NGÀY THỨ NĂM: Ví dụ dẫn chứng thực tế đặc trưng của tâm Bồ-đề: 2. Đại phương tiện, 3. Đại lợi ích.
Hôm nay là ngày thứ năm của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2007.
Bắt đầu từ hôm nay buổi tối sẽ thêm một thời khóa nữa, ngày mai tăng lên một thời, ngày thứ bảy tổng cộng tăng thêm ba thời khóa, đến gần mười hai giờ đêm.
Phật thất xếp đặt theo phương thức như thế, chủ yếu để phù hợp với sự tiến bộ về niệm Phật Tam-muội của quý vị.
Niệm Phật Tam-muội là y theo tín, nguyện, trì danh hiệu để phát tâm Bồ-đề. Ngày hôm qua nhắc đến tâm Bồ-đề có bốn nét đặc trưng.
Thứ nhất là “đại dõng mãnh” (đại tinh cần) thâm sâu, khó hành còn phải trường kỳ đối trị với phiền não. Nét đặc trưng của đại tinh tấn là tự mình và người
khác đều có thể nhận ra được. Quý vị cùng tu tập niệm Phật Tam-muội đến ba ngày cuối cùng cũng là phát huy tâm đại tinh tấn này, vì thời gian càng dài thêm song tính kham nhẫn của mình vẫn chấp nhận được.
Đối với đại tinh tấn, trong kinh điển Phật giáo dùng ví dụ “đội mũ và mặc áo giáp” tinh tấn. Trên con đường Bồ-tát đạo có rất nhiều thách thức, trắc trở, khi thì thuận duyên, lúc lại nghịch cảnh. Giống như ra chiến trường có đội mũ và mặc áo giáp sắt, thì dù bị công kích của dao kiếm v.v... sẽ không khiếp sợ thối lui.
Mũ và áo giáp trong Phật giáo Đại thừa ngoài tín tâm và nguyện lực ra, còn bao hàm nhẫn nhục, thiền định và bát nhã ba-la-mật.
Như ý nghĩa “vô tướng vô trụ” trong “Kinh Kim Cang” dạy, đều là sự thâm sâu của ý nghĩa đội mũ và mặc áo giáp.
“Kinh Kim Cang” có đoạn: “Thiện nam tử, thiện nữ nhơn phát tâm A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề,
lúc đó sanh tâm như vậy: Tôi nên độ hết tất cả chúng sanh, độ hết tất cả chúng sanh rồi, mà không có một chúng sanh thật được độ. Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả tức không phải là Bồ-tát.”
“Phật dạy Tu-bồ-đề, chư Bồ-tát ma-ha-tát nên hàng phục tâm như vậy: Tất cả những loại chúng sanh như: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh... tôi đều khiến nhập vào vô dư niết-bàn mà được diệt độ. Nếu như diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thật không có chúng sanh nào được diệt độ, Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì không phải là Bồ-tát.”
Độ tận tất cả chúng sanh, khiến cho tất cả chúng sanh đều nhập vô dư niết bàn, thật không có chúng sanh nào được diệt độ. Vì tâm của Bồ-tát vô trụ (không chấp trước), do đó thấy thật không có chúng sanh nào được diệt độ.
Nhân vì không có tướng ngã, tướng nhân, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả, vì vậy Bồ-tát mới dũng cảm tiến lên phía trước không sợ thối chuyển.
Đặc trưng thứ hai là “Đại phương tiện”.
Ngoài tâm tinh tấn ra, vẫn cần có phương pháp chính xác, nếu không thì làm nhiều mà không có hiệu suất, lại mất công vô ích, thậm chí dẫn đến uổng phí. Do vậy, phương tiện (phương pháp chính xác) đóng yếu tố rất quan trọng. Ví dụ: Muốn thúc đẩy việc bảo vệ môi trường, vẫn cần phải có phương pháp cụ thể, chính xác.
Ngày hôm qua có nhắc đến vị thanh niên, cậu ấy sau khi gia nhập một đoàn thể bảo vệ môi trường và hi vọng trên phương diện ẩm thực kêu gọi mọi người cùng ủng hộ công tác này. Khi mới gia nhập cậu rất tinh cần, bắt đầu từ việc đưa hàng, đem sản phẩm rau sạch của nông dân đến tận tay người tiêu dùng.
Phương pháp này ở Nhật Bản đã thực hiện gần ba
mươi năm, hiệu quả rất tốt. Nhưng ở Đài Loan chưa làm quen với cách thức này. Vì vậy, cậu nỗ lực từ các công việc cơ bản nhất, làm cả ngày lẫn đêm, về sau lên đến chức phó trong đoàn thể.
Có một ngày vì tranh thủ thời gian, một phần thân tâm mệt mỏi, khi đi qua ngã tư gặp đèn vàng, cậu lái xe muốn vượt qua đường trước khi đèn đỏ bật lên, nhưng đang lúc vượt thì hướng khác có người đạp xe đạp băng ngang qua trước mặt, lúc đó cậu nghĩ không thể tông vào người ta, chỉ còn rẽ qua hướng khác, vừa băng qua làn đường bên kia thì chiếc xe chở hàng ngược chiều sắp tông trực diện.
Trong lúc này, cậu nghĩ cuộc đời coi như xong rồi, đến đây là chấm dứt. Cảm nhận cuộc đời này hình như đang đảo ngược, cảm giác như lúc sắp lâm chung vậy. May mắn là không có thương hại gì nghiêm trọng. Từ đó cậu suy nghĩ: “Nên hay không tiếp tục như vậy? Hay trở về với lúc bắt đầu”. Cuối cùng quyết quay về nơi chào đời, chốn đồng ruộng xưa kia.
Dưới sự khích lệ của người bạn đời, cậu đã từ chức về trồng lúa trong vườn ruộng của mình.
Nhưng chỉ có một mình, đặc biệt lại trồng lúa sạch (không sử dụng phân bón thuốc hóa học), thì không cách nào nào nuôi dưỡng nổi gia đình. Do vậy cậu nghĩ ra một phương pháp, cậu biết rất nhiều dân cư ở đô thành trong tâm rất mong muốn có miếng ruộng lý tưởng, muốn ăn gạo của mình tự trồng, nhưng không có được cơ hội. Cậu đem cách nghĩ của mình kết hợp với nhiều người có lý tưởng như vậy, trở thành một tổ chức giống như “hợp tác xã”, với tinh thần mình vì mọi người, mọi người vì mình. Cậu để cho nhiều người đến đầu tư, bắt đầu từ một hai người, ba bốn người, rồi sử dụng internet quảng bá, khiến cho số người tăng hai đến ba trăm người. Đất ruộng cũng từ một hecta lên đến sáu hecta.
Cậu trở thành quản lý câu lạc bộ điền viên, với hai ba trăm người cùng nhau đến thực hiện lý tưởng, để cho người sống ở đô thành vẫn ăn được lúa gạo của chính
mình tham gia.
Có một số gia đình tranh thủ vào ngày nghỉ, cả nhà xuống ruộng giúp việc đồng án, vẫn không có ảnh hưởng gì đến cuộc sống sinh hoạt ở đô thị của họ.
Phương pháp này trải qua ba năm thì có kết quả, mọi người đã đạt đến mục đích của họ cần. Đài truyền hình quốc gia đều đến phỏng vấn kinh nghiệm thành công này. Tuy phương pháp rất đơn giản, nhưng là phương pháp chính xác, kết hợp với yếu tố đúng lúc của Đài Loan nên có được những thành tựu.
Tây Liên Tịnh viện tổ chức Phật thất đã gần ba mươi năm, có ý nghĩa tương tự như trên.
Người tại gia bình thường bận rộn chuyện gia đình và xã hội song mỗi người muốn có đạo tràng lý tưởng trong tâm của họ, mà Tây Liên Tịnh viện tạo ra cơ hội như vậy. Một năm tổ chức khoảng mười bốn lần Phật nhất, với trước và sau tết tổ chức hai kỳ Phật thất, tạo ra cơ hội cho mọi người trồng ruộng trong tâm càng nhiều hơn.
Còn chúng thường trụ ở Tây Liên Tịnh viện thường chăm coi nơi đây, giống như nhân viên quản lý mẫu ruộng này vậy. Tuy cư sĩ không nhất định ở đạo tràng, song giống như hội viên của hợp tác xã, khi rảnh thì đến tham dự. Mỗi một kỳ Phật thất, đều có người đến ghi danh tham gia. Mẫu ruộng này mọi người phân công hợp tác, thì sẽ không bị hoang phế, mà còn đem lại lợi ích cho nhau. Không luận là người tại gia hay xuất gia, đều ảnh hưởng đến sự thu hoạch của tâm linh, sản phẩm nông nghiệp thanh tịnh của tâm linh.
Y theo cách thức này, mọi người đều có thể khái quát được đại tinh tấn, đại phương tiện. Mà ý nghĩa của chữ “đại” là lợi ích qua lại, lợi ích cộng đồng.
Nếu chỉ có một người, dù cố gắng thế nào, rất khó mà duy trì được đạo tràng tổ chức niệm Phật hai ba mươi năm. Nhưng hôm nay đại chúng phân công hợp tác, có quy luật, phương pháp, nghi thức, mỗi người cố gắng một ít, thì có thể hỗ tương lẫn nhau sẽ đạt được thành tựu.
Có một ví dụ, mỗi một thời khóa, phương pháp quý vị cùng tu tập là niệm Phật, phương pháp này rất giống như đoàn hợp xướng.
Đoàn hợp xướng là nương nhờ sự phối hợp âm thanh của mỗi thành viên, tạo ra năng lượng đoàn kết tâm linh, khiến cho cảnh giới tâm linh không ngừng thăng hoa. Vì vậy, khi đoàn hợp xướng hát hay, khiến cho tâm linh của mỗi đoàn viên kết hợp lại với nhau, người nghe cũng được hòa mình vào sự thăng hoa của tâm linh.
Phương thức này rất dễ dàng đạt đến sự chuyên chú và khinh an trong nội tâm. Có được sự chuyên chú và khinh an, thì có thể tăng cường được tính kham nhẫn của tâm linh. Rất nhiều người trong cảnh đó, cảm thấy năng lượng của sự chuyển biến thân tâm cao, thể nhận được mối quan hệ từ mình với mọi người, gia đình và xã hội.
Giống như đoàn hợp xướng vậy, có thể hòa hợp, an lạc.
Trong “Độc Giả Văn Trích” từng kể lại một câu chuyện thật, có một cô gái tham gia đoàn hợp xướng nghiệp dư, đang vận động thể dục bị rớt xuống biển, trong thời tiết lạnh giá, đợi khi đội cứu hộ tìm đến thì đã trải qua thời gian ba tiếng đồng hồ.
Một người bình thường ngâm mình trong biển lạnh giá ba tiếng đồng hồ rất là khó sống xót. Khi cô rớt xuống thì vô cùng sợ hãi, nghĩ rằng cuộc đời hết rồi, chết đã đến nơi, tâm hoang mang sợ hãi nghĩ ngợi lung tung.
Lúc này cô nghĩ mình nên tập trung ý chí tinh thần làm một, hát những bài hát đã học trong đoàn hợp ca, bài này tiếp bài khác, hát cả ba tiếng đồng hồ. Khi đội cứu hộ tìm đến, cô không có bị tổn thương đến thân tâm, chỉ cổ họng hơi bị khan một chút.
Cùng nhau tu tập trong bảy ngày thật ra cũng giống như vậy. Khi xướng lên quý vị phối hợp tốc độ nhanh chậm của Phật hiệu, âm thanh cất lên vừa phải,
không lớn không nhỏ, dung hợp với nhau.
Cõi Tịnh độ trong “Kinh A Di Đà” nói, chúng sanh hòa hợp an lạc, không cần phải đi tìm đâu xa, không cần phải kiếm ở bên ngoài, khi quý vị cùng niệm Phật, cá nhân và mọi người có thể cảm nhận đến được điều này.
Vì vậy sau mỗi thời khóa, xướng bài kệ hồi hướng: “Nếu có ai thấy nghe, đều phát tâm Bồ-đề.” Nếu có người thấy đến, nghe đến, đều có thể phát tâm Bồ-đề.
Từ thân nghiệp biểu hiện ra, bao quát: Đứng, nhiễu Phật, chắp tay, và ngữ nghiệp: Khi ra tiếng, có thể nhìn được, nghe được, đây là điều thực tại, hi vọng quý vị tiếp tục nỗ lực.
A Di Đà Phật!