GIÁ0 HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
-----oOo- -----
Hán dịch : TAM TẠNG PHẬT ĐÀ BẠT ĐÀ LA – SA-MÔN PHÁP HIỂN
( Dịch vào đời Đông Tấn)
LUẬT
MA HA TĂNG KỲ
(Mahàsanghika)
No 1425
TRỌN BỘ 4 TẬP
Việt dịch : TT.Thích Phước Sơn
Chứng nghĩa : HT. Thích Đổng Minh
TẬP 3 (Q.21-Q.30)
(Tái bản lần thứ ba)
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
HÀ NỘI – PL : 2554 – DL : 2011
Thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn !
Bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri
LUẬT
MA HA TĂNG KỲ
(Mahàsanghika)
TẬP 3
Hán dịch : TAM TẠNG PHẬT ĐÀ BẠT ĐÀ LA
người THIÊN TRÚC và
SA MÔN PHÁP HIỂN
(dịch vào đời ĐÔN TẤN)
Việt dịch : TT. THÍCH PHƯỚC SƠN
Chứng nghĩa : HT. THÍCH ĐỒNG MINH
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
(394C)
QUYỂN THỨ HAI MƯƠI MỐT
NÓI RÕ PHẦN THỨ MƯỜI CỦA CHÍN MƯƠI HAI PHÁP ÐƠN ÐỀ.
89. GIỚI: VÔ CỚ VU KHỐNG NGƯỜI KHÁC.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ tôn giả Ðà-phiêu-ma-la-tử được Tăng cử làm quản lý trông coi chín việc như trước đã nói, cho đến Ðà-phiêu-ma-la-tử có ngón tay út bên phải phóng quang sáng, theo thành phần mà giao phòng: A-luyện-nhã ở chung với A-luyện-nhã, khất thực ở chung với khất thực, y phấn tảo ở chung với y phấn tảo, người ăn một lần ở chung với người ăn một lần, thường ngồi ở chung với người thường ngồi, ngồi ở chỗ trống ở chung với người ngồi ở chỗ trống, nệm cỏ ở chung với người nệm cỏ, đọc kinh ở chung với người đọc kinh, pháp sư ở chung với pháp sư, học Luật ở chung với người học Luật, A-la-hán ở chung với A-la-hán, Tam-minh ở chung với Tam-minh, Lục thông ở chung với Lục thông, không oai nghi ở chung
với không oai nghi. Khi ấy, nhóm sáu Tỳ-kheo nói với Ðà-Phiêu:
- Thưa Trưởng lão! Cho sáu người chúng tôi ở chung một chỗ.
- Ðợi vị Hạ tọa thấp nhất trong nhóm của các thầy đến lượt nhận phòng, rồi tùy ý mà ở chung.
Khi người bạn Hạ tọa của họ đến phiên được căn phòng xấu, giường nằm, giường ngồi, gối nệm các vật đều xấu xí cũ kỹ, và phòng ăn riêng cũng thô sơ tồi tàn, họ bèn bảo nhau:
- Trưởng lão Ðà-phiêu như là kẻ thù truyền kiếp của chúng ta, giao cho chúng ta căn phòng xấu xí, thức ăn tồi tệ. Nếu vị Trưởng lão này còn sống lâu trong đời sống phạm hạnh thì chúng ta còn bị đau khổ vô cùng. Nhưng Thế Tôn chế giới không cho phép vô cớ vu khống người khác phạm tội Ba-la-di, nay ta hãy vu khống ông ấy phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa.
Ðoạn, họ đi đến chỗ Ðà-phiêu, nói như sau:
- Trưởng lão, ông phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa.
- Tôi không phạm tội đó.
- Có ai ăn trộm mà lại tự bảo mình là kẻ trộm! Thế nhưng, ông đã phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa.
Ðoạn, họ đi đến chỗ vắng, đi đến chỗ nhiều người, đi đến giữa chúng Tăng vu khống Tỳ-kheo Ðà-phiêu phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa. Khi ấy, Tỳ-kheo Ðà-phiêu bèn đem sự việc đó đến bạch lên Thế Tôn. Phật liền hỏi:
- Ông có việc đó không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn.
- Ông không có tội ấy, Thế Tôn biết ông thanh tịnh.
- Bạch Thế Tôn, tuy Thế Tôn biết con vô tội, nhưng mong Thế Tôn hãy khiến cho những người kia cũng tin như vậy, chớ để họ vu khống mãi mà mất lợi ích.
- (395a) Vậy hãy gọi nhóm sáu Tỳ-kheo đến đây.
Khi họ đến rồi, Phật bèn hỏi lại sự việc kể trên:
- Các ông có việc đó thật chăng?
- Có thật như vậy, bạch Thế Tôn.
- Ðó là việc ác. Các ông không từng nghe Ta dạy phải sinh lòng cung kính, dùng thân, miệng, ý thương xót các vị đồng phạm hạnh hay sao? Nay vì sao các ông lại vô cớ vu khống người khác phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa? Ðó là việc phi pháp, phi Luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc ấy để nuôi lớn thiện pháp được.
Ðoạn, Phật truyền lệnh cho các Tỳ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỳ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
Nếu Tỳ-kheo vì giận dữ không vui mà vô cớ vu khống Tỳ-kheo khác phạm Tăng-già-ba-thi-sa, thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Giải thích:
Giận dữ: Gồm chín việc não loạn và vô cớ nổi giận. Việc thứ mười là uất hận, thì kẻ phàm phu và người đang học vẫn còn. Nhưng tâm không vui thì A-la-hán vẫn còn.
Vô cớ: Việc đó vốn không có, không thấy, không nghe, cũng không nghi.
Tăng-già-ba-thi-sa: Nếu vu khống một trong mười ba việc này, thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Ba-dạ-đề: Như trên đã nói.
Khi có sự tức giận nhau giữa hai Tỳ-kheo thanh tịnh và không thanh tịnh, rồi người thanh tịnh hỏi người kia:
- Thầy thấy tôi phạm tội nào trong mười ba việc, tội thứ nhất hay tội thứ hai?
Người kia không thấy, không nghe, không nghi, không chắc chắn, mà ở chỗ vắng, chỗ nhiều người, giữa chúng Tăng nói như sau:
- Tôi thấy thầy phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa, tôi nghe thầy phạm tội Tăng-già-ba-thi-sa, tôi nghi thầy phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Nhưng nghe không đúng sự thật, căn cứ không đúng ; nghi không đúng sự thật, căn cứ không đúng ; những điều đã thấy, nghe và nghi đó đều hư dối ; thấy, nghe và nghi không phải như vậy, mà đối diện, bốn mắt nhìn nhau, nói lời hủy báng, thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu người kia thanh tịnh mà mình tưởng là không thanh tịnh, rồi vu khống họ phạm tội Thâu-lan-giá, muốn xua đuổi họ, thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu người kia không thanh tịnh mà tưởng là thanh tịnh, rồi vu khống họ phạm tội Việt-tỳ-ni, muốn xua đuổi họ, thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Nếu người kia thanh tịnh mà tưởng là thanh tịnh, rồi vu khống họ phạm tội Thâu-lan-giá, muốn xua đuổi họ, thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu người kia không thanh tịnh, mà tưởng họ không thanh tịnh, rồi hủy báng, thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu vu khống Tỳ-kheo thì phạm tội Ba-dạ-đề ; vu khống Tỳ-kheo-ni thì phạm tội Thâu-lan-giá ; vu khống Thức-xoa-ma-ni, Sa-di, Sa-di ni thì phạm tội Việt-tỳ-ni ; vu khống người thế tục, thì phạm tội Việt-tỳ-ni tâm niệm sám hối. Thế nên nói (như trên).