Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Niệm Phật tam muội nhập môn

Niệm Phật tam muội nhập môn

Tác giả: Thích Tuệ Mẫn trước tác Việt dịch Thích Vạn Lợi, Thích nữ Lệ Trúc, Thích nữ Trung Định, Thích nữ Phước Ngọc. Năm xuất bản: -. Số trang: 288.

Chương 7: Ngày Thứ Hai: Chuyển Hóa Thân Tâm (Trang 30 - 44)

NGÀY THỨ HAI: Chuyển hóa thân tâm
Thời khóa thứ 2, ngày thứ hai của kỳ Phật thất thứ hai năm 2005 (ngày 28 tháng 01 năm 2005 tức ngày 19 tháng 12 Âm lịch).
Ngày hôm qua, nội dung bài nói chuyện thức tỉnh chúng ta, trong thời gian tu niệm Phật Tam-muội cần biết mục tiêu và phương pháp chính xác. Nương vào niệm Phật để phát tâm Bồ-đề, dùng “Năm tiến trình”: Lễ bái, xưng tán, tác nguyện, quán chiếu và hồi hướng làm phương tiện, thấy được mối quan hệ của lễ bái và thân nghiệp, giữa xưng tán và khẩu nghiệp.
Hôm nay, chúng ta tiếp tục thảo luận về vấn đề sự tiến bộ tu hành đối với sự chuyển hóa thân tâm (chuyển y), vì nơi thân tâm ngũ uẩn là chỗ nương tựa của sự sống, từ đó thảo luận phương pháp từ điều xấu và thân tâm thô thiển có thể chuyển thành thân tâm khinh an và nhẹ nhàng.
Trong “Kinh Vô Lượng Thọ” nói Phật A Di Đà là
Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, khi quang minh chiếu khắp chúng sanh khiến cho thân tâm chúng sanh nhẹ nhàng. Kì thật, đây cũng chính là sự chuyển hóa thân tâm, cho nên nói niệm danh hiệu Phật để chuyển hóa thân tâm là vậy. Chuyển hóa thân tâm cũng là mục tiêu tiến đến Tam-muội.
Lần lượt sự chuyển hóa, tuần tự ban đầu từ thân nghiệp và khẩu nghiệp. Cho nên ngày hôm qua, tôi đã nêu rõ những vấn đề để thức tỉnh mọi người, trong thời gian Phật thất, luôn giữ cho thân nghiệp tương ưng với “lễ bái môn”, tương ưng với tâm cung kính.
Lúc đứng thì đứng thẳng như cây tùng, người khác nhìn thấy đều có thể cảm nhận được sự vững chắc của tâm Bồ-đề không thối chuyển. Lúc chắp tay cũng biểu hiện được sự thành kính và năng lượng của sự chuyên chú. Lúc đi đường thì đi nhẹ nhàng như gió, rất vững chãi, thanh thoát không nặng nề thô tháo. Lúc ngồi thì vững như chuông, ngay thẳng, đoan chánh, ngồi thẳng tựa như kim tự tháp, ví như trong ngôi nhà, tâm vững

chãi như cây cột chịu đựng được phong ba bão táp.

Trong kinh đức Phật dạy thầy Tỳ-kheo tu Tam-muội phải giữ thân ngay thẳng, từ đầu đến cổ hai vai và cột sống vững chắc như trụ cột của ngôi nhà, thì tự nhiên sẽ có sức mạnh nâng đỡ một cách vững chắc. Nếu như việc điều chỉnh thân nghiệp dễ nhận biết như thế mà chưa được, thì làm sao đi đến quán chiếu ý nghiệp vi tế?

Chữ “niệm” trong niệm Phật Tam-muội ý nghĩa cơ bản nhất là chỉ khả năng quán chiếu. Niệm trong bốn loại niệm (thân, thọ, tâm và pháp) cũng chính là ý nghĩa của khả năng quán chiếu. Đối tượng của quán chiếu từ mỗi tư thế lên xuống, ra vô, nhanh chậm của thân nghiệp khi đi đứng, nằm ngồi, đều cần phải rõ ràng. Hành giả theo dõi rõ được sự thay đổi của thân nghiệp, thân thể mới điều tiết được tốt nhất. Cho nên, Tam-muội chẳng phải là thân và miệng không động đậy, mà là một động thái điều tiết và cân bằng. Thân nghiệp giống như trên mới có thể đảm nhận được thiện pháp.

