- Từ nay về sau, khi an cư mùa mưa, nếu có người bận công việc của Tháp, của Tăng thì nên làm Yết-ma cầu thính. Người làm Yết-ma nên bạch:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Tỳ-kheo mỗ giáp an cư mùa mưa tại đây. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cho Tỳ-kheo mỗ giáp an cư mùa mưa tại đây - Vì công việc của Tháp của Tăng được đi ra ngoài cương giới lo công việc rồi trở về lại trú xứ này.
Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Tỳ-kheo mỗ giáp vì công việc của Tháp, của Tăng đi ra ngoài cương giới lo công việc rồi trở về lại trú xứ này an cư. Vì Tăng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.
Nếu có trường hợp như trên vì tháp (415a), vì Tăng, đi tìm kiếm các thứ như y, bát, bát nhỏ, tô, dây thắc lưng và tất cả các vật khác, thì ít nhất cũng phải tìm được một vật. Nếu không được gì cả, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Khi công việc xong nên trở về, hoặc nửa tháng, một tháng, hai tháng, cho đến sau khi Tự-tứ phải trở về. Nếu không trở về thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu trên đường có bọn cướp nguy hiểm vì sợ mất mạng, phải Tự-tứ ở đó, thì không có tội.
Ðó gọi là phép An cư.
PHÉP TỰ TỨ.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ các Tỳ-kheo du hành đến nước Câu-tát-la, thấy một khu rừng ở gần sông Cừ-ma-đế. Trong rừng có một cây Tát-la to lớn, rổng ruột, tàng cây rậm rạp sum sê, dưới cây bằng phẳng rộng rãi, cách Thôn xóm không xa,
không gần. Thấy thế, các Tỳ-kheo thầm nghĩ: "Ở đây an cư rất tốt". Kẻ trước, người sau, ai nấy trông thấy cũng đều nghĩ thế. Ðến ngày an cư, một Tỳ-kheo đến đó trước, dọn dẹp xung quanh cây khoảng khoát, đặt y bát, rồi trải cỏ mà ngồi. Trong chốc lát lại có Tỳ-kheo khác đến, hỏi:
- Trưởng lão muốn an cư ở đây sao?
Thầy đáp:
- Vâng, ở đây rất tốt.
Cứ tiếp tục như vậy đến sáu mươi người. Thế rồi, người đến trước hỏi các Tỳ-kheo đến sau:
- Các trưởng lão đều muốn an cư ở đây cả sao?
Họ đáp:
- Vâng, ở đây rất tốt. Trong cây này có thể cất được y bát, còn xung quanh bên trái bên phải thì đủ chỗ để an cư.
Khi thọ an cư xong, họ bàn nhau:
- Thưa các Trưởng lão, chúng ta nên quy định điều gì để được sống an lạc?
Mọi người đáp:
- Ðời sống phải lo âu khổ não đều do thân và miệng. Chúng ta đã được nơi yên tịnh thế này hãy cùng nhau yên lặng, vậy hãy cam kết không được nói chuyện.
Sau khi cam kết không nói chuyện, họ tuân thủ suốt ba tháng, rồi an cư xong họ trở về thành Xá-vệ, đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu đảnh lễ dưới chân, đứng hầu một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi:
- Này các Tỳ-kheo, các ông an cư ở đâu?
- Bạch Thế Tôn, tại mỗ xứ.
- Có ít bệnh, ít khổ não, khất thực không khó khăn, hành đạo đúng pháp, sống an lạc không?
- Bạch Thế Tôn, ít bệnh, ít khổ não, khất thực dễ dàng, sống an lạc, im lặng trong ba tháng, rồi từ biệt nhau ra đi.
- Ðó là việc xấu. Như thế chẳng khác gì oan gia sống với nhau, lẽ ra nên nói chuyện với nhau mới phải.
Lại nữa, khi Phật an trú tại thành Xá-vệ, nói rộng như trên. Bấy giờ, A-na-luật, Kim-tỳ-lư, Bạt-đề cùng nhau an cư tại núi Tháp. Khi an cư xong, họ trở về thành Xá-vệ, đi đến chỗ Phật cúi đầu đảnh lễ dưới chân, rồi đứng hầu một bên. Phật biết nhưng vẫn hỏi:
- Các ông an cư ở đâu?
- Bạch Thế Tôn, tại mỗ xứ.
- Này các Tỳ-kheo, có ít bệnh, ít khổ não, khất thực không khó khăn, hành đạo (451a) đúng pháp, sống an lạc không?
- Bạch Thế Tôn, ít bệnh, ít khổ não, khất thực dễ dàng, sống im lặng an lạc ba tháng không nói chuyện, rồi từ biệt nhau.
- Ðó là việc xấu, giống như oan gia sống với nhau. Từ nay về sau Ta không cho phép không nói chuyện với nhau. Nếu muốn thuận lợi, ít việc thì có thể không nói trong nửa tháng; nhưng đến ngày Bố-tát thì phải nói năng, chào hỏi, vấn an chúc tụng nhau. Qua ngày Bố-tát thì lại tiếp tục như trước. Nếu vì kiêu căng, giận dữ mà không nói chuyện với nhau th́ phạm tội Việt-tỳ-ni.
Thế rồi, Phật nói với các Tỳ-kheo:
- Kể từ hôm nay v́ các đệ tử Ta chế định phép Tự-tứ gồm các vấn đề: 1) Ba tháng; 2) Nói ba việc; 3) Kết thúc an cư; 4) An cư ở đâu Tự-tứ ở đó; 5) Từ Thượng tọa; 6) Hòa hợp.
1) Ba tháng: Từ ngày 16 tháng Tư đến ngày 15 tháng bảy.
2) Nói ba việc: Thấy, nghe và nghi.
3) Kết thúc an cư: Tiền an cư từ ngày 16 tháng tư đến ngày 15 tháng bảy. Hậu an cư từ ngày 16 tháng năm đến ngày 15 tháng tám. Nếu trong chúng an cư có một người tiền an cư thì đến ngày 15 tháng bảy tất cả chúng đều đồng loạt thọ Tự-tứ với người này. Nhưng khi Tự-tứ xong phải ở lại cho đến ngày 15 tháng tám. Nếu tất cả đều hậu an cư thì tất cả đều phải Tự-tứ vào ngày 15 tháng tám. Ðó gọi là kết thúc an cư.
4) An cư ở đâu Tự-tứ ở đó: Nếu Tỳ-kheo an cư trong thôn xóm rồi nghe trong thành đến ngày Tự-tứ có cúng dường các phẩm vật và thuyết pháp suốt đêm, mà cả chúng đều muốn đến dự thì nên Tự-tứ ngày 14 xong rồi mới đi. Nếu an cư nơi này mà Tự-tứ nơi khác thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
5) Từ Thượng Tọa: Không được theo thứ tự ngược từ nhỏ trở lên mà phải theo thứ tự từ Thượng tọa trở xuống; không được đặt người từng hàng theo lối sớt thêm thức ăn; không được việt vị; không được xướng tổng quát rằng:
- Tất cả Đại đức Tăng nếu thấy nghe nghi tội thì tự do nói. Ðó gọi là từ Thượng tọa.
Tăng nên cử một người thành tựu năm pháp làm người nhận Tự-tứ. Hoặc một, hoặc hai người, không thể nhiều hơn. Rồi người làm Yết-ma nên bạch:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Tỳ-kheo mỗ giáp, mỗ giáp thành tựu năm pháp. Nếu thời gian của Tăng đã đến, Tăng cử Tỳ-kheo mỗ giáp, mỗ giáp làm người nhận Tự-tứ.
Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Tỳ-kheo mỗ giáp mỗ giáp làm người nhận Tự-tứ, vì Tãng đã bằng lòng nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.
Người nhận Yết-ma rồi nên nói như sau:
- Xin Đại đức Tăng lắng nghe. Thời gian Tự-tứ đã đến. Nếu thời gian của Tăng thích hợp thì tất cả Tăng đều Thọ Tự-tứ. Ðây là lời tác bạch.
Thế rồi, người Tự-tứ trước nhất bắt đầu từ Thượng tọa. Thượng tọa phải trật vai áo bên phải (451c) quỳ gối, chắp tay nói (với người nhận Tự-tứ) như sau:
- Xin trưởng lão ghi nhớ cho. Hôm nay ngày 15 Tăng Tự-tứ. Tôi là Tỳ-kheo mỗ giáp, nếu có tội do thấy, nghe hay nghi xin trưởng lão và Tăng xót thương nói cho Tôi biết. Nếu thấy biết mình có tội, tôi sẽ đoạn trừ đúng pháp". (nói như thế ba lần).
Kế tiếp đến người thứ hai. Người thứ hai này nếu là Hạ tọa thì phải cúi đầu sát dưới chân, nói (như trên, chỉ có tiếng Ðại đức là khác). Nếu hai người cùng làm người nhận Tự-tứ, thì một người nhận Thượng tọa Tự-tứ, còn một người nên rời khỏi chỗ ngồi xuống đứng phía trước. Khi Thượng tọa nói Tự-tứ xong thì tiếp đến Hạ tọa nói. Cứ như thế lần lượt theo thứ tự đến người cuối cùng. Bản
thân người nhận Tự-tứ phải Tự-tứ trước, chứ không được nhận Tăng Tự-tứ rồi mình mới Tự-tứ sau.
6) Hòa hợp: Không được thọ Tự-tứ trong lúc Tăng không hòa hợp. Không được gởi dục thọ Tự-tứ. Nếu có người bệnh thì phải đem họ đến. Nếu đem đến e nguy đến tính mạng thì Tăng nên tề tựu bên giường (để Tự-tứ). Nếu bệnh nhân nhiều thì nên khiêng cả giường đến, rồi đặt cạnh giường liên tiếp nhau. Nếu khiên giường đến e lâm nguy đến tính mạng, thì các Tỳ-kheo không bệnh nên ngồi nối tiếp nhau (từ chỗ người bệnh đến chỗ Tự-tứ). Nếu ngồi không tiếp giáp, thì những Tỳ-kheo không bệnh nên ra ngoài cương giới Tự-tứ; còn Tỳ-kheo bệnh thì Tự-tứ trong cương giới. Trong trường hợp đại chúng đông, hoặc một vạn, hai vạn thì nên vân tập tất cả một chỗ, hoặc là giảng đường, trai đường, nhà tắm để thọ Tự-tứ. Còn những người khác thì vừa xỉa răng, vừa đi đại tiểu tiện, vừa ăn, cứ như thế suốt ngày thông qua đêm, đều phải ở nơi đó mà Tự-tứ cho đến trước rạng đông hôm sau, không được rời khỏi chỗ, không được đi xa. Nếu đại chúng đông đến sáu vạn, tám vạn người, sợ làm không rốt ráo, thì nên đem bớt một số ra ngoài cương giới Tự-tứ. Hoặc một người thọ Tự-tứ, hoặc hai người nói, hoặc ba người, bốn người nói Tự-tứ. Còn trường hợp năm người thì phải Tự-tứ đầy đủ.
Một người thọ: Khi một Tỳ-kheo an cư trong thôn xóm, đến ngày Tự-tứ phải quét tháp và Tăng viện. Nếu có người đến thì nên dùng nước thơm rưới trên đất, rải hoa, đốt đèn. Nếu bản thân có tội thì nên thầm nhủ: "Nếu gặp được Tỳ-kheo thanh tịnh đến thì ta sẽ đoạn trừ
tội này đúng như pháp". Thầm nhủ như thế rồi, phải quỳ gối, chắp tay, tâm niệm, miệng nói: "Nay Tăng Tự-tứ ngày 15, tôi là Tỳ-kheo mỗ giáp Thanh tịnh Thọ Tự-tứ". (nói như vậy ba lần).
Hai người nói: Khi có tội thì sám hối với nhau đúng pháp, rồi trật vai áo bên phải, quỳ gối, chắp tay, nói: "Xin trưởng lão ghi nhớ cho, hôm nay Tăng Tự-tứ ngày 15, nếu tôi có tội do thấy, nghe hoặc nghi, xin trưởng lão xót thương nói cho tôi biết. Nếu tôi tự thấy hay biết mình có tội, tôi sẽ đoạn trừ đúng pháp". (nói như thế ba lần).
Trường hợp ba người, bốn người cũng nói như trên. Nhưng trường hợp năm người thì nên Tự-tứ đầy đủ.
(452a) Tóm lại, trên đây là phép Tự-tứ.
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hết quyển thứ hai mươi bảy