GIẢI ĐÁP VẤN ĐỀ TRONG KỲ PHẬT THẤT THỨ HAI NĂM 2005
Hỏi: Sao gọi là mùa đông ngồi thiền mùa hạ giảng dạy?
Đáp: Theo tập quán tổ chức tu hành của Phật giáo “mùa đông ngồi thiền mùa hạ giảng dạy” vì mùa đông thời tiết lạnh, thích hợp cho Phật thất, thiền thất; Còn mùa hạ thích hợp với việc “kiết hạ an cư”, giảng dạy về Kinh điển và Giới luật. Nhưng không nên lầm rằng: Tự viện Phật giáo mùa đông thì không có hoạt động giảng dạy Kinh điển Giới luật, mùa hạ thì không có cử hành Phật thất, thiền thất.
Ví dụ câu “sáng hô chuông tối đánh trống” cho rằng Tự viện buổi sáng chỉ hô chuông, buổi tối chỉ đánh trống. Thật ra, đó là cách nói đối xứng thôi, tự viện buổi sáng sau khi hô chuông sáng, tiếp theo đánh trống, thứ tự ngược lại, buổi tối thì đánh trống xong sau đó hô chuông.
Ngoài ra, “mùa đông tổ chức ngồi thiền” là phối hợp với ý nghĩa học tập theo gương đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Thiền tông ở Nhật Bản, trước mùng tám tháng chạp (Phật giáo Bắc truyền lấy ngày mùng tám tháng mười hai âm lịch, kỷ niệm ngày thành đạo), cử hành thiền thất (cho đến bảy lần thiền thất), ngày cuối cùng sẽ xếp vào ngày “mùng tám tháng chạp”, gọi là ngày “mùng tám tháng chạp tiếp tâm”, lấy tâm truyền tâm, ấn chứng tâm pháp Thiền tông “minh tâm kiến tánh”.
Hỏi: Thầy có thể dạy rõ hơn năm tâm luân (suất nhĩ tâm, tầm cầu tâm, quyết định tâm, nhiễm tịnh tâm và đẳng lưu tâm)?
Đáp: Chúng ta có thể vận dụng “năm tâm luân” đối với quá trình học tập giới, định và tuệ. Học tập có phân “chủ thể học tập” (tâm niệm) và “đối tượng để học tập”. Không chỉ học tập là như vậy, mà trong kết cấu nhận thức đều là có “chủ thể" và “đối tượng”.
Ví dụ hiện tại tôi đang đứng ở trên bục giảng, có
chủ thể và nội dung biểu đạt, hai điều này phối hợp với nhau, mới khiến cho quý vị nghe được. Giả sử, trong tâm tôi suy nghĩ đến chuyện khác, như “chút nữa có thầy bạn đến đến tìm tôi”. Hai suy nghĩ này quấy nhiễu lẫn nhau.
Vì vậy trong sinh hoạt hàng ngày, có khi cần phải điều chỉnh cá nhân, để biết được hiện tại nên chuyên chú vào đâu.
Năng (tâm niệm) - sở (đối tượng).
Năm tâm luân.
Suất nhĩ tâm/ tầm cầu tâm/ quyết định tâm/ nhiễm tịnh tâm/ đẳng lưu tâm.
Vô minh nghiệp tướng/ năng kiến tướng/ cảnh giới tướng/ trí tướng (phân biệt tướng)/ tương tục tướng.
Tự chứng phần/ (năng kiến) kiến phần/ (tướng phần).
Tác dụng của nội tâm, thường có quá trình như vậy, khi các căn đối các trần, đầu tiên là “suất nhĩ tâm” nhanh, vi tế, tiếp đến là “tầm cầu tâm” tâm niệm của
năng kiến, hoặc gọi là “kiến phần”, đối tượng của sở kiến là “tướng phần”. Sau đó khi nhận thức được rõ ràng, gọi là “quyết định tâm”, “Luận Đại Thừa Khởi Tín” gọi là “cảnh giới tướng”.
Sau quyết định tâm thì có “nhiễm tịnh tâm”. Sau đó tiếp tục theo nhiễm tịnh gọi là “đẳng lưu tâm”. Nhiễm tịnh tâm là “trí tướng”, đẳng lưu tâm tức là “tương tục tướng” của “Luận Đại Thừa Khởi Tín”.
Sau đẳng lưu, tiếp tục xuất hiện một trạng thái tuần hoàn.
Thông thường nói suất nhĩ tâm nhanh, vi tế chỉ có một sát-na, tầm cầu tâm thì không nhất định, có khi một hoặc hai sát-na, đó là nói về năm tâm luân. Vì sao gọi là “luân”? Vì nó giống như đồng hồ tuần hoàn không ngừng.
Niệm Phật, tu hành hay làm việc tốt hoặc không tốt, muốn khiến cho hoàn thành tịnh pháp, không thành tựu nhiễm pháp cũng ở chỗ này. Sau tịnh pháp nhiễm pháp hoàn thành, bước tiếp theo là cần biểu đạt ra ngôn
ngữ, hành vi. Ví dụ: Sau nhiễm pháp hoàn thành là phải bực tức, la mắng, đánh đập.
Vì vậy giảng “ngũ tâm luân” hoặc “ba tâm vi tế sáu tâm thô”, với dụng ý là chỉ dẫn chúng ta như thế nào cảnh giác sự sự thay đổi tướng trạng của tâm, để tùy thời chuyển nhiễm thành tịnh, chuyển thức thành trí.
Tôi thường nói, thiền định cũng giống như nội tâm mình mở hội nghị, phối hợp nhịp nhàng như thế nào điều chỉnh các vấn đề của thân tâm. Ví dụ, vấn đề giải đáp này cũng giống như hội họp. Bắt đầu trước là lễ Phật, tiếp theo mọi người đề ra vấn đề, tôi trả lời. Sau vị thứ nhất xong tiếp theo vị thứ hai hỏi. Nếu như vị thứ nhất chưa hỏi xong mà vị thứ hai hỏi, trật tự của hiện trường sẽ rối loạn ngay.
Nội tâm cũng như vậy, ý niệm tốt thì để cho nó hoàn thành, nếu nửa đường để niệm xấu xen vào, nội tâm sẽ rối loạn. Vì vậy, khi niệm xấu xen vào, phải dứt bỏ, loại trừ.
Thường ý niệm tốt không nhiều nhưng ý niệm xấu thì chiếm đa số. Niệm xấu cũng như thế lực ác của cuộc họp, chiếm đoạt micro, cố sức nói không để cho người khác nói, kết quả những người tốt khác chỉ nói thời gian rất ngắn, vì vậy âm thanh niệm thiện trong nội tâm chúng ta rất nhỏ.
Chúng ta nên nghĩ cách để niệm thiện mỗi niệm, mỗi niệm hoàn thành, ác niệm trước khi hoàn thành cố gắng phải dứt trừ ngay.
Trong cuộc họp, giơ tay cũng như suất nhĩ tâm, sau khi giơ tay được chủ tịch đồng ý mới phát biểu (“năng kiến tướng” của “Khởi Tín Luận” (=tầm cầu tâm) bắt đầu biểu đạt). Ví dụ đề án: “Sau khi cuộc họp kết thúc, chúng ta đi dạo chơi vùng ngoại ô”.
Đầu tiên đề án này phải có người tán thành mới có thể thành lập.
Cũng vậy, trong nội tâm có một ý kiến khởi lên, muốn thành thục đến trình độ nhất định, mới có thể có ý tưởng ổn định (“cảnh giới tướng”= quyết định tâm).
Sau đó bắt đầu thảo luận, đem ý kiến tường thuật rõ ràng. Trong cuộc họp có một ít người nói rất nhiều, cũng không biết nói cái gì, người khác hiểu không rõ, như vậy rất khó bỏ phiếu biểu quyết. Ví như rất khó quyết định nên đi đường nhiễm hay tịnh (nhiễm tịnh tâm).
Sau khi quyết định bỏ phiếu, ý kiến của mọi người trở thành nhất trí (trí tướng= phân biệt tướng= nhiễm tịnh tâm).
“Đẳng lưu” là tiếp tục (tương tục tướng) chấp hành, hoàn thành nó.
Vì vậy sau khi hội nghị của nội tâm quyết định xong là phải đi chấp hành, biểu đạt ra, làm thiện pháp hay là ác pháp.
Thông thường mọi người đối với ác niệm, ác pháp, đại đa số là sau khi đến đẳng lưu tâm, biểu hiện ra bằng lời nói hành động, la mắng, đánh đập thỏa mãn, khi bị nội tâm cắn rứt đau khổ mới hồi thần phản tỉnh: “Tại sao lại phát sanh việc này?”
Nhưng tu hành là phải càng ngày càng tiến tới giác sát, có ít người khi tương tục tâm có thể đạt đến giác sát, nhưng ác niệm trong nội tâm đã có sức mạnh. Đừng lo, ít nhất nó chưa có biểu đạt ra, nhân vì một niệm này như vậy, niệm sau chưa chắc cũng là như vậy, không nhất định phải làm như thế. Nhưng có một vài ý niệm nào đó nhiều lần nhiều lượt khởi lên sẽ hình thành tập quán tính hay nghiệp lực mạnh hơn.
Có một ít người giác sát nhanh hơn, khi nhiễm tịnh tâm thì giác sát đến liền, giác sát có phải lấy tự ngã làm trung tâm đi phân biệt. Có ít người có thể giác sát đến giai đoạn trước, khi khởi tâm động niệm liền chú ý, coi thử nó đi về phương hướng nào.
Vì vậy, lúc giảng cũng có nói qua, Đại sư Thiên Thai dạy “giới nhĩ hữu tâm, tức đầy đủ ba ngàn”, “suất nhĩ tâm” một niệm tối sơ cấp tốc, vi tế thì có mười loại khả năng: mười pháp giới. Y nhiễm tịnh khai triển ra mười pháp giới, mỗi một giới viên dung bao hàm chứa những giới khác, hợp thành trăm giới. Mỗi một tướng
của trăm giới cho đến Bổn, Mạt, Cứu Cánh, v.v... mười Như thị, hợp thành ngàn Như thị. Ngàn Như thị lại kết hợp với chúng sanh, quốc độ và ngũ ấm (ba thế gian), thành ba ngàn Như thị, nên tổng hợp thành ba ngàn thế gian, vì vậy nói “giới nhĩ hữu tâm, tức đầy đủ ba ngàn”. Vì vậy, càng có thể giác sát tâm niệm nguyên thủy nhất (“suất nhĩ tâm” cấp tốc, vi tế), khả năng chuyển đổi càng lớn, càng dễ dàng.
Suất nhĩ tâm không phải là tâm thanh tịnh. Vì suất nhĩ tâm khởi lên có thể là nhiễm hay tịnh, không thể nói nó là tâm thanh tịnh. Nhưng từ góc độ làm chủ có thể nói là tâm thanh tịnh. Nó cũng ví như tờ giấy trắng, có thể thành cấu bẩn, cũng có thể thành tinh sạch. Từ nó có các loại khả năng khác nhau mà nói nó thanh tịnh. Chúng ta không thể nói nó không nhiễm không tịnh.
Phật giáo từ điểm này nói “Phật tánh”. Mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, không phải nói chúng sanh không cần tu hành thì đều thành Phật, mà là bổn tánh đó kỳ thật không phải là phàm phu, cũng không phải là
Thánh hiền, vì có thể thành phàm phu, cũng có thể thành Thánh hiền.
Tâm này yếu đuối nhất, bắt đầu nhất. Cũng giống như em bé sơ sinh, tuy xem như tờ giấy trắng, nhưng chúng ta không thể nói nó là Thánh hiền, cũng không thể nói nó là phàm phu; Nó có thể thành phàm phu, cũng có thể thành Thánh hiền.
Vì vậy, trong “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa” đức Phật dạy: “Biết pháp tánh vô thường, Phật chủng từ duyên khởi, nên gọi là Nhất thừa”. Chúng sanh tuy là phàm phu, lấy định tánh của không phải là phàm phu (vô tánh, không tánh), Phật chủng (Bồ-đề tâm chủng) gặp duyên thiện mà hành thiện, phát Bồ-đề tâm, tu Bồ-tát hạnh, tức có khả năng thành Phật (Phật tánh).
Vì vậy có người nói suất nhĩ tâm là tâm thanh tịnh, không nên nhận định nó là thanh tịnh sau khi trãi qua phán đoán thiện ác, mà là nói thanh tịnh tâm nguyên sơ phi nhiễm phi tịnh.
Đối với suất nhĩ tâm, duy thức cho là “tự chứng
phần”, giả như đối với tâm niệm quán sát đến chỗ rất vi tế, thì biết tất cả vạn pháp là do tâm thức hiển hiện.
Lục đạo luân hồi cũng tốt, chuyển phàm thành Thánh cũng tốt, thật ra ở chỗ suất nhĩ tâm căn bản này, tất cả chúng sanh đều bình đẳng, tâm, Phật và chúng sanh không có khác nhau. Đức Phật cũng như vậy, mỗi niệm Ngài khởi lên đều tương ưng với giác ngộ, không tương ưng với vô minh, không đi con đường của phàm phu.
Vì vậy, “Luận Đại Thừa Khởi Tín” gọi suất nhĩ tâm là “vô minh nghiệp tướng”, khi khởi tâm động niệm thì tương ưng với vô minh, ngã chấp. Bình thường đại đa số sự chú ý của chúng ta đều lấy ngã làm chủ để khởi tâm động niệm.
Ví dụ: có người kêu tên của tôi “Huệ Mẫn”, đối với tôi mà nói thì tôi sẽ phản ứng lại. Kêu tên khác và người không có liên can gì với tôi, như gọi “Ông A” thì đó là việc của người ta, còn tôi không có phản ứng gì đặc biệt .
Khi xem báo cũng vậy, thích tìm tin tức quen thuộc lại coi. Giả sử quý vị là người Đài Nam, thì sẽ chú ý ở đó phát sanh những việc gì; Còn lúc xem đến tin tức ở Châu Phi, có thể là lướt qua thôi vì không có liên hệ gì với mình.
Khởi tâm động niệm theo lối mòn như vậy, rất khó vượt qua, hay xoay chuyển hướng khác. Người thân hoặc oan gia, những người có mối quan hệ đến lợi ích hoặc tổn thất với quý vị thì mình dễ dàng dẫn khởi sự chú ý nhất.
Khi niệm Phật, thật ra là đang luyện tập quá trình này: Mỗi một tâm niệm đều hướng về thiện pháp, về con đường giải thoát. Vấn đề là: Tập khí của chúng ta rất nặng, không dễ dàng xoay chuyển. Nhân đây pháp môn niệm Phật cho chúng ta một phương pháp, một đối tượng, mà đối tượng này, ở một thời gian thống nhất nào đó, chung sức đến làm, thì lực sẽ rất mạnh.
Không chỉ là cùng một đối tượng, mà quý vị cùng đối tượng, đối tượng này giả sử ở Trung Quốc đã niệm
hơn một ngàn năm, vì vậy có lực tập quán cộng đồng của nó.
Bối cảnh văn hóa Trung Quốc đều có lực tập quán của nó. Ví dụ, Trung Quốc có tập quán “Ăn tết”. Đối với người Tây phương mà nói, họ có thể xem trọng lễ Nô-en hơn.
Giả như năm nay tôi không cho là mùng một tháng giêng là tết năm mới, dời sớm hoặc trễ hơn một tháng để ăn tết. Không phải là không được, nhưng quý vị sẽ phát hiện bầu không khí thời tiết không giống nhau. Khi người khác đến chúc tết sớm một tháng, quý vị nói: “Chúc tết tôi làm gì, năm mới lại chưa đến”. Đợi đến mùng một tháng hai quý vị chúc tết người khác, người ta sẽ cảm giác quý vị là người kỳ cục.
Vì vậy đầu tiên muốn nói rõ là mọi người có đối tượng chung, nó có tính lưu truyền, tích lũy.
Pháp thế gian cũng là như vậy. Ví dụ ngôn ngữ, hiện tại dùng quốc ngữ, nếu như tôi cố ý không dùng quốc ngữ, mà dùng tiếng Nhật để trả lời, không phải nói
là không được, nhưng vì phải tìm người phiên dịch lại, vì vậy rất khó đạt được mục đích giao tiếp.
Vì vậy tôi muốn niệm một vị Phật khác, không phải là không được, nhưng ở hoàn cảnh này, quý vị phải tự xoay chuyển, như tìm người phiên dịch truyền đạt vậy.
Hỏi: Khi niệm Phật, trong tâm thường tưởng bốn chữ “A Di Đà Phật”, so ra thì không dễ tán loạn. Không biết như vậy có đúng không?
Đáp: Đây cũng là một loại phương tiện, nói chung là có một đối tượng có thể tưởng niệm.
Niệm Phật có các cách: “Xưng danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, duy tâm niệm Phật, thật tướng niệm Phật”.
Xưng danh niệm Phật (âm thanh, văn tự).
Quán tưởng niệm Phật (hình tượng).
Duy tâm niệm Phật.
Thật tướng niệm Phật.
Trên căn bản, “xưng danh niệm Phật” là từ âm
thanh hoặc văn tự khởi niệm. Những cái này đều là phương thức học tập hoặc cùng với người khác giao tiếp.
Học tập chủ yếu bằng thính giác, tôi giảng quý vị nghe; Hoặc là thêm thị giác, tôi viết trên bảng đen để quý vị có thể hiểu rõ thêm các chỗ cần nhấn mạnh, mọi người đều toàn dựa vào thính giác. Bình thường đọc sách cũng vậy. Khi đọc sách, trong lòng có hiểu rõ ý nghĩa của nó không? Hoặc chỉ là hiểu cục diện sai lầm? Nghe người khác nói cũng như vậy, chỉ nghe một ít, thì rất khó hoàn thành việc học tập.
Vì vậy niệm Phật và học tập có nguyên lý giống nhau, nhất định có bộ phận thính giác và thị giác, vì vậy quý vị niệm A Di Đà Phật, mục đích là muốn chuyển thân khẩu ý nghiệp của mình tương ưng với Phật A Di Đà.
Học tập kiến thức thông thường cũng là như vậy. Bất cứ nghề nghiệp nào cũng có một đối tượng để phấn đấu học tập theo. Tấm gương của thầy thuốc như lương
y Hoa Đà, Kỳ-bà và các bác sỹ có y đức cao minh. Còn lĩnh vực kinh doanh thì có ông Vương Vĩnh Khánh được vinh danh “thần kinh doanh” là điển phạm bậc nhất trong giới thương nhân ở Đài Loan. Quý vị muốn trở thành nhân vật tột đỉnh nhất trong một ngành nghề nào đó, thì nên hướng theo tấm gương của ngành nghề đó mà học tập.
Vậy Phật tử lấy ai làm gương sáng để học tập? Tức là Phật Thích Ca Mâu Ni hoặc là tất cả chư Phật, còn đối với pháp môn Tịnh độ là Phật A Di Đà. “A Di Đà” có ý nghĩa là vô lượng, vô lượng quang, vô lượng thọ, hàm chứa tất cả công đức của Phật.
Muốn học tập tiến bộ đầu tiên là phải có mục tiêu và phương pháp học tập. Ví dụ, đang trên lớp, bắt đầu là nghe, nhìn, ghi chép, đầu tiên bắt đầu từ luyện tập đơn giản. Thứ lớp của tất cả sự học tập đại đa số là như vậy, từ đơn giản đến phức tạp, từ rõ ràng đến vi tế.
Có người quán tưởng bốn chữ “A Di Đà Phật”, có
người quán tưởng hình tượng Phật A Di Đà, những điều đó đều là phương pháp.
Thử hỏi muốn làm cho hiểu biết và học tập, thì từ âm thanh dễ dàng? Hay là từ hình tượng dễ dàng? Hay là từ văn tự dễ dàng? Ví dụ, mời mọi người niệm ông A, hoặc là vẽ ông A, hoặc là viết tên ông A, cái nào dễ hơn? Thông thường mà nói, viết so với vẽ dễ hơn, niệm so với viết dễ hơn. Song cũng không chắc là như vậy, phải coi kinh nghiệm học tập của mỗi người. Nhưng thử hỏi nếu quý vị muốn cùng với Ông A học tập, thì chỉ là đọc tên, viết tên, hoặc vẽ hình của ông ta là có thể được không? Không phải vậy, ý tưởng về hình tượng càng ngày sẽ càng phong phú và hoàn thiện. Nhưng quý vị lìa âm thanh, hình tượng văn tự của ông A, không dễ dàng tìm được mục tiêu suy nghĩ, mục tiêu hướng tâm để học tập.
Nêu thêm một ví dụ, khi tưởng nhớ cha mẹ, trong đầu sẽ hiện ra hình tượng, lời nói của họ.
Nhưng trong quá trình tưởng nhớ, nó không chỉ
dừng lại ở nơi hình ảnh, âm thanh, văn tự mà thôi, ý tưởng về hình tượng sẽ càng ngày phong phú hoàn chỉnh và sâu sắc.
Từ chỗ rõ ràng nhất, đại biểu hình tượng cha mẹ, chúng ta dễ dàng cảm nhận hơn, có khi sẽ xuất hiện lời cha mẹ thường nhắc nhở, nhưng chủ yếu nhất là phát khởi cho chúng ta học tập sự biểu hiện đức hạnh của cha mẹ, học tập chỗ này thật ra là quan trọng nhất. Cũng như mục đích niệm Phật của chúng ta, chủ yếu là phải học tập giống đức hạnh của chư Phật.
Vì vậy trong quá trình niệm Phật, có thể chú ý tam nghiệp thân khẩu ý của quý vị, có phải từ từ chuyển đổi thành giống Phật A Di Đà. Có lẽ khi bắt đầu sẽ dừng lại ở nơi tên gọi, nhưng không nên vĩnh viễn dừng ở nơi đó, tiếp theo từ văn tự, thì hình tượng âm thanh, phát triển thành đức hạnh của Phật A Di Đà, cũng tức là dụng ý của đại tổ sư đã nói “từ danh hiệu của đức Phật chiêu cảm đến đức hạnh của cá nhân”.
Xưng danh niệm Phật (thanh âm, văn tự) - danh
Quán tưởng niệm Phật (hình tượng) - tướng.
Duy tâm niệm Phật - nghĩa.
Vì vậy lúc mới bắt đầu là lấy văn tự hoặc âm thanh hình ảnh, hình tượng làm đối tượng chuyên chú, tiếp sau đó, ý nghĩa của đối tượng này càng ngày càng rõ ràng, mà lại càng ngày càng có kinh nghiệm, cho đến trong sinh hoạt hàng ngày cùng giao tiếp với người khác, đều luôn giữ gìn tâm cung kính. Quý vị xem bất cứ người nào cũng giống như xem Phật A Di Đà. Khi cùng làm việc với nhau, cũng cảm giác rằng họ giống như Phật A Di Đà. Quý vị cũng có thể chuyển hóa đối phương, đối phương vốn rất dữ dằng giống như ở cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh hoặc la sát, nhưng sau khi quý vị cùng với họ có giao tiếp làm việc với nhau, đối phương cũng bị quý vị chuyển đổi thành Phật A Di Đà rồi.
Thật ra công dụng lớn nhất của niệm Phật là ở đây, tự giác, giác tha, cho đến giác hạnh viên mãn.
Do đó trong bảy ngày, mọi người luyện tập là điều
thâm thúy sâu rộng này. Lúc bắt đầu đều lấy mình làm đối tượng chuyển hóa, chú ý thân tâm ngũ ấm của mình. Sau đó từ từ mở rộng đến những người xung quanh. Hơn nữa sức ảnh hưởng này càng ngày càng lớn, lớn đến tất cả chúng sanh, bao quát những người không có liên quan đến với quý vị. Cho đến cuối cùng cả những người oan gia thù địch đều có tâm cung kính. Như vậy mới trải qua được sự khảo nghiệm nghịch cảnh không dễ dàng bị thối chuyển nữa.
Chúng ta có thể làm thử nghiệm xem đối với người đáng ghét nhất, quý vị cùng với họ tiếp xúc thử coi; Hoặc là thử đối diện với công việc đáng ghét, đáng sợ nhất. Thật ra những luyện tập này mới là bảo đảm giải thoát sanh tử.
Vì người thù hận có lớn hơn đều không bằng Diêm la vương; Việc đáng sợ hơn, đáng ghét thêm, khó khăn nữa, đều cũng không bằng việc sanh tử.
Do đó bình thường nếu có ghét ai, công việc nào đó rất đáng ghét, còn loại tâm thái này khi lúc lâm
chung muốn vãng sanh, thoát sanh tử, thật ra là không có bảo đảm lắm. Người thù hận có lớn thêm nữa, sự phản bội có hơn thêm nữa, đều không thể so sánh nổi khi thân tâm quý vị phân giải như vậy. Hôm nay vật ở ngoài thân không có, không sao, khi lúc lâm chung, cả ngũ ấm thân tâm, cả tự ngã đều phải xả bỏ, ngay cả quý vị cho là “ý thức của tự ngã” đáng dựa dẫm nhất đều phải xả bỏ.
Vì vậy, hình tượng, văn tự lúc bắt đầu rất khó nắm chắc, đây là rất tự nhiên. Hình tượng khi niệm Phật sẽ rất không ổn định, chủ yếu là vì duyên không thành thục. Cũng giống như trẻ em viết chữ, khi bắt đầu viết cong cong vẹo vẹo, sau luyện tập dần dần, càng viết sẽ càng đẹp.
Đây là tự mình đối với “trí, hạnh, nguyện” của “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ” còn chưa thành thục. Đợi thành thục đến một trình độ, vẽ hình cũng tốt, viết chữ cũng tốt, khi vẽ thì rất giống, khi viết thì rất khéo, đây đều từ luyện tập mà có.
Thật ra đối với người khéo tu hành, với bất cứ hoàn cảnh nào đều có thể ứng dụng rất tuyệt vời. Lấy ngành điện ảnh làm ví dụ. Bộ phim hay nhất định đều là miêu tả nhân vật vĩ đại không? Không nhất định, có khi miêu tả một em bé, người khuyết tật, hoặc nhân vật từng bị lầm lỗi, nhưng lại hấp dẫn quý vị.
Như bức họa rất vĩ đại, chưa chắc là tả thực, rất nhiều nhi đồng họa cũng rất tuyệt vời. Ví dụ họa gia Hồng Thông, bức tranh của ông ta cũng giống như con nít vẽ, nhưng được rất nhiều người thưởng thức. Do đó, bức họa tuyệt vời không phải ở nơi giống hay không giống nhân vật thật, mà là nơi có thể biểu đạt ra ý nghĩa thời đại trong thời gian dài. Ví dụ ông Pablo Ruiz Picasso (1881-1973) có người nói tác phẩm vẽ chân dung của ông ta giống hình con trùng, vẽ người không giống người, vẽ ngựa không giống ngựa, nhưng lại rất tuyệt vời. Vì trong đó chứa đựng ý nghĩa của thời đại.
Cho nên “A Di Đà Phật thân kim sắc”, không phải nói quý vị nhìn thấy người thân vàng, người ba mươi
hai tướng tốt, quý vị mới cung kính họ. Mà nói với quý vị, không quản là gặp người thù hận cũng tốt, oan gia cũng tốt, quý vị đều tin tưởng họ là thân vàng, tin tưởng họ ẩn chứa công đức vô lượng như Phật A Di Đà, niệm Phật như vậy mới tiến triển.
Khi bắt đầu có thể là không được tự nhiên giống như con nít viết chữ vậy. Khi bắt đầu viết sẽ cong cong vẹo vẹo, đừng lo! Chỉ lo chăm chú viết, mà viết ra được sự hứng thú thì đó là tác phẩm tốt rồi. Cũng không phải mỗi nét đều giống như nét bút của Đại sư Hoằng Nhất, quý vị có thể luyện đến trình độ đó đương nhiên là rất tốt, biểu đạt ra được có thể khiến chúng sanh khởi tâm hoan hỉ. Nhưng quý vị sẽ phát giác ra căn cơ để chúng sanh hoan hỉ đều không giống nhau, có người rất thích chữ của Đại sư Hoằng Nhất, có người thì thích phong cách nét chữ khác.
Vì vậy, mỗi tình huống nếu có thể học tập tốt, có thể tùy thời thỏa mãn bản thân và những yêu cầu của chúng sanh, sẽ tự tại vô ngại.
Hỏi: Khi ngồi thiền, cảm giác thân thể rất lạnh, không biết phải làm thế nào mới tốt ?
Đáp: Tôi thường nói, người học Phật là đang huấn luyện mình giống với Phật Bồ-tát, quý Ngài không phải chỉ ở trong chùa, có khi ở nơi xích đạo hay miền bắc cực.
Trong lúc tu hành, thân tâm sẽ có các sự thay đổi, những sự thay đổi vô thường này liên tục sanh, trụ, dị, diệt không dứt, mà phản ứng rất tự nhiên, thân tâm ở trong tình huống nào sẽ có phản ứng tình huống đó. Vì vậy quý vị lấy sự lạnh nóng trong thân thể coi như lạnh nóng ở thế giới bên ngoài.
Hiện tại bên ngoài rất lạnh, nhưng không phải vĩnh viễn như vậy, cách thêm một hai ngày thời tiết lại không giống rồi, lại cách thêm một hai tháng, đến tháng sáu sẽ rất nóng. Nhưng cũng không phải rất nóng, vẫn sẽ biến lạnh lại. Trong cùng một ngày, nhiệt độ của buổi sáng và tối đều không giống nhau, thân thể cũng là như vậy.
Do đó đối với các sự thay đổi của thân thể, không nên lo lắng, không nên hoài nghi là tốt hay xấu, thật ra chẳng có gì tốt mà cũng chẳng có gì xấu. Quý vị có thể khéo dùng kinh nghiệm, ví dụ hiện tại rất lạnh, quý vị dốc sức tìm hiểu cái lạnh từ đâu tới, chú ý vì sao biết lạnh? Giả như có thể hiểu rõ nhân duyên biến lạnh của thân thể, vậy thì mùa hè quý vị sẽ không cần dùng máy lạnh, khi mùa đông sẽ không cần mặc quần áo rất dày. Đại chúng không nên cho là tôi đang nói đùa.
Kỳ thật đối với người biết tu hành, đối với các loại kinh nghiệm đều nắm chắc rất tốt, giống như diễn viên giỏi vậy.
Vì sao diễn viên giỏi diễn được các vai không giống nhau? Là vì trong sinh hoạt hàng ngày họ biết đi quan sát, hiểu được các hạng người, quan sát người ta khóc như thế nào? Cười ra sao? Bi thương, buồn bã, vui vẻ ra làm sao?
Họ quán sát rất tường tận, sau đó đi tìm hiểu, hướng dẫn cảm giác, sự biểu hiện tình cảm trên khuôn
mặt, những động tác của tay, chân v.v... Bình thường lực quan sát của họ đối với những nhân vật này rất mạnh, khả năng bắt chước rất giỏi, khi lên khán đài có thể diễn xuất được.
Người có kinh nghiệm cuộc đời phong phú, khéo ở nơi chú ý, quan sát, thu tập, phân loại. Họ tu hành mọi việc đều thuận lợi, vì họ có biện pháp đi vận dụng, sáng tạo từ các kinh nghiệm.
Gặp đến thuận cảnh, đối với họ lại nói rất tốt; gặp đến nghịch cảnh hay không thuận không nghịch, đối với họ cũng rất tốt. Lạnh cũng được, nóng cũng tốt, không có việc gì đối với họ là không tốt.
Hỏi: “Niệm” của niệm Phật có hàm nghĩa gì?
Đáp: Khi quý vị niệm Phật, không nên cho rằng niệm chỉ có “niệm niệm không có vọng niệm” mà thôi. “Niệm” có bốn ý nghĩa: Năng lực quan sát, phòng hộ, đối trị, và sáng tạo.
Năng lực quan sát (sự thật, khách quan).
Năng lực phòng hộ (luật nghi ) - y tha khởi tánh.
Năng lực đối trị.
Năng lực sáng tạo (trang nghiêm Tịnh độ) - viên thành thật tính ←→ biến kế sở chấp tánh.
Khi mới luyện tập là bốn loại năng lực quan sát, phòng hộ, đối trị và sáng tạo. Năng lực sáng tạo trong Phật giáo gọi là “năng lực trang nghiêm”.
Khi niệm Phật, một mặt năng lực quan sát càng ngày sẽ càng rõ ràng, đó là căn bản nhất. Tiếp theo là năng lực phòng hộ, lại gọi là “niệm” phòng hộ “căn luật nghi” , lấy “niệm” (smrti) là phòng thủ, điều quan trọng khi tu hành, đến phòng hộ tâm ý, khiến sáu căn không bị sự dụ dỗ của ngoại cảnh, không để cho phiền não tràn vào nội tâm. Như thật hiểu rõ nhân duyên, phòng hộ có nhân duyên của phòng hộ, đối trị có nhân duyên của đối trị, y nơi đây khiến cho năng lực phòng thủ càng tăng cường. Phần trên là nói theo “Y tha khởi tánh” hoặc pháp “duyên khởi” mà thành lập.
Ví dụ có một đội bóng nếu như phòng thủ mạnh, lực tấn công mạnh, đội bóng này nhất định sẽ trăm trận
trăm thắng. Có bốn loại lực này, tiến có thể tấn công, lui có thể phòng thủ, quan sát khách quan, chủ động sáng tạo, kết cấu rất trang nghiêm, kết cấu tâm lý, nhận thức rất nghiêm túc.
Một người thường có thể vận dụng bốn lực này, cuộc đời của họ sẽ rất phong phú, trọn vẹn. Nếu như không khéo quan sát, những năng lực sẽ bị yếu kém. Dựa vào sự thật mà quan sát là năng lực rất căn bản. Nếu như không có kiến lập trên sự thật khách quan, sẽ thường xảy ra vấn đề lấy ngã chấp làm chủ quan, dẫn đến năng lực sáng tạo sai lầm (sức phá hoại) gọi là “biến kế sở chấp tánh”.
Có một số người luôn luôn sáng tạo địa ngục, người khác tiếp xúc với họ cảm thấy rất đau khổ, giống như thân họ ở trong địa ngục; Có ít người thì hoàn toàn ngược lại, có bản lãnh có thể dẫn dắt những người xung quanh vào cõi Tịnh độ.
Kỳ thật lực trang nghiêm là ở nơi đây, có thể đem “biến kế sở chấp tánh” chuyển thành “viên thành thật tánh”.
Vì vậy, bốn loại năng lực này, khi bắt đầu năng lực quan sát là căn bản nhất, hiểu rõ sự thật là gì, cái gì cần phải phòng hộ, cái gì cần phải đối trị. Sau khi phòng hộ, đối trị, tiến một bước có thể tùy duyên sáng tạo Tịnh độ, đây là quá trình thực tập rất có ý nghĩa.
Khéo dùng những năng lực này, đời người sẽ rất tuyệt vời. Không quản là thuận cảnh hoặc nghịch cảnh, hàng ngày sinh hoạt có thể tùy thời luôn tinh tấn.
Hỏi: Có thể nói rõ hơn tứ đại địa thủy hỏa phong của sắc thân?
Đáp: Giảng dạy trong Phật thất lần này có nhắc đến một chủ đề: “Tứ đại” đất, nước, lửa, gió; “đại” của tứ đại có ý nghĩa nhân tố chủ yếu phổ biến tổ chức thành tất cả sắc pháp (vật chất).
Đầu tiên từ thân nghiệp, bắt đầu quan sát sắc thân rõ ràng nhất. Trên căn bản sắc thân là do đất, nước, lửa, gió tổ chức thành. Cho đến trong tâm có “năm tâm luân” hoặc là “ba tâm vi tế sáu tâm thô”, phân chia này tương đối vi tế.
Đất nước lửa gió của sắc pháp, là phân tích kết cấu rất căn bản, có rất nhiều góc độ có thể đi tìm hiểu.
Thứ nhất, đất gió là một cặp, đất thì hướng phía dưới, gió thì hướng lên trên; Mà nước lửa là một cặp. Vì vậy quý vị có thể xem ra được, sắc pháp là một phương pháp phân loại, quý vị có thể dùng mô thức này lại xem tổ chức hợp thành của sắc thân.
Gió
Nước
Lửa
Đất
Ví dụ: Ngày hôm qua tôi không có ngủ ngon, vì vậy cảm giác rất mệt mỏi. Lúc này “địa” nặng nề, rất muốn nằm xuống, không muốn đứng hoặc ngồi. Thân thể cảm giác lạnh lẽo, cũng biểu thị thủy đại mạnh hơn. Lửa tắt rồi, nước ngập không có lửa nên cảm giác lạnh lẽo. Có khi thân thể cảm thấy nóng nực, lúc này là lửa rất mạnh. Có khi không thể nào ngồi lâu, tinh thần hăng hái biểu thị gió sức chuyển động) rất mạnh. Vì vậy, từ góc độ này có thể xem ra tứ đại có điều hòa không?
Ngoài ra, phương pháp này còn có thể khiến quý vị hiểu rõ tứ đại đều là không, vô ngã như trong “Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ” đã dạy.
Thứ hai, quý vị sẽ phát giác đất, nước, lửa, gió có một thứ tự, gọi là “ngũ luân tháp”. “Ngũ (năm) tâm luân” là tâm pháp, “ngũ luân tháp” tức là sắc pháp (vật chất).
Sự sắp xếp thứ tự của ngũ luân tháp là đem sắc pháp (vật chất) từ thô thiển rõ ràng nhất đến vi tế nhất, từ hữu hình đến vô hình. “Đất” là rõ ràng nhất, trạng thái cứng; Nước là trạng thái lỏng; Lửa là năng lượng; Gió là trạng thái khí.
Họa đồ từ dưới trở lên biểu thị cho: Đất, nước, lửa và gió.
Phật giáo vẽ thành hình trạng như trên. Vì sao phải vẽ như vậy? Vì trạng thái căn bản có ba cái: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác, từ ba hình căn bản này mà thay đổi ra các loại hình dạng.
Vì vậy, thân tâm của chúng ta lúc lâm chung có thể phương tiện từ địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại theo thứ tự phân tích giải thích để quan sát.
Ngoài ra còn có một góc độ, không biết quý vị có chú ý đến không, tổ chức hình này giống như đang ngồi thiền. Khi ngồi thiền, “địa đại” giống như phần chân, phần mông, là bộ vị có nhiều xương thịt. Lại hướng phía trên là “thủy đại”, như tác dụng tiêu hóa của bộ phận bụng, là bộ vị cảm nhận thủy phân lưu động so ra rõ ràng. “Hỏa đại” như tác dụng tuần hoàn máu huyết nơi trái tim. “Phong đại” như tác dụng hô hấp của phổi. “Không tạng” giống như không gian tác dụng tâm ý thức trên đầu.
Khi ngồi thiền, nếu có thể quán tưởng như vậy, sẽ ổn định như một tòa tháp, đồng thời cũng có thể nhắc chúng ta đem tâm ý thức của đầu óc học tập thể hội tánh “không” , để khiến cho đầu óc minh mẫn. “Không” có ý nghĩa là “Vô ngã”, mà không phải là đều không có cái gì.
Kết cấu này rất có giá trị để quan sát, để tứ đại điều hòa, đặt đúng địa vị của nó. Sợ nhất là hỗn tạp, địa đại chạy đến bộ phận đầu, đầu óc sẽ hôn trầm không có cách thực hiện. Hỏa đại chạy đến địa đại thì đứng ngồi không yên.
Ngoài ra, những quán tưởng này sẽ cho quý vị biết uyên áo bí mật của sanh tử ở đâu? Sanh là do tứ đại hợp thành mà có, chết tức là từ tứ đại phân giải.
Vì vậy, trong nhân duyên sanh diệt không có cái “ngã” thường hằng bất biến sanh khởi, cũng không có cái “ngã” thường hằng bất biến tiêu diệt, như đây tức sẽ thể hội đến chân lý pháp tánh “bất sanh bất diệt”.
Hỏi: Khi mạng chung hiến tặng xác thân, người đó có khởi tâm sân hận mà đọa lạc ác đạo không?
Đáp: Có người lo lắng khi sắp lâm chung, hiến tặng xác thân có thể mất đi chánh niệm, không còn nhất tâm bất loạn; Thậm chí sẽ đọa lạc nơi ba đường ác đạo. Tôi không biết họ suy luận này là căn cứ từ nguyên tắc nhân quả nào?
Họ lo lắng người hiến tặng xác thân nhất định khởi tâm sân hận rất nghiêm trọng rồi đọa lạc.
Song nguyên lý thọ báo của Phật giáo là khởi hoặc, tạo nghiệp mới bị đọa lạc; mà tôi hiến tặng xác thân, cũng không có tạo ác nghiệp, ngược lại tạo thiện nghiệp, thì tại sao bị đọa lạc?
Đối với vấn đề này tôi trả lời đơn giản, trên căn bản, thân thể có thể nói là quyền sở hữu của tôi, giống như tài sản của tôi vậy.
Nếu tôi muốn làm việc bố thí, đầu tiên phải xem ý nguyện của tôi. Giả như tôi không có ý nguyện đem tài sản của tôi cho mà quý vị cướp giật, thì tôi nóng giận đến giết hại quý vị thì có thể bị đọa vào địa ngục. Bố thí thân thể cũng vậy, có thể chấp nhận không là do tâm trí của quý vị quyết định.
Đầu tiên suy nghĩ xem, năng lực của mình, chuẩn bị tâm trí như thế nào. Có bị đọa lạc không, không phải ở nơi hiến tặng xác thân, mà ở nơi tâm trí này.
Sự thật, bất cứ vật gì trong vũ trụ này chúng ta đều
không có quyền sở hữu. Ngay cả thân thể đều không thuộc quyền sở hữu của mình, nó là tạm thuê, một khi thời hạn đến kỳ, cuối cùng phải hoàn trả lại. Nhưng thường ở lâu rồi thì “ăn mày đuổi thần miếu” đi chỗ khác sau đó cho là của tôi, giống như Phật giáo nói là “ngã chấp”, thật ra thân thể không là của tôi.
Do đó, “hiến tặng xác thân” kỳ thật là “hoàn trả xác thân”. Vì thân tứ đại của tự nhiên, chúng ta chỉ tạm thời bảo quản mà thôi. Bảo quản lâu rồi thì muốn chiếm làm của mình, giống như “khách trọ giành quyền làm chủ” thật là sai lầm.
Thực tế có thể thuê được thân thể này cũng không dễ dàng. Vì có những chúng sanh mượn đến thân kiến, thân rắn, thân ngựa v.v... để sinh sống.
Vì vậy thân người khó được, mà thân thể này vẫn ở nơi có Phật pháp, ở Đài Loan; Không phải ở Châu Phi, không phải ở khu chiến loạn, không phải trong rừng nguyên thủy New Guinea. Có được điều kiện tốt như vậy, thuê được cái phòng này, lại khiến cho thân thể
mỗi ngày khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ khổ, nó làm phiền phức chính mình và người khác, khách trọ này thật tại là quá xấu xa.
Cho đến một ngày, phòng của quý vị thuê đến kỳ, không thể không trả, nguyên cả căn phòng sẽ bị phá hủy. Lúc đó nếu như vẫn có người có thể nhặt lại dùng những bộ phận, vậy thì cứ để những bộ phận này tiếp tục phát huy tác dụng sẽ giá trị rất tốt.
Nếu như quý vị có được tâm niệm này, ngược lại là trợ duyên cho vãng sanh, vì quý vị đã có sự chuẩn bị nên được vãng sanh rất nhanh. Đã đưa cho người ta rồi thì vui vẻ thoải mái ra đi. Có những người rất quyến luyến thân thể, khế ước thời gian quy định hoàn trả tới, chủ nhà đến đuổi mà còn nấn ná không chịu đi. Hoặc là nhớ nhung, nhất định người thân cần gặp nào đó phải đến xem tôi mới chịu đi.
Giả như có tâm nguyện, tâm Bồ-đề bố thí, tôi cho rằng đó thật sự là một trợ duyên chân chánh. Ý thức hôn trầm hoặc trạng thái hôn mê không đồng nghĩa là
ác niệm, không chánh niệm.
Ngoài ra, quý vị chú ý trong quá trình phân giải của tứ đại lúc lâm chung, tuy có hiện tượng ý thức hôn trầm hoặc hôn mê nhưng không kết luận họ nhất định không có chánh niệm.
Khi đức Phật còn tại thế, có một vị trưởng giả thưa Ngài: “Bình thường con có thể giữ gìn chánh niệm, vì còn biết nghĩ về đức Phật. Nhưng lúc con đem binh đi đánh giặc, hy sinh ở chiến trường, hoặc giữa đường gặp tai nạn, chết ngoài ý muốn, lúc đó con có chánh niệm không?”
Đức Phật dạy: Không nên lo lắng, mỗi người sẽ theo niệm lực và tập quán riêng khi còn sống của mình mà ảnh hưởng đến lúc đó.
Đức Phật đưa ra ví dụ, một cái cây bình thường hướng về phía tây lớn lên, thử hỏi cái cây này khi ngã sẽ hướng về bên nào xuống? Nhất định là hướng tây. Tâm niệm của ông bình thường đều hướng về điều thiện, về giác ngộ, trong bất cứ tình huống nào, thì sự
phản ứng sẽ tự nhiên hướng về điều thiện, về giác ngộ.
Không nên cho rằng tỉnh táo thì đều hướng về thiện pháp, rất nhiều việc xấu cũng là từ trong tỉnh táo mà ra. Khi tỉnh táo không nhất định đều là chánh niệm, khi ý thức hôn trầm hoặc hôn mê không nhất định đều là ác niệm. Khi quý vị la mắng người khác đều là lúc tỉnh táo, không có ai lúc đang ngủ mà la; rất nhiều việc ác, pháp ác đều ở lúc rất tỉnh táo mà làm ra.
Ý thức hôn trầm hoặc trạng thái hôn mê cũng không đồng nghĩa là ác niệm, không chánh niệm, đại chúng không nên lấy quan niệm này mà tùy ý luận đoán người chết có chết tốt không, đó là không có căn cứ.
Nhân vì trong lúc vận hành của nội tâm, chỉ cần người đó có tâm, thì sẽ có khả năng thành tựu thiện pháp. Có ít người lúc lâm chung khi còn hơi thở cuối cùng, kiên trì muốn hoàn thành một một việc tốt. Đặc biệt ở chiến trường, thân thể của họ có thể bị trúng bom đạn, mất rất nhiều máu, cơ hồ như không thể cử động, nhưng vẫn xung phong hy sinh thân mạng để cứu rất nhiều người.
Có một số phim ảnh thích diễn những tình tiết này, có một cái công tắc, công tắc này một khi ấn nút thì cái cửa này sẽ được mở ra, sau đó một nhóm người có thể được cứu. Tuy họ đã bị trúng đạn rồi, nhưng hơi thở cuối cùng của họ, hơi thở cuối cùng đó vẫn là đem sự việc kia hoàn thành.
Nội tâm chúng ta cũng vậy, tuy tứ đại phân giải rồi, niệm cuối cùng vẫn là niệm Phật.