NGÀY THỨ SÁU: Lúc lâm chung tứ đại phân giải.
Thời khóa thứ 2, ngày thứ sáu của kỳ Phật thất thứ hai năm 2005 (ngày 01 tháng 2 năm 2005 tức ngày 23 tháng 12 Âm lịch).
Hôm qua đã căn cứ vào “Đại Thừa Khởi Tín” trình bày, từ một tâm mở ra hai cửa, làm như thế nào từ cửa sanh diệt có thể quay về cửa chơn như? Nương niệm Phật mà chuyển hướng tâm và tâm niệm và sự lưu chuyển của các loại tâm niệm sanh diệt, từ “nghiệp hệ khổ tướng”, tiếp tục đến “khởi nghiệp tướng” (tạo tác trong nội tâm), “kế danh tự tướng, chấp thủ tướng, tương tục tướng”.
Y vào ngã chấp, mà chấp trước tướng danh ngôn tên gọi, ngược lại, thấy rõ vô thường, vô ngã tịnh niệm mới có thể nối tiếp nhau, chuyển đổi tương tục tướng. Nhưng tương tục tướng lại hoàn diệt quán sát tiếp tục, tại sao lại có tương tục tướng? Vì có sự phân biệt.
Trong “Đại Thừa Khởi Tín Luận” gọi là “trí tướng”, dựa vào cảnh giới mà tâm khởi phân biệt, yêu thương và chán ghét[