Tu Tam-muội là tu đức tính kham nhẫn được các thiện pháp như: Năm giới, mười giới và cả giới, định và tuệ cho đến lục độ vạn hạnh. Tính kham nhẫn của thân nghiệp đối với người thế gian là huấn luyện thân thể để nó có thể gánh vác các công việc lao lực hoặc lao tâm. Tu hạnh xuất thế trước hết là phải điều thân (điều tiết thân thể), đây cũng là bước thứ nhất của pháp tu Tam-muội.
Thân niệm trụ trong bốn niệm trụ giúp chúng ta quán chiếu thân thể một cách mẫn tuệ, ổn định, học được cách điều tiết thân thể. Và giúp cho cơ thể chúng ta thay đổi để tiếp nhận thiện pháp ngày càng tăng trưởng.
Tiến thêm bước nữa càng vi tế hơn là thân thể của âm thanh, hoặc là thân thể của hơi thở, cũng gọi là “tức thân”.
Pháp môn Tịnh độ được lưu truyền ở Trung Quốc rất chú trọng xưng niệm hồng danh Phật, đem âm thanh để làm Phật sự, tự độ độ tha; Chuyển hóa thân tâm của
chính mình và chuyển hóa thân tâm của tha nhân. Cho nên, về phương diện biểu đạt, ngoài cái được nhìn thấy hoặc nghe được âm thanh, như bài kệ hồi hướng “nếu có ai thấy nghe” đều đạt được lợi ích, còn giúp cho tự thân và người cảm nhận được âm thanh này hòa hợp với cơ thể ngũ uẩn. Điều quan trọng là làm sao chúng ta khéo léo tu tập để phát huy được công năng tự lợi lợi tha.
Trong khi đứng hay ngồi đều xướng niệm thành tiếng vững chãi như trụ cột để thân thể được phối hợp nhịp nhàng. Âm thanh cùng với hơi thở từ đan điền ra ngoài, sau đó hít vào, âm thanh vào rồi ra và hơi thở cũng giống như vậy. Âm thanh cũng giống như thân thể phát ra rất an định, mọi người nghe tiếng niệm Phật của chúng ta sẽ cảm nhận được sự an định và không thối chuyển tâm Bồ-đề.
 
Đại sư Thiện Đạo niệm Phật phóng hào quang, Đại sư Thiểu Khang niệm Phật hiện Phật. 
Tổ thứ hai của tông Tịnh độ là Đại sư Thiện Đạo, theo truyền thuyết kể rằng: Trong lúc Ngài niệm Phật, mỗi câu niệm ra thì trong miệng phóng một luồng hào quang. Điều này có thể cho chúng ta thấy thần lực của âm thanh, nó có năng lượng chuyển hóa thân tâm rất lớn đối với chính mình và người khác.
Căn cứ vào “Quán Vô Lượng Thọ Phật Nghĩa Sớ Chánh Quán Ký” quyển hai có ghi: “Đại sư Thiện Đạo, niên hiệu Trinh Quán đời Đường hoằng truyền chánh pháp ở kinh đô, không ai biết Đại sư người ở xứ nào, trong truyện cũng không ghi chép tên họ. Đại sư chép Kinh A Di Đà đến mười vạn quyển rồi đem cúng dường khắp nơi cho mọi người thọ trì. Mỗi tiếng niệm Phật của Đại sư đều có hào quang từ trong miệng phóng ra. Vì vậy, Vua Cao Tông đặt tên nơi Đại sư ở là Quang Minh tự”. Điều này cho chúng ta thấy vị hoàng đế lúc bấy giờ muốn biểu dương thần lực cảm ứng việc niệm Phật của Đại sư, rồi ban cho Đại sư đạo tràng là Quang Minh tự. Vào mùa đông băng giá, Đại sư vẫn ở đại điện,
tiếng niệm Phật phát ra lớn, không cảm thấy lạnh mà thân thể còn xuất ra mồ hôi chảy ròng. Cho nên, trong “Bát Thập Bát Tổ Đạo Ảnh Truyện Tán” ca ngợi:
Đại sư hóa thân lại chán thân,
Dụng tu kiệt lực chí cao ngần.
Mồ hôi vã ướt, không cần chiếu,
Khi ngủ luôn lìa nệm ấm thân.
Niệm phật cảm ứng hào quang xuất,
Mỗi mỗi hồng danh tiếp độ người.
Truyền đăng tục diệm ôi vô lượng,
Bao kiếp tu hành lập hạnh nhân.
Vì vậy, chúng ta tu theo kinh nghiệm niệm Phật của Đại sư Thiện Đạo thì có thể biết được, trong kỳ Phật thất phải để tiếng niệm Phật của mình và đại chúng phối hợp, dung hòa với nhau mới có thể phát sinh được sức lực và quang minh tự độ độ tha.
Vị tổ thứ năm của tông Tịnh độ là Đại sư Thiểu Khang. Khi Ngài niệm Phật, thấy Phật từ trong miệng hiện ra; Mười tiếng niệm Phật liên tục thì mười vị Phật 
liên tiếp nhau hiện. Tiếng niệm Phật không dứt, đức Phật hiện ra liên tục. Tổ sư Tịnh độ tông ở Nhật Bản cũng có truyền thuyết về kinh nghiệm này. Cho nên, tượng điêu khắc của tổ tông Tịnh độ ở Nhật cũng có tạo hình Phật ở trong miệng hiện ra.
Vì vậy, trong bảy ngày niệm Phật này, mỗi thời khóa, mỗi câu niệm Phật đều có thể phối hợp với nhau trong suốt quá trình tu tập niệm Phật Tam-muội, bắt đầu từ bài kệ “Tán Phật” cho đến danh hiệu Phật sáu chữ đến còn bốn chữ, tiếng niệm Phật của mình và tiếng niệm Phật của đại chúng hòa lẫn nhau, phối hợp nhịp nhàng và phối hợp với cả tiếng chuông tiếng mõ, không nhanh, không chậm, tốc độ vừa chừng.
Từ góc độ âm nhạc cho thấy giống như đoàn hợp xướng niệm Phật hòa điệu rất hay. Âm thanh hòa hợp này sẽ đánh động mọi người, đánh động sự chuyển hóa thân tâm của chính mình cũng như chuyển hóa thế giới Ta Bà thành thế giới Cực Lạc.
Trong “Kinh A Di Đà” có diễn tả âm thanh của thế 
giới Cực Lạc bao gồm gió thổi, hàng cây bảy báu cũng phát ra âm thanh; rồi âm thanh của nước trong ao thất bảo, nước Bát công đức chảy và có cả tiếng chim. Chúng sanh nghe được những âm thanh này tự nhiên sẽ niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, nó có công năng chuyển hóa được thân tâm.
Dùng âm nhạc làm ví dụ, lúc chúng ta nghe được âm thanh vi diệu, thân tâm dường như nhận được sự quán đảnh, thăng hoa cảnh giới của thân tâm. Cũng giống như vậy, tán tụng giống như âm thanh của đoàn hợp xướng niệm Phật A Di Đà làm cho thế giới nội tâm được thăng hoa để thân tâm thấm nhuần nguyện lớn của đức Phật A Di Đà.
Cho nên trong bảy ngày này, nếu như âm thanh không chuyển thành pháp âm vi diệu, không khéo vận dụng phương tiện của pháp môn niệm Phật thì thật là đáng tiếc.
Tất cả chư Phật, chư đại Bồ-tát đều có năng lực này, chỉ cần có chúng sanh niệm danh hiệu của quý
Ngài thì có thể lìa khổ được vui. Do đó, mọi người không nên cho là tu Tam-muội thì thân thể phải bất động, miệng lặng im, cái gì cũng đều bất động cả. Thật ra Tam-muội là “Đẳng trì” là giữ trạng thái của thân tâm quân bình chính xác, khiến cho tâm hành giả đối với các thiện pháp có được sự kham nhẫn chấp thuận. Đây là sự dụng công quan trọng cần học tập trong Phật thất này.
Phạm vi của thân niệm trụ, ngoài việc giữ tư thế, động tác, hành vi và âm thanh của thân thể ra còn bao gồm cả hơi thở nữa. Từ lúc biết hơi thở dài, hơi thở ngắn cho đến biết toàn thân thở (điều chỉnh hơi thở cũng giống như điều chỉnh thân thể), sau đó “An tịnh thân hành” (hơi thở). Hơi thở là cơ sở để điều tiết thân thể. Hơi thở đều đặn thân thể sẽ khinh an, tâm liền được an định.
Cũng như vậy, khi âm thanh phát ra cũng giống như thế. Âm thanh phát ra dài ngắn, nhanh chậm thân thể nhận biết rõ toàn bộ âm thanh (Thân thể của âm
thanh và thân thể của hơi thở cũng cần rõ ràng để trụ tâm vào sự an định).
Muốn biết thân nghiệp chính xác hay không, khi nghe được âm thanh tiếng niệm Phật hài hòa thì có thể sáng tỏ.
Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp giống như lúc thọ giới sẽ được chuyển hóa
Thân nghiệp và khẩu nghiệp nếu như không có chuyển hóa thì ý nghiệp cũng không chuyển hóa. Bởi vì sự hoạt động của cơ thể, sự biểu đạt của lời nói là biểu hiện của nghiệp thể hiện ra bên ngoài và hiện rõ cho người khác thấy; còn ý nghiệp chẳng phải là biểu nghiệp nên không thể biểu hiện cho người khác thấy. Vô biểu nghiệp và biểu nghiệp sẽ ảnh hưởng qua lại với nhau.
Ví dụ như lúc thọ giới, chúng ta quỳ thẳng, chắp tay đây là biểu nghiệp của thân thể, biểu đạt tâm nguyện lúc thọ giới có kiên định hay không. Khi nghe vị thầy truyền giới đọc văn sám hối, tam quy y và hồi 
hướng, đặc biệt là lúc đọc tam quy y, đây là biểu hiện của lời nói, thể hiện sự quyết tâm lãnh thọ giới thể. Trải qua các loại phương thức biểu đạt giúp cho mình và người nhận rõ quyết tâm thọ giới mới được đắc giới. Vì vậy, nhờ năng lực này mà ngăn ngừa được các pháp xấu lỗi lầm.
Nếu chúng ta cho rằng: “Trong tâm tôi nghĩ thọ giới là đủ”, thân không chắp tay quỳ thẳng, miệng không đọc lời sám hối, tam quy y, kệ hồi hướng; Nhất là lúc thọ tam quy y không đọc theo thì không cho là được đắc giới.
Tu niệm Phật Tam-muội cũng như vậy, thân nghiệp và khẩu nghiệp cần phải thể hiện ra thì nguyện lực của tâm Bồ-đề mới thành .
Từ thân nghiệp, khẩu nghiệp cho đến ý nghiệp, khoảng giữa còn có cảm thọ. Từ trình tự diễn biến của tâm lý cho thấy thọ uẩn xuất hiện trước tưởng uẩn và hành uẩn.
Trình tự của Tứ niệm trụ cũng như vậy, từ thân 
niệm trụ đến thọ niệm trụ và sau thọ niệm trụ là tâm niệm trụ.
Đối với cảm thọ, lúc niệm Phật nếu có thể lìa được các dục vọng thế tục thì có thể lìa được những ưu khổ được khởi sinh từ dục vọng. Nếu lìa được ưu khổ thì có thể phát sanh hỷ lạc ly dục. Vì vậy trạng thái thân tâm ở sơ thiền gọi là “Ly sanh hỷ lạc”, lìa được sự trói buộc của cảm quan dục vọng mà sanh hỷ lạc.
Chấp trước vào cảm quan dục vọng sẽ sanh khởi ưu khổ. Sau khi lìa được sự ham muốn thì liền sanh hỷ lạc, và cảm thọ hỷ lạc này cũng chính là cảm thọ đặc biệt của Tây phương Tịnh độ Cực lạc.
Tây phương Tịnh độ Trung quốc dịch là “Cực lạc” tiếng Phạn với ý nghĩa là “có đủ sự vui thích” là quốc độ của Phật đầy đủ sự an lạc.
Do đó, điều kiện để thành tựu niệm Phật Tam-muội phải học tập tương ưng với giới định và tuệ. Vì trì giới thanh tịnh thì sẽ không có buồn phiền hối hận; Ngược lại trì giới không thanh tịnh thì sẽ có buồn phiền
sầu hận và không đạt được sự hỷ lạc.
Hy vọng mọi người cùng tương ưng cõi nước thanh tịnh Tây phương Cực lạc, điều căn bản nhất từ thân nghiệp đến cảm thọ, chuyển hóa cảm thọ là quan trọng nhất.
 
A Di Đà Phật!
Hương vị và cảm thọ
Lúc điểm tâm sáng
Buổi sáng niệm Phật, có nhắc nhở về sắc thân cho đến cảm thọ, cách quán chiếu và điều chỉnh hai điều đó.
Ở tại trai đường cũng tương tự như vậy. Thức ăn trước mắt là sắc pháp, nhưng thức ăn đối với chúng ta mà nói không chỉ có sắc pháp mà khi thọ dụng quan trọng ở hương vị. Vì hương vị từ cảm thọ mà đến, cảm thọ như thế nào thì cảm nhận hương vị giống như thế ấy.
Niệm Phật cũng như vậy, âm thanh niệm danh hiệu Phật (sắc pháp), cũng là ngôn ngữ, phải cảm nhận 
được sự nguyện lực sâu rộng của đức Phật A Di Đà, sự thanh tịnh của cõi Cực lạc. Tất cả những điều này đều từ sự cảm thọ mà đến. Chuyển hóa cảm thọ thì mới có thể phát sinh ý nghiệp thanh tịnh.
Nếu cùng thưởng thức thức ăn, cảm thọ đến hương vị, mới có khả năng thọ dụng sự bổ dưỡng của thức ăn.
Ở đây đưa ra là muốn nhắc nhở đại chúng.

/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »