Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Niệm Phật tam muội nhập môn

Niệm Phật tam muội nhập môn

Tác giả: Thích Tuệ Mẫn trước tác Việt dịch Thích Vạn Lợi, Thích nữ Lệ Trúc, Thích nữ Trung Định, Thích nữ Phước Ngọc. Năm xuất bản: -. Số trang: 288.

Chương 15: Ngày Thứ Nhất: Niệm Phật Làm Nền Tảng Để Phát Tâm Bồ Đề (Trang 152 - 162)

NGÀY THỨ NHẤT: Niệm Phật làm nền tảng để phát tâm Bồ-đề.
Hôm nay là ngày đầu tiên của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2006.
Theo truyền thống tu tập của Phật giáo, vào mùa đông có hoạt động tu thiền; Còn mùa hè thì kiết hạ an cư, để mọi người chuyên tâm tinh tấn hơn trên mặt giới luật, đương nhiên cũng có hoạt động của tu thiền. Ở Trung Quốc lưu hành “mùa đông ngồi thiền mùa hạ giảng dạy”, vì mùa đông phối hợp với yếu tố thời tiết nên tổ chức tu thiền, còn mùa hè giảng dạy là chủ yếu. Theo truyền thống như vậy, Học hội Tịnh Uyển nhân mùa đông, trước tết và sau tết có tổ chức hai kỳ Phật thất.
Mỗi năm có hoạt động cùng nhau tu tập như vậy để kiểm tra mình có tiến bộ hay không. Nhờ tu tập niệm Phật Tam-muội, lấy trì danh niệm Phật, xưng danh niệm Phật, kiểm tra thân, khẩu, ý của mình đã tiến bộ 
bao nhiêu, hoặc là khiến tam nghiệp này đối với sự nghiệp tịnh hóa mình, thanh tịnh chúng sanh, thành tựu trang nghiêm Tịnh độ, đã tiến bộ được bao nhiêu.
Muốn biết rõ mình tiến bộ hay thối lui như thế nào? Điều này từ tâm Bồ-đề của mình và sự tăng thêm hay giảm bớt của Bồ-tát hạnh thì có thể nhận ra. Vì pháp môn niệm Phật là một loại pháp môn Đại thừa, mà tất cả pháp môn Đại thừa đều dạy chúng ta phát Bồ-đề tâm, tu Bồ-tát hạnh. Tu niệm Phật Tam-muội không chỉ dùng ở lúc lâm chung, cầu vãng sanh Tịnh độ thôi, mà là mượn xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật để phát tâm Bồ-đề.
Thời khóa thứ nhất của mỗi buổi sáng Phật thất, chúng ta thường niệm “Kinh A Di Đà”, trong đó dạy về pháp môn niệm Phật, pháp môn Tịnh độ Đại thừa là hy vọng trang nghiêm cõi Tịnh độ, mà trang nghiêm Tịnh độ cũng không phải chỉ có Tịnh độ của thế giới tây phương cực lạc thôi, còn phải trang nghiêm hiện đời ngũ trược ác thế Ta bà, thế giới này trở thành Tịnh độ, 
hy vọng thế giới Ta bà có thể an lạc trang nghiêm như thế giới Tây phương cực lạc.
Quốc độ như vậy, chúng sanh cũng như vậy. Chúng sanh cũng có thể giống chư thượng thiện nhân, có tâm nguyện như vậy, tín nguyện tâm tự nhiên thành tựu. Ở đời cũng có tâm nguyện và hành vi như thế, vì vậy tự nhiên có thể thành tựu tín, hạnh, nguyện, đối với mình, mọi người tín tâm sẽ không bị dao động hoặc hoài nghi pháp môn niệm Phật.
Có vị cư sĩ hỏi tôi rằng: “Khi ông ta tham gia Phật nhất, Phật thất, niệm Phật rất tinh tấn, nhưng khi về đến nhà, ra xã hội, hoặc khi làm công việc v.v... thì cảm giác không có tín tâm, không biết như vậy có thể vãng sanh Tịnh độ được không?”
Về vấn đề này trong Kinh điển, có vị cư sĩ từng hỏi Đức Phật, bình thường thân cận Phật pháp, niệm Phật tu hành, sợ không bảo đảm là khi lâm chung có thể vãng sanh nơi cõi lành, vãng sanh cõi Phật, vì ông lo lắng mạng người vô thường, không biết khi nào, tình 

huống nào vãng sanh, cũng có thể do sự cố giao thông ra đi ngoài ý muốn, cũng có thể nơi núi hoang đồng vắng hoặc nơi chiến trường v.v... vì lúc này tình thế rất cấp bách.

Đức Phật dạy: Ví dụ có cây kia, lớn lên hướng về phía vậy thì cái cây này khi ngã, xin hỏi sẽ ngã về hướng nào? Nhất định là hướng về phía tây.

Cũng vậy, những việc làm mỗi ngày của chúng ta đều như đang sống ở thế giới tây phương cực lạc; Nguyện và hạnh tương ưng với Phật A Di Đà, khi ra đi nhất định tương ưng với Tịnh độ cõi Phật. Điểm này mình không cần hoài nghi, người khác cũng không cần hoài nghi, đây là quan niệm tu pháp môn Tịnh độ, pháp môn niệm Phật rất quan trọng.

Vì vậy trong bảy ngày này, ban đầu nên xác định mục đích tu hành chính xác, niệm Phật là phải phát tâm Bồ-đề. Trong “Kinh A Di Đà” và “Kinh Vô lượng Thọ” nhắc đến, bất luận là vãng sanh ở thượng phẩm, trung phẩm hay hạ phẩm, tất cả đều cùng một điều kiện là phải phát tâm Bồ-đề.

Trong “Kinh A Di Đà Yếu Giải”, Đại sư Ngẫu Ích giải thích: Điều kiện vãng sanh không phải là niệm Phật tới mức như tu thiền định thế gian, gió thổi không lay, mưa tạt không ướt, quan trọng hơn là phải phát Bồ-đề tâm. “Nếu không có tín nguyện, dù có đem danh hiệu này làm lời nói hằng ngày, hay niệm đến gió thổi không lay, mưa tạt không ướt, cho đến như tường đồng vách sắt, cũng tuyệt đối không có đạo lý vãng sanh Tịnh độ.”
Giả sử vòng sắt nóng,
Xoay chuyển trên đầu tôi,
Quyết không cho là khổ,
Thối thất đạo vô thượng.
Tâm Bồ-đề phải nhẫn nại đau khổ đến mức độ nào mới không bị thối chuyển? “Phẩm Hiếu Dưỡng 2 Quyển 1 Trong Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân” chép: “Thiên vương nói rằng: Ngươi là đại ngu, vì A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam Bồ-đề phải chịu khổ lâu dài mới được thành tựu, ngươi làm sao có thể chịu được 
khổ?” Tu Xiển Đề đáp rằng: “Giả sử vòng sắt nóng, xoay chuyển trên đầu tôi, quyết không cho là khổ, thối thất đạo vô thượng.”
Nhân đây, khi truyền giới Bồ-tát, giới sư dẫn dụng đoạn này để khuyến khích giới tử. Ví dụ: “Truyền Giới Chánh Phạm” quyển 4: “Thứ 9, minh phát nguyện pháp. Trong hai bộ kinh ‘Anh lạc’ và ‘Yết ma’, thiếu lời phát nguyện, hiện tại trích trong giới bổn phát mười bốn nguyện để bổ sung. Giới sư Bồ-tát vỗ thủ xích rồi dạy: Quý vị Phật tử sám hối tội lỗi đã xong, tam nghiệp thanh tịnh, như lưu ly trong suốt chiếu sáng trong ngoài. Kế đến nên phát mười bốn loại đại nguyện, nương theo đó mà tu hành viên mãn công đức. Giả sử vòng sắt nóng, xoay chuyển trên đầu tôi, quyết không cho là khổ, thối thất đạo vô thượng.”
Những thử thách mà chúng ta cần đối diện có muôn mặt, ví dụ: Bánh xe sắt lửa nóng, đè nặng lên đầu, địa ngục giá rét v.v... khi hành Bồ-tát đạo gặp các điều kiện vật chất, khí hậu thay đổi v.v... nhưng cần phải

vượt qua.

Ngoài ra, còn có những điều kiện của cá nhân về sức khỏe, khi đau bệnh v.v... có còn phát tâm bố thí cho chúng sanh, hy vọng chúng sanh thành tựu hay không? Nếu ngay cả những thử thách căn bản nhất này mà không vượt qua, thì khó có thể xả thân vì chúng sanh, cắt thịt cho chim, xả thân nuôi cọp, hoặc là thành tựu hạnh nhẫn nhục, như “Kinh Kim Cang” đã nói, tiên nhân nhẫn nhục bị vua Ca-lợi cắt thịt trên thân thể, vẫn giữ vững tâm Bồ-đề.

