Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 3

Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 3

Tác giả: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Dịch giả: Thích Phước Sơn. Hiệu đính Hán Văn: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 551.

Chương 58: Phép Dùng Lương Khô. Phép Dùng Nước Trái Cây (Trang 462 - 465)

- Ăn tất cả các loại rau không phải là ăn nhiều lần, không phải là ăn biệt chúng, không phải là ăn no. 
Về rau gồm có các loại: rau khô, rau cải, hành, bầu. v.v... tương tự những loại như vậy đều gọi là rau. 
PHÉP DÙNG LƯƠNG KHÔ.
Lương khô gồm có các loại: lương khô đại mạch, tiểu mạch, khoáng mạch, mông cụ, Ma-sa, Ca-la-na, Y_ly, mè. Các loại lương khô tương tự như vậy khi ăn không được xem là ăn biệt chúng, ăn nhiều lần, ăn no. Đó gọi là phép dùng lương khô. 
PHÉP DÙNG NƯỚC TRÁI CÂY.
Khi Phật an trú tại thành Vương xá, lúc ấy cư sĩ Ưu- già-lê mở hội bố thí lớn gồm voi, ngựa, nô tì mỗi thứ 500 và trong các vật bố thí linh tinh khác có nước ép trái cây để lâu ngày, do đó các Tỳ-kheo uống vào bị say. Họ bèn đem sự việc ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy:
- Từ nay về sau, nước ép trái cây để lâu ngày, Ta không cho phép uống. 
Lại nữa, khi Phật an trú tại thôn của Bà-la-môn Tần Đầu, ở núi phía Nam, lúc ấy nhằm ngày lễ hội, các Bà-la-môn, cư sĩ đem các thức ẩm thực cúng dường cho các Sa-môn ở trong thôn. Bấy giờ, đến giờ khất thực, đức Thế Tôn khoác y, cầm bát vào thôn khất thực. Khi ấy, ma ba tuần suy nghĩ: "Sa-môn Cù Đàm đang vào thôn khất thực, vậy ta hãy vào trước trong thôn mê hoặc tâm của những đàn việt, khiến họ không cúng dường thực phẩm cho ông ta". Thế rồi, đức Thế Tôn vào thôn khất thực khắp mọi chỗ mà không được thứ gì nên mang bát không
trở ra, đến ngồi dưới một gốc cây. Lúc ấy, ma ba tuần suy nghĩ: "(464a) Sa-môn Cù Đàm đi khất thực khắp nơi mà không được thứ gì, giờ đây ta hãy đến quấy nhiễu làm cho tâm ý ông rối loạn". Tức thì y đến chỗ Phật, đứng qua một bên, nói như sau: 
- Sa-môn Cù Đàm! Nên vào thôn khất thực, ta sẽ khiến cho lúc vừa vào đến thôn, liền được các món ăn ngon. 
Khi ấy, Thế Tôn vì ma ba tuần đọc kệ như sau: 
Nay ngươi mất lợi ích  
Vì nhiễu loạn Như Lai,  
Tự chuốc vô lượng tội,  
Như Lai chẳng khổ sầu,  
Vì đã lìa phiền não,  
Thường được sống an lạc.  
Niệm pháp vui thiền định,  
Giống như Quang Âm Thiên. 
Lúc ấy, ma ba tuần bỗng nhiên biến mất. Thế là ngày hôm ấy Thế Tôn không được ăn. Các Tỳ-kheo nghe được tin này, những ai đã ăn thì hối hận, những ai ăn nửa chừng thì nghỷ ăn, còn những ai chưa ăn thì không ăn. Các Sa-môn, Bà-la-môn nghe tin Phật và Tỳ-kheo Tăng không được ăn, liền đem 500 chiếc bánh đường phèn đến dâng lên Thế Tôn. Phật bảo các Tỳ-kheo dùng nước tác tịnh rồi nhận lấy, để những Tỳ-kheo bệnh hay không bệnh cũng đều được ăn cả. 
Lại nữa, khi Phật an trú bên sông Lê-Kỳ-xà, lúc ấy, bát của Thế Tôn và bát của Tỳ-kheo đều để ở chỗ  trống.
Bỗng có con khỉ đi ngang qua bụi cây, thấy trong cây có tổ ong mật đã chín mà không có ong, liền đến lấy bát của Thế Tôn. Các Tỳ-kheo ngăn cản nó, Phật dạy: 
- Đừng có ngăn cản, nó không có ác ý đâu. 
Thế là con khỉ bèn cầm bát đi lấy mật đem lại cúng dường. Thế Tôn chưa nhận, định dùng nước tác tịnh rồi mới nhận. Con khỉ không hiểu ý Phật, tưởng là Phật chê trong bát có trùng. Nó xem lại bát thì thấy có vết mật chảy ở ngoài bát. Nó liền cầm bát đem xuống nước rửa và nước đã rơi vào trong bát. Đoạn, nó cầm đến dâng lên cho Phật, Phật liền nhận lấy. Khi được Phật nhận rồi, con khỉ vui mừng cực độ, nên vừa đi vừa múa, nhưng rủi thay bị rơi xuống hầm, chết liền tức khắc. Lúc ấy, các Tỳ-kheo liền đọc kệ: 
Khi Phật an trú tại rừng cây 
Bát Phật, bát Tăng để chỗ trống 
Dã thú có trí muốn gieo phúc,  
Thấy tổ ong mật không có ong.  
Liền đi ngay đến lấy bát Phật,  
Tỳ-kheo định ngăn, Phật không cho.  
Lấy bát đựng mật dâng lên Phật 
Như Lai xót thương, liền nhận lấy.  
Lòng mừng khắp khởi nhảy tung tăng,  
Rủi rơi xuống hố liền vong mạng.  
Bèn sinh cõi trời Ba mươi ba,  
Tái sinh xuất gia thành La Hán. 
Lại nữa, khi Phật du hành nước Ương-cầu-đa-la, lúc ấy, phạm chí Kê-ni-da-loa-kế nghe Thế Tôn đến bèn
chuẩn bị các loại nước ép trái cây để đợi Thế Tôn. Khi Thế Tôn đến, (464b) ông đem các loại nước ấy dâng lên Phật và chúng Tăng. Các Tỳ-kheo tâm sinh nghi, nghĩ rằng: "Đức Thế Tôn chế giới không cho phép uống nước ép trái cây để lâu ngày thì làm sao chúng ta uống được?" Nghĩ thế rồi, các Tỳ-kheo đem ý nghĩ ấy đến bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: 
- Ta cho phép được uống nước trái ép. Nước trái ép gồm có mười bốn loại. Mười bốn loại đó là gì? Đó là: 
1- Nước am la.  
2- Nước câu lê.  
3- Nước an thạch lựu.  
4- Nước điên đa.  
5- Nước nho.  
6- Nước ba lâu sa.  
7- Nước lâu lâu trù.  
8- Nước trái chuối.  
9- Nước kế già đề.  
10- Nước kiếp pha la.  
11- Nước ba lung cừ.  
12- Nước đường phèn.  
13- Nước ha lê đà.  
14- Nước khư phi lê. 
Đó gọi là mười bốn loại nước trái cây ép. Khi đem lọc cho sạch thì tất cả đều cho phép uống. Nếu chúng biến ra màu rượu, vị rượu, mùi rượu thì tất cả đều không cho phép uống. 
Nếu có ai mang nước ép trái cây đến thì nên tác tịnh. 
Nếu dưới đáy hũ còn lại chút ít nước lạnh thì đó được xem là tác tịnh. 
Nếu trời mưa, nước rơi vào trong hũ cũng được xem là tác tịnh. 
Nếu khi súc hũ còn sót lại chút nước cũng được xem là tác tịnh.
/64
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »