đen, quá trắng, quá vàng, quá đỏ, quá cao, quá lùn, quá thô, quá bé. Vì lẽ, những kẻ có hình dáng xấu xí thì khi người ta vui vẻ còn không muốn nhìn, huống gì khi người ta tức giận. Do đó, những người có hình dáng xấu xí không nên cho xuất gia. Nếu đã xuất gia thì không nên đuổi đi. Nếu ai độ họ xuất gia Thọ Cụ túc thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Ðó gọi là những hình dáng xấu xí.
Nếu rơi vào trong 32 trường hợp trên thì không thể gọi là Thọ Cụ túc. Trái lại, nếu thanh tịnh, như pháp thì gọi là thọ Cụ túc.
Bây giờ đề cập đến vấn đề Yết-ma và việc Yết-ma.
YẾT-MA.
Khi Phật an trú tại Thành Xá-vệ, các Tỳ-kheo ở Chiêm-bà nổi lên tranh chấp, sống không hòa hợp. Một Tỳ-kheo cử tội một Tỳ-kheo, hai Tỳ-kheo cử tội hai Tỳ-kheo, nhiều Tỳ-kheo cử tội nhiều Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo bèn đem sự kiện ấy đến bạch lên Thế Tôn. Phật dạy: "Từ nay về sau, Ta không cho phép một người cử tội một người, cho đến nhiều người cử tội nhiều người". Ðoạn, Phật nói với các Tỳ-kheo: "Từ nay về sau nên làm Yết-ma.
Yết-ma gồm có: Bốn loại Yết-ma, hai loại Yết-ma, một lần bạch một lần Yết-ma, một lần bạch ba lần Yết-ma, bốn người làm Yết-ma, năm người làm Yết-ma, mười người làm Yết-ma, hai mươi người làm Yết-ma, nếu thành tựu năm điều phi pháp, không hòa hợp thì làm Yết-ma xong phải sám hối; nếu thành tựu năm điều như pháp, hòa hợp thì làm Yết-ma xong không sám hối".
1) Bốn loại Yết-ma: Gồm có: phi pháp hòa hợp Yết-ma; như pháp bất hòa hợp Yết-ma; như pháp hòa hợp Yết-ma; bất như pháp bất hòa hợp Yết-ma. Ðó gọi là bốn loại Yết-ma.
2) Hai loại Yết-ma: Bố tát Yết-ma; cung kính Yết-ma. Ðó gọi là hai loại Yết-ma.
3) Một lần bạch một lần Yết-ma: Gồm có hai mươi tám vấn đề, đó là:
1) Xuất Yết-ma; 15) Trông coi việc giữ y;
2) Ngủ không lìa y; 16) Trông coi việc thưởng y;
3) Ngủ rời y; 17) Trông coi việc chia y;
4) Chỷ chỗ làm phòng; 18) Trông coi việc lấy vải;
5) Chỷ chỗ làm phòng lớn; 19) Trông coi việc cắt vải;
6) Chỷ chỗ làm phòng trước; 20) Trông coi việc chia vải;
7) Người chia bát; 21) Trông coi việc chia hoa;
8) Người chia thăm (thẻ); 22) Trông coi việc chia hương;
9) Thử nghiệm ngoại đạo; 23) Trông coi việc chia quả;
10) Cột túi xách vào gậy vác đi; 24) Trông coi việc chia nước nóng;
11) Trông coi giường nệm; 25) Trông coi việc chia bánh;
12) Trông coi việc nấu ăn; 26) Trông coi việc tùy ý cử tội;
13) Trông coi việc phân phối người đi ăn; 27) Trông coi việc chia cháo;
14) Trông coi việc chia phòng; 28) Trông coi việc chia các vật lặt vặt.
Ðó gọi là 28 việc.
4) [422b] Một lần bạch ba lần Yết-ma: Gồm có tám trường hợp, đó là: 1) Chiết phục; 2) Không nói; 3) Tẫn xuất; 4) Phát hỷ; 5) Cử tội; 6) Biệt trú; 7) Ma-na-đỏa; 8) Xuất tội. Ðây thuộc về một lần bạch ba lần Yết-ma.
5) Yết-ma gồm bốn người: Như Yết-ma Bố tát và các trường hợp cử người thì bốn người có thể làm được. Ðó gọi là Yết-ma gồm bốn người.
6) Yết-ma gồm năm người: Gồm các trường hợp: Thọ Tự-tứ; Thọ Cụ túc ở Thâu na biên địa; tất cả các tội Ni-tát-kỳ thì năm người có thể làm được. Ðó gọi là Yết-ma gồm năm người.
7/ Yết-ma gồm mười người: Gồm các trường hợp: Tỳ-kheo thọ Cụ túc; Tỳ-kheo-ni thọ Cụ túc, thì mười người được làm. Ðó gọi là Yết-ma gồm mười người.
8) Yết-ma gồm hai mươi người: Xuất tội Tỳ-kheo, xuất tội Tỳ-kheo-ni (?) thì hai mươi người được làm. Ðó gọi là Yết-ma gồm hai mươi người.
9) Làm Yết-ma trong năm trường hợp phi pháp thì làm xong phải sám hối: 1) Ðương sự không hiện diện; 2) Không hỏi; 3) Không nêu lỗi; 4) Làm phi pháp; 5) Không hòa hợp. Ðó gọi là làm Yết-ma trong năm trường hợp phi pháp, làm xong phải sám hối.
10) Làm Yết-ma trong năm trường hợp như pháp, làm xong không sám hối: 1) Ðương sự hiện diện; 2) Có hỏi; 3) Hỏi xong bèn nêu lỗi; 4) Làm đúng pháp; 5) Tăng hòa hợp. Ðó gọi là làm Yết-ma thuộc năm trường hợp đúng pháp, làm xong không sám hối.
Trường hợp nào cần hai mươi người làm Yết-ma thì mười người làm không thành tựu. Trường hợp cần mười người làm Yết-ma thì năm người làm không thành tựu. Trường hợp cần năm người làm Yết-ma thì bốn người làm không thành tựu. Trường hợp cần một lần bạch ba lần Yết-ma thì một lần tác bạch không thành tựu. Trường