Vì vậy, cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà là từ tâm Bồ-đề với vô lượng vô biên Bồ-tát hạnh mà thành tựu. Danh hiệu niệm Phật giả như không thể niệm ra tương ưng cùng với công đức của Phật A Di Đà, lấy danh hiệu để cảm ứng đức hạnh của Phật A Di Đà, học tập đức hạnh này thì rất là cao quý. Niệm đến danh xưng, chỉ là âm thanh ngôn ngữ, không có chân chánh niệm đến ý nghĩa công đức, không có đem ý nghĩa công đức niệm ra thì rất khó mà thay đổi bản thân.

Trong bảy ngày này niệm Phật Tam-muội, đầu tiên quý vị nên xác lập mục đích chính xác, rồi phải hạ quyết tâm, vì đời người vô thường không ai đảm bảo mỗi năm đều có nhân duyên có thể tham gia Phật thất. Giả như không có hạ quyết tâm thì rất khó thay đổi những tập khí, tập quán tích lũy trong vô lượng kiếp từ quá khứ của mình.Tuy đã niệm Phật, nhưng những gì đã niệm vẫn là tập khí từ trước thuộc tự ngã, mà không phải là Phật.
Hành vi của mình: Đi, đứng, ngồi thiền, chắp tay, nhiễu Phật, niệm Phật tất cả những biểu đạt của thân và ngữ nghiệp, có phải đã biểu đạt được tín tâm, nguyện tâm của tâm Bồ-đề hay chăng? Có thể kích phát mình và những chúng sanh khác phát tâm Bồ-đề? Những gì biểu đạt ra, tự mình nhìn thấy, nghe được, có năng lực kích thích tâm Bồ-đề chưa? Những điều này rất căn bản có thể đem kiểm thảo. Nếu như đối với những điều rõ ràng đó, mà tự mình đều không cảm nhận đến, vậy thì trong nội tâm những phần vi tế càng khó phát hiện,

người khác cũng khó mà nhìn thấy. Không biết mình cuối cùng có bao nhiêu năng lực? Có bao nhiêu thay đổi? Như vậy thì rất khó khiến mình hay người khác biết mình tiến bộ được bao nhiêu.

Ý nghiệp không thanh tịnh, ý nghiệp không có thay đổi, thì tập khí rất khó biến đổi, những hiểu biết, cách nghĩ của mình sẽ rất khó thay đổi giống Phật A Di Đà, hoặc là có cách nghĩ thành tựu cõi trang nghiêm Tịnh Độ.

Ý nghĩa của xướng niệm “kệ tán Phật”: Tán thán pháp thân thanh tịnh bình đẳng của Phật và chúng sanh.

Vì vậy mỗi thời khóa niệm tán kệ Phật, tán thán “Phật A Di Đà thân sắc vàng, tướng hảo quang minh vô đẳng luân”, sắc thân, báo thân và pháp thân thanh tịnh trang nghiêm của Phật, khiến chúng ta sanh khởi tâm Bồ-đề, cảm giác rằng tuy hiện tại là thân tâm ngũ ấm, nhưng có pháp thân thanh tịnh bình đẳng giống như Phật, mà không chỉ là nghiệp báo thân, thân tâm ngũ ấm giới hạn này mà thôi.

Báo thân biến pháp giới của Phật A Di Đà, lông mày trắng, mắt xanh của Ngài thì lớn như núi, rộng như biển, đây là báo thân biến pháp giới. Khi niệm Phật, nên đem nghiệp báo thân thường tạo nghiệp thọ khổ của mình, chuyển thành viên mãn báo thân giống như Phật.
“Phật A Di Đà” ý nghĩa là vô lượng quang vô lượng thọ. Pháp thân thanh tịnh thường tịch, thì cũng giống như tất cả chúng sanh bình đẳng trang nghiêm, chúng sanh cũng đầy đủ khả năng tánh công đức trang nghiêm giống như Phật.
Vì vậy khi chúng ta tán tụng “trong hào quang hóa vô số chư Phật, hóa chư Bồ-tát cũng vô biên”, cảm nhận đến tất cả chúng sanh hình như cũng đều giống Phật, hóa Bồ-tát đang độ hóa, thành tựu, hộ trì chúng ta. Vì vậy, bình thường chúng ta nên cảm ơn, cung kính tất cả chúng sanh.
 Từ đây mà phát bốn mươi tám đại nguyện giống như Phật. Niệm Phật nên phát Bồ-đề tâm, Bồ-đề 

nguyện cụ thể giống Phật như vậy, có bốn mươi tám đại nguyện mà để hóa độ chúng sanh trong chín phẩm. Khi đại chúng niệm Phật nên có tâm nguyện như vậy.

 A Di Đà Phật!

/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »