NGÀY THỨ NĂM: Thuận quyết trạch phần.
1. Noãn.
Hôm nay là ngày thứ năm của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2006.
Hôm qua giảng về ba phần thiện căn thuận phước phần, thuận giải thoát phần và thuận quyết trạch phần.
Thuận quyết trạch phần có liên quan đến trí tuệ, trí tuệ giống như lửa, ánh sáng; Lửa có thể đốt củi gỗ phiền não, thiêu đốt chấp trước; Ánh sáng có thể khiến chúng ta nhìn rõ ràng chấp trước là thật hay giả.
Thuận giải thoát phần chuẩn bị ở trong tâm lý, trên mặt sinh lý, có thể hình thành sự chuyển biến căn bản của thân tâm, do đó gọi là “thuận giải thoát”. Đem pháp môn Tịnh độ làm ví dụ, thuận theo sự giải thoát có thể giải thích là: Xa lìa thế giới ta bà, đưa đến lực tín nguyện mong hướng về tây phương. Tâm an lạc này đối với thiện pháp, ý lạc tâm muốn xa lìa ác pháp (ý chí và hỷ lạc), sự chuyển biến của tâm hỷ lạc hướng đến đạo xuất
ly, tâm xuất ly.
Có thiện căn thuận giải thoát phần của “tăng thượng ý lạc” mong cầu niết bàn (tây phương cực lạc Tịnh Độ), chán ghét sanh tử (thế giới Ta-bà) này, có thể bồi dưỡng trí tuệ quyết trạch (chọn lựa). Thân tâm đối với sự nhận thức thế giới có thể chiếu kiến ngũ uẩn giai không vô thường, khổ, không, vô ngã, thuận theo trí tuệ quyết trạch có các điều kiện nhân duyên (hoặc giai đoạn), vì vậy gọi là “phần”, một bộ phận, một bộ phận tổ chức tựu thành những nhân duyên này đưa đến trí tuệ.
Căn cứ vào thứ tự tu hành của “Nhất Thiết Hữu bộ”, “thuận quyết trạch phần” chia thành bốn thứ noãn, đảnh, nhẫn và thế đệ nhất là trước chỉ kiến đạo, quán tứ đế và tu mười sáu hành tướng, đạt đến bốn giai vị tu hành để đạt đến Thánh vị vô lậu. Vì vậy, thứ tự tu hành của “Nhất Thiết Hữu bộ” biểu thị như biểu đồ dưới đây:
Trình tự tu hành của “Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ”.
Quả vị phàm phu (ba thiện căn): Thuận phước
phần, Thuận giải thoát phần, Thuận quyết trạch phần (Noãn, Đảnh, Nhẫn, Thế đệ Nhất pháp).
Quả vị Thánh giả: Dự Lưu Hướng (Kiến đạo), Dự Lưu Quả, Nhất Lai Hướng, Nhất Lai Quả, Bất Hoàn Hướng, Bất Hoàn Quả, A La Hán Hướng (Tu đạo), A La Hán Quả (Vô học đạo).
“Noãn vị”: Minh đắc Tam-muội, danh như huyễn.
Thiện căn ở giai đoạn thứ nhất gọi là “noãn” cũng giống như lửa và ánh sáng của trí tuệ phát sáng lên.
Công đức của danh hiệu Phật A Di Đà cũng có hàm ý như vậy: Vô lượng quang, vô lượng thọ. “Kinh A Di Đà” nói Phật A Di Đà vô lượng quang, trong bài tán kệ Phật cũng tán thán trong hào quang Phật, có vô số ức hóa Phật, hóa Bồ-tát. Do đó xưng niệm Phật danh sẽ dẫn phát trí tuệ giống đức Phật sáng soi ngũ uẩn.
Trong quá khứ, chấp trước thân tâm ngũ uẩn, chỉ có thấy mình, chỉ nhìn lợi ích của mình một cách rõ ràng, chỉ quan tâm đến những gì có lợi đối với mình.
Đối với sự khổ vui của người khác tất nhiên không rõ, không biết quan tâm người khác, đem sự khổ vui của mình xếp ở vị trí thứ nhất. Cho rằng sự hiểu biết, cách giải quyết của mình là chính xác nhất, không biết đứng trên lập trường của người khác mà suy nghĩ. Đối với sự hưởng thụ của mình thì rất mong muốn, lại cứ thích cầu càng nhiều càng tốt. Thậm chí nghĩa vụ vốn mình phụ trách cũng cho rằng người khác phải làm thay mới đúng.
Thói quen lấy tự ngã làm trung tâm để nhìn ra thế giới thì quá khứ chúng ta rất quen thuộc, mỗi ngày ở trong thế giới này rồi tranh danh đoạt lợi, nương theo cái ngã kiến của mình mà khởi phiền não, xem thường người khác, cho rằng sự tu hành của mình là tốt nhất, nương theo ngã ái, đối với người khác hoặc sự vật cứ mặc sức hưởng thụ lợi dụng, không biết tiết chế, giữ càng nhiều càng tốt, thế giới như vậy thì rất đau khổ. Anh giành tôi giật, than trời trách đất, oan oan tương báo.
Khi niệm Phật, xưng niệm danh hiệu, xưng niệm pháp thân thanh tịnh Phật, xưng niệm tâm Phật chúng sanh không có khác nhau, học tập tâm vô ngã. Quá khứ cứ niệm “ngã”, hiện tại muốn quý vị niệm “vô ngã”. “Vô ngã” niệm như thế nào? Sao gọi là “vô ngã”? Đối với một số người lại nói, không biết đi từ thực tiễn như thế nào, cách thức thâm nhập không dễ dàng. Có một phương pháp đó là xưng danh hiệu Phật A Di Đà. Trong danh hiệu Phật bao hàm ý nghĩa công đức của vô lượng Phật, công đức niệm Phật sẽ xả bỏ chấp trước. Như người thông thường tuy lấy ngã làm trung tâm, ngã chấp rất mạnh, nhưng một khi nghĩ đến ân đức của cha mẹ cũng sẽ có tâm hiếu thuận mà buông xả chấp trước của mình, có gì ăn ngon cũng sẽ nghĩ đến cung phụng phụ mẫu.
Một khi nghĩ đến cha mẹ, tâm ngã chấp yếu mềm, lòng quan tâm đến cha mẹ sẽ nổi lên. Nhưng thông thường chỉ là giới hạn cha mẹ của mình mà thôi, đối với cha mẹ của người khác thì không đoái hoài.
Làm thân cha mẹ dù có chấp trước như thế nào, một khi nghĩ đến con cái thì tâm vô ngã sẽ khởi lên, thức ăn ngon, đồ gì đẹp cũng để giành cho con cái. Nhưng chỉ đối với con cái của mình mà thôi, con cái của người khác cũng mặc kệ.
Thế giới thân tâm như vậy so với thế giới lấy tự ngã, tự tư, tự lợi làm trung tâm tốt hơn một chút, vì nó rộng đến gia đình, nhưng ngoài gia đình ra vẫn là anh giành tôi giật. Có người lại mở rộng tâm đó đến quốc gia, một khi nghĩ đến quốc gia, quốc kỳ hoặc quốc hiệu họ có thể hi sinh bản thân. Như trước đây, Nhật Bản ở thời đại chủ nghĩa đế quốc, quân nhân vì bảo vệ thiên hoàng nhân vật đại biểu của quốc gia, có thể nghĩ đến danh hiệu của thiên hoàng mà hi sinh bản thân mình, lái máy bay tự sát đâm vào tàu chiến, hoặc là oanh tạc vào những mục tiêu công kích.
Mỗi người thông thường có thể sẽ có một đối tượng đặc biệt để hi sinh. Ví dụ dân cờ bạc, một khi dây dưa đến cờ bạc, có thể ba ngày ba đêm không ăn không
ngủ mà chuyên tâm đánh.
Đối với những đối tượng để đam mê này, có một số không phải là quá hẹp hòi nhưng dễ làm tổn thương người khác, thương tổn mình, không thể cùng với mọi người sáng tạo lợi ích cộng đồng lớn nhất.
Nếu có thể lấy Phật tánh phổ biến của chúng sanh làm đối tượng quán niệm, thì dễ dàng khiến cho chúng ta nuôi dưỡng tập quán, chuyên tâm vì chúng sanh, suy nghĩ sáng tạo đến lợi ích cộng đồng lớn nhất. Phật tánh thanh tịnh bình đẳng này phổ biến khắp tất cả chúng sanh, do đó tất cả chúng sanh đều bao hàm tiềm năng vô lượng quang, vô lượng thọ, mọi người đều có thể phát huy trí tuệ và từ bi như Phật, lúc này tâm, Phật và chúng sanh sẽ dung hợp thành biển lớn thanh tịnh.
Niệm thanh tịnh đại hải chúng Bồ-tát hướng về phương hướng này càng niệm càng rõ ràng, càng niệm càng thành thục. Nhân sinh quan tự tư tự lợi quá thành thục trong quá khứ ở thế giới ta bà, thì sẽ đối với nó càng ngày phai nhạt. Biết là cái đó sẽ đem lại sự đau
khổ cho mình và cho người khác, không phải là sự thật trong tưởng tượng, còn phương hướng khác là thế giới cực lạc “vô ngã” thanh tịnh bình đẳng mới là an lạc chơn chánh.
Nếu thể chứng đến mình và chúng sanh đều giống nhau, đều bao hàm bổn tánh quang minh, thì có thể sanh khởi được bổn tánh thanh tịnh. Nhân đây, khi ở giai đoạn “noãn”, “Nhiếp Đại Thừa Luận Thích” gọi là “minh đắc Tam-muội”, đạt được Tam-muội quang minh, đây là mục tiêu bước đầu của niệm Phật Tam-muội, biết được năng lượng ban đầu chúng ta tu tập niệm Phật Tam-muội, có thể khiến chúng ta lìa phiền não ở thế giới ta bà.
Vì vậy trong quá trình của mỗi thời khóa, mục tiêu đầu tiên của niệm cần nhắc đến là ý nghĩa công đức của Phật A Di Đà, dùng bài kệ tán Phật để triển khai, làm cho chúng ta không nên chỉ niệm ngã, mà nên niệm vô ngã. Tiếp theo danh hiệu Phật, học tập tiếp thu công đức vô ngã của Phật, thâu nhiếp những công đức này.
Tuy pháp môn vô lượng thệ nguyện học, đối với những sở duyên vốn có (những đối tượng cần học tập), các loại sự việc có thể lợi ích chúng sanh đều nên học; Nhưng có một thời khóa căn bản, mỗi ngày ít nhất phải có một thời gian cố định để cố gắng học tập, đó là phá trừ ngã chấp.
Nếu có bản lĩnh lớn thế nào đi nữa, tinh thông rất nhiều phương pháp đem đến lợi ích chúng sanh, nhưng ngã chấp không phá trừ thì sẽ không nghĩ đến sự cống hiến, thực tiễn điều đó ra. Thế tục có rất nhiều người cao minh, là chuyên gia giải quyết những vấn đề của chúng sanh. Ví dụ như bác sĩ, đối với ngành y học có nhiều thành tựu, họ khám bệnh giống như chụp X-quang vậy, ai có bệnh gì đều phát hiện rõ ràng, khám bệnh trị liệu, thủ thuật cũng rất tinh tế chính xác. Nhưng giả như ngã chấp rất mạnh chỉ vì kiếm tiền, thì đối với lợi ích cho mọi người sẽ nhỏ đi, thậm chí có thể đem lại sự đau khổ cho mình và người khác.
Tuy tu hành các loại pháp môn, nếu đối với ngã
chấp căn bản nhất không có đối trị, thì thế giới này và mình rất khó đạt được an lạc.
Phá được ngã chấp, bản lĩnh nhỏ một chút đều rất quý, mặc dù chỉ biết quét rác cũng đáng trân trọng, vì họ có thể phục vụ tất cả chúng sanh, sự cống hiến vô tư vô ngã thì rất đáng quý. Dù là nhân vật nhỏ đi nữa, đều có năng lực cảm động người khác, mọi người cảm thọ đến vô ngã vô tư, đối với trong xã hội dẫn đến sự đồng cảm, hình thành sự nhận biết, nhân đây mà nảy sinh năng lượng cực lớn. Vì vậy, tuy học nhiều, nhưng mỗi ngày nếu không có thời thời khắc khắc từ những nơi căn bản nhất này mà bắt đầu chuyển biến, thì những gì đã học không nhất định có thể sản sanh năng lượng phổ biến tánh tự lợi lợi tha.
Nhân đây, khi chúng ta tu Tam-muội thì nên đem những cái gì có thể học được, tập trung năng lực đột phá ngã chấp, tập trung lại ở một điểm đặc biệt mới có thể phát huy năng lực lớn nhất.
Do đó, ở phương diện tu tập để tăng cường trí tuệ
có hai phương pháp rất hay, thứ nhất là tập trung vào một mục tiêu, năng lực tuy nhỏ nhưng khi tập trung sẽ lớn lên. Ví dụ: Sức nước tuy mới nhìn thấy yếu ớt nhưng khi tập trung lại một điểm, giọt nước nhỏ lâu dần có thể xuyên thấu viên đá, vì nó tập trung ở ngay một điểm nên ngay cả đá đều có thể xuyên thấu. Nếu như không tập trung lại ở một chỗ mà nước chảy tràn lan thì không có cách nào xuyên qua đá.
Cũng như khi dùng máy khoan khoan đồ vật, dù đầu khoan cứng rắn như thế nào nếu như không tập trung ở một điểm, bên này khoan một chút, bên kia khoan một chút cũng không thể khoan thủng được.
Do đó, muốn khiến cho trí tuệ sản sanh năng lượng, tập trung vào một đối tượng cũng là một yếu tố quan trọng, đây là một vấn đề then chốt.
Ngoài ra, sự tăng gia liên tục nhiều lần cũng rất quan trọng. Giống như nước nhỏ giọt, lâu lâu mới nhỏ một giọt thì khó mà xuyên đá, cần phải không gián đoạn mới được. Khi niệm Phật, sáu chữ Phật hiệu, bốn
chữ Phật hiệu, niệm niệm liên tục; Quán sát vô ngã, chánh niệm vô ngã để nó mỗi ngày từ sáng đến tối không bị gián đoạn.
Hôm qua đã nói tuy không có niệm Phật, nhưng vẫn có Phật tâm, có Phật tánh. Vì chúng sanh có thể hi sinh mình, cho dù phân thây nát thịt.
Sau khi giai đoạn “noãn” đạt được “minh đắc Tam-muội”, tiếp theo là giai đoạn “đảnh”. Giống như lên đến đỉnh núi, lúc này tầm nhìn, tâm hồn đều mở rất rộng, nhìn rất rõ ràng, không chỉ nhìn thấy mình còn nhìn thấy tất cả chúng sanh, năng lực trí tuệ lại gia tăng, vì vậy gọi là “minh tăng Tam-muội”, quang minh tăng gia Tam-muội.
Ngôn ngữ, văn tự ở thế gian bị chấp trước, nó như huyễn như hóa. Ở minh đắc Tam-muội, khi đạt được quang minh trí tuệ, căn bản nhất là có thể biết được những chấp trước ngôn ngữ, văn tự ở thế gian như huyễn như hóa.
Xưng niệm danh hiệu Phật, có thể chuyển đổi thế
giới và thân tâm, cứ theo danh hiệu vô ngã chuyển đổi thành thế giới vô ngã. Bình thường đều là niệm “ngã”, mới chỉ là “danh từ” thì đã khiến cho người ta khởi phát phiền não rất lớn, người khác nói tôi như thế nào, người nào đó như thế kia, tán thán hoặc mạ nhục, chỉ là danh tự mà thôi cũng đã khiến cho người ta khởi tâm động niệm. Xưng tán hủy nhục ở thế gian có muôn vàn, các phương diện truyền hình sách báo hoặc người khác nói thế nào vẫn còn chưa nhận rõ là thật hay giả, thì đã bị ngôn ngữ văn tự ở thế gian lừa gạt, cho đó là sự thật.
Vì vậy, người ở thế gian mượn ngôn ngữ, văn tự đưa đến năng lực giao tiếp, cũng khiến tâm lực chúng sanh kết hợp, nhưng thế giới ngôn ngữ, văn tự cũng không nhất định là thế giới chân thật, nên cũng đưa đến phiền não rất lớn. Đại chúng đều biết năng lượng của truyền hình sách báo ảnh hưởng đến thế giới, vì ngôn ngữ, văn tự, hình tượng đã pha trộn rất nhiều tâm phân biệt và sự hiểu biết của cá nhân, nó không nhất định là thế giới chân thật. Khi họ đưa tin luôn luôn chỉ đưa
những gì mà họ thấy thích mà lượt bỏ qua những thứ không thích, không phù hợp họ thì không chấp nhận, hoặc là những gì đưa ra không mấy là sự thật, có khi muốn lấy lòng người khác nên chiều theo mọi người như vậy.
Do đó, trí tuệ của thuận quyết trạch phần là bắt đầu có thể thể chứng “danh, nghĩa” như huyễn, phá vỡ chấp trước về “ngôn ngữ văn tự”.