu xí, rồi đưa cánh tay ra chạm vào nhau làm Yết-ma định cương giới Bố-tát. Khi làm Yết-ma xong mới Bố-tát. Ðó gọi là Bố-tát khi đi. 
Ðứng Bố-tát: Nếu Tỳ-kheo đông mà không có giường ghế để ngồi thì tất cả đứng đưa cánh tay ra chạm vào nhau mà Bố-tát. Ðó gọi là đứng Bố-tát. 
Ngồi Bố-tát: Có giường ghế dùng để ngồi Bố-tát. Ðó gọi là ngồi Bố-tát. 
Nằm Bố-tát: Nếu Tỳ-kheo già bệnh không thể ngồi lâu, mà giường kê sát bên nhau, thì có thể nằm Bố-tát. Ðó gọi là nằm Bố-tát. 
Tóm lại, đó gọi là sông A-chi-la.  
30/ Mười một trường hợp không được gọi là gởi dục: 
a) Chuyển dục: Chẳng hạn nói: "Thưa trưởng lão, trước đây tôi có nhận dục của mỗ giáp giờ xin chuyển lại Trưởng lão, gồm luôn cả dục của tôi". Ðó gọi là chuyển dục. 
b) Gởi dục qua đêm: Chẳng hạn ngày mai mới Bố-tát mà hôm nay đã gởi dục. Ðó gọi là gởi dục qua đêm. 
c) Ở ngoài cương giới: Ra ngoài cương giới gởi dục. Ðó gọi là ở ngoài cương giới. 
d) Tỳ-kheo-ni: Gởi dục cho Tỳ-kheo-ni. Ðó gọi là Tỳ-kheo-ni. 
đ) Chưa Thọ Cụ túc: Gởi dục cho người chưa thọ Cụ túc. Ðó gọi là chưa thọ Cụ túc. 
e) Nhận dục rồi ra đi: Nhận dục rồi ra khỏi cương giới. Ðó gọi là nhận dục rồi ra đi. 
g) Gởi dục rồi ra đi: Gởi dục rồi ra khỏi cương giới. Ðó gọi là gởi dục rồi ra đi. 
h) Nhận dục rồi trả giới: Nhận dục xong rồi trả lại giới Cụ túc đã thọ (hoàn tục). Ðó gọi là nhận dục rồi trả giới. 
i) (450b) Gởi dục rồi trả giới: Gởi dục cho người khác rồi trả giới Cụ túc mà mình đã thọ. Ðó gọi là gởi dục rồi trả giới. 
k) Mất dục: Tỳ-kheo bị bệnh gởi dục xong rồi, nghe trong Tăng có pháp sư thuyết pháp, luật sư giảng luật, liền thân hành đến nghe. Nhưng ngồi lâu mỏi mệt, liền lặng lẽ rời chỗ ngồi ra về, vì nghĩ rằng trước đây mình 
đã gởi dục rồi. Trường hợp này không thể gọi là gởi dục, phải gởi dục lại. Ðó gọi là mất dục. 
l) Hủy hoại chúng: Ðến ngày Bố-tát, Tỳ-kheo Tăng vân tập, các Tỳ-kheo không đến liền gởi dục thanh tịnh. Thế rồi, gặp mưa gió dữ dội, hoặc bị lửa cháy, giặc cướp, do vậy, các Tỳ-kheo kinh hoàng bỏ đi hết. Trường hợp này không thể gọi là mang dục đến trong Tăng. Nhưng nếu còn một người ngồi lại, thì được gọi là mang dục đến trong Tăng. 
Tóm lại, đó là mười một trường hợp không được gọi là gởi dục. 
31/ Bốn cách Bố-tát: 
 
a) Một người thọ;                         c) Ba người nói;  
b) Hai người nói;                           d) Bốn người tụng đầy đủ. 

a) Một người thọ: Khi một Tỳ-kheo sống trong thôn xóm, đến ngày Bố-tát cần phải quét Tháp và Thiền viện của Tăng. Nếu có người khác đến, thì nên dùng nước thơm rưới trên đất, đốt đèn, rải hoa, rồi chờ Tỳ-kheo khách. Nếu không ai đến mà mình có tội thì nên thầm nghĩ: "Khi nào gặp Tỳ-kheo thanh tịnh ta sẽ đoạn trừ tội này đúng như pháp". Thầm nghĩ thế rồi, quỳ gối, chắp tay, tâm niệm miệng nói: "Hôm nay Tăng Bố-tát (hoặc ngày thứ 14, hoặc ngày thứ 15), tôi là Tỳ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh Thọ Bố-tát". (nói như thế ba lần). Ðó gọi là một người thọ. 
b) Hai người nói: Khi hai Tỳ-kheo ở trong thôn xóm, đến ngày Bố-tát phải quét Tháp và Thiền viện của Tăng. Nếu có người đến thì nên dùng nước thơm rưới trên đất, 
rải hoa, đốt đèn. Nếu có tội thì phải sám hối lẫn nhau đúng pháp, rồi quỳ gối chắp tay, nói như sau: "Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Bố-tát (hoặc ngày thứ 14, hoặc ngày thứ 15), tôi là Tỳ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh". Ðó gọi là hai người nói. 
c) Ba người nói: Cũng như trường hợp hai người ở trên. 
d) Bốn người tụng đầy đủ: Khi Bố-tát bốn người thì nên tụng đầy đủ giới bổn. Ðó gọi là tụng đầy đủ. 
32/ Bốn cách tụng giới: 
a) Tụng từ bài tựa của giới cho đến hết bốn pháp Ba-la-di, (rồi nói: ) "Những vấn đề khác Tăng đã thường nghe", đoạn, tụng kệ kết thúc. 
b) Tụng từ đầu đến hết mười ba pháp Tăng tàn, hai pháp Bất định, (rồi nói: ) "Còn những giới khác như Tăng đã thường nghe", đoạn, tụng kệ kết thúc. 
c) Tụng từ đầu đến hết ba mươi pháp Ni-tát-kỳ, (rồi nói: ) "Còn những giới khác như Tăng đã thường nghe", đoạn, tụng kệ kết thúc. 
d) Tụng từ đầu đến chín mươi hai pháp Ba-dạ-đề, rồi tiếp tụng đầy đủ cho đến hết. 
Ðó gọi là bốn cách tụng. 
33/ Khi Bố-tát có bảy trường hợp nên ngăn cản: 
a) Người không ở chung;  
b) Người hành Biệt trụ;  
c) Người chưa thọ Cụ túc;  
d) Chưa Thuyết dục; 
/64
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »