đêm ; hoặc đệ tử cọng trú ra ngoài giới ngủ một đêm ; đó gọi là rời y chỉ. Nếu thầy y chỉ mệnh chung, thôi tu, bị cử tội, hoặc ra ngoài giới nghỷ lại một đêm, hoặc đệ tử y chỉ ra ngoài giới nghỷ lại một đêm, hoặc đệ tử đã đủ 5 tuổi hạ, khéo biết pháp, khéo biết luật, được rời y chỉ, đó gọi là xả y chỉ. Nếu Tỳ-kheo không khéo biết pháp, không khéo biết luật, không thể tự lập, không thể xây dựng cho người khác thì Tỳ-kheo ấy suốt đời phải y chỉ người khác mà sống. Nếu Tỳ-kheo đủ 10 tuổi hạ, khéo biết pháp, khéo biết luật, có thể tự lập, có thể xây dựng cho người khác thì Tỳ-kheo ấy được nhận người khác y chỉ.
Ðó gọi là phép tắc của Hòa Thượng, A-xà-lê, đệ tử cọng trú và đệ tử y chỉ.
PHÉP TẮC CỦA SA-DI.
Thế Tôn không thích việc cha mẹ vì quá thương yêu, khóc lóc khi Ngài sắp làm Chuyển Luân Vương mà bỏ nhà xuất gia, cho đến khi tôn giả La Hầu La xuất gia, các nhân duyên này đã được nói rõ ở những chỗ khác, nên Ngài nói với Xá-lợi-phất:
- Ông hãy đến độ La Hầu La xuất gia.
- Con độ La Hầu La xuất gia bằng cách nào, bạch Thế Tôn?
- Ông đến đó, dạy La Hầu La nói như sau:
- Con là La Hầu La, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng (nói như vậy ba lần). Con là La Hầu La quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, (460c) quy y Tăng rồi, suốt đời không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối,
không uống rượu ; Phật Thế Tôn xuất gia, con là La Hầu La cũng theo Phật xuất gia (nói như vậy ba lần). Phật Thế Tôn xuất gia, con là La Hầu La cũng theo Phật xuất gia, bỏ y phục thế tục, khoác ca sa, suốt đời không sát sinh giữ giới Sa-di, suốt đời không trộm cắp giữ giới Sa-di, suốt đời không dâm dục giữ giới Sa-di, suốt đời không nói dối giữ giới Sa-di, suốt đời không uống rượu giữ giới Sa-di, suốt đời không trang sức hương hoa giữ giới Sa-di, suốt đời không xem nghe múa hát nhạc kịch giữ giới Sa-di, suốt đời không ngồi trên giường cao rộng giữ giới Sa-di, suốt đời không ăn quá giờ giữ giới Sa-di, suốt đời không cầm giữ vàng bạc và tiền giữ giới Sa-di, xin luôn luôn ghi nhớ như vậy.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ tôn giả A-nan có một người đàn việt quen biết, cả nhà ông bị một cơn bệnh dịch chết hết, chỷ còn một đứa nhỏ, nó thường nhặt những hạt gạo rơi nơi chợ búa để nuôi sống. Khi tôn giả A-nan đi ngang qua đó, đứa bé trông thấy, liền chạy theo sau gọi: "Ông! Ông!". Nhưng A-nan không nghe nên cứ đi tới, liền bị người đời chê trách:
- Vì sao Sa-môn Thích tử khi người ta còn cha thì tìm cách làm thân như cha như con, bây giờ thấy người ta suy vi tan tác thì không đoái hoài đến, khiến đứa bé chạy theo kêu không ngừng?
A-nan nghe thế, quay nhìn lại biết được, liền gọi:
- Con lại đây.
Thế rồi, đứa bé đi theo sau A-nan về tinh xá Kỳ Hoàn. Phật thấy thế, tuy biết mà vẫn hỏi:
- Con của ai vậy?
A-nan bèn đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn, rồi hỏi:
- Bạch Thế Tôn! Ðứa bé này có xuất gia được không?
- Ông dùng tâm gì mà độ nó?
- Tâm từ mẫn, bạch Thế Tôn!
- Xuất gia được!
- Bạch Thế Tôn! Cho xuất gia bằng cách nào?
- Như trường hợp cho La Hầu La xuất gia ở trên đã nói rõ.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, có một người già cả xuất gia, rồi an cư tại một thôn xóm. Sau khi an cư xong, thầy dẫn theo 10 Sa-di đi đến thăm viếng Thế Tôn. Khi ấy, Thế Tôn đang ngồi ở chỗ trống, vị Tỳ-kheo già ấy từ xa trông thấy Thế Tôn, bèn chỷ, nói với các Sa-di:
- Ðấy là ông Tổ của các ngươi đó.
Khi ấy, các chú Sa-di nhỏ bèn tranh nhau chạy trước đến chỗ Phật, rồi đứa thì nắm giường ghế, đứa thì nắm y kéo, đứa thì rờ bàn chân, đứa thì cầm bình nước. Phật biết mà vẫn hỏi thầy:
- Ðó là các Sa-di của ai vậy?
- Của con đó, bạch Thế Tôn!
- Vì sao ông độ nhiều Sa-di như vậy? Từ nay về sau, Ta không cho phép nuôi nhiều Sa-di. (461a) Nếu nuôi một lần thì tối đa chỷ được nuôi ba người. Nếu Tỳ-kheo có đức lớn được nhiều người tôn trọng (muốn làm đệ tử) thì nên gởi gấm cho người khác độ họ, rồi thưa rằng:
- Tôi biết có người chỷ muốn theo thầy tụng Kinh nghe pháp để tăng trưởng việc tu học, vì vậy xin gởi họ cho thầy.
Nên nói như vậy để gởi gấm cho người khác, nhờ họ dạy dỗ giúp. Nếu ai nuôi nhiều Sa-di, thì phạm tội Việt -tỳ-ni .
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, có thầy Tỳ-kheo dẫn một Sa-di về nhà thăm bà con. Khi đi qua chặng đường ở vùng hoang dã, bỗng có một phi nhân hóa làm rồng, đi nhiễu quanh bên phải Sa-di, dùng hoa rải lên người, rồi tán thán:
- Lành thay! Ông được lợi ích rất lớn, vì đã bỏ nhà xuất gia, không cầm vàng bạc và tiền.
Vị Tỳ-kheo về nhà người thân thăm hỏi xong rồi, định trở về lại tinh xá thì bà vợ của người thân nói với Sa-di:
- Nay chú trở về, đường sá xa xôi, sợ e thiếu thốn, vậy hãy cầm theo số tiền này khi đến chợ quán sẽ dễ bề chi dụng.
Sa-di bèn nhận lấy, rồi cột vào trên đầu y mà đi. Khi đến giữa đường, phi nhân trông thấy Sa-di cầm tiền đi theo sau Tỳ-kheo, liền hóa làm rồng đi nhiễu bên trái Sa-di, rồi hốt bụi ném lên Sa-di, nói như sau:
- Ông đã mất lợi ích rồi, xuất gia tu hành mà còn cầm tiền đi.
Sa-di liền khóc. Thầy Tỳ-kheo ngoái lại thấy thế hỏi Sa-di:
- Vì sao ông khóc?
- Con không nhớ là mình có lỗi gì mà vô cớ bị não loạn.
- Ông có cầm vật gì không?
- Con có cầm số tiền này đây.
- Hãy vứt bỏ đi.
Sau khi vứt bỏ, phi nhân lại cúng dường như trước. Thầy Tỳ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy:
- Từ nay về sau Ta không cho phép Sa-di cầm vàng bạc và tiền. Nếu Tỳ-kheo sai Sa-di lần đầu tiên cầm vàng bạc và tiền thì phạm tội Việt -tỳ-ni . Nhưng nếu thấy Sa-di trước đó đã cầm, rồi sau bảo cầm thì không có tội.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, được chư thiên và người đời cúng dường, như trên đã nói rõ. Bấy giờ, sau khi ăn xong, tôn giả Ðại Mục Liên cùng với Sa-di Chuyên-đầu đi đến bên ao A-Nậu ở Diêm-phù-đề ngồi thiền. Lúc ấy, Sa-di Chuyên-đầu thấy những hạt cát vàng ở bên ao, liền suy nghĩ: "Nay ta hãy gói các viên sỏi này đem về để dưới bình tắm của Thế Tôn". Thế rồi, tôn giả Mục Liên sau khi xuất thiền, bèn dùng thần túc đi trên hư không trở về tinh xá. Còn Sa-di Chuyên-đầu thì bị phi nhân giữ lại. Khi ấy, Mục Liên bèn quay lại, thấy Sa-di liền gọi đến. Sa-di nói:
- Con không thể đến được.
- Ông có cầm vật gì sao?
- Con có cầm những hạt cát vàng.
- Ông hãy vứt bỏ đi.
Sau khi Sa-di bỏ rồi, liền nương hư không mà đi. Các Tỳ-kheo đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
- (461b) Từ nay về sau, Ta không cho phép Sa-di cầm vàng bạc và tiền.
Lại nữa, khi Phật an trú tại tinh xá của dòng họ Thích, ở bên cây Ni-câu-luật, tại nước Ca-duy-la-vệ, có các đàn việt thiết lễ cúng dường trai phạm cho chúng Tăng. Lúc ấy, trong vườn có một Sa-di đang đuổi chim, xua ruồi, nhặt các thứ cơm, xương, rau quả rơi mà ăn ; nhằm lúc có các bà mẹ vốn có lòng thương cảm, thấy thế liền nói như sau:
- Sa-môn Thích tử không có lòng từ, ăn không bình đẳng, giống như nuôi nghé con, trước cho bú rồi sau bỏ đói. Nay đây, Tỳ-kheo nuôi đứa bé này mà không cho ăn, chỷ ăn một mình. Ðây là hạng người bại hoại, nào có đạo hạnh gì!
Các Tỳ-kheo đem sự việc ấy bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật liền dạy:
- Từ nay về sau, người xuất gia khi ăn nên cho ăn bình đẳng. Về phần Sa-di thì gồm có ba phẩm bậc như sau:
1) Từ 7 tuổi đến 13 tuổi gọi là Sa-di đuổi quạ (Khu ô Sa-di)
2) Từ 14 đến 19 tuổi gọi là Sa-di đúng pháp (Ứng pháp Sa-di)
3) Từ 20 đến 70 tuổi gọi là Sa-di trên danh nghĩa (Danh tự Sa-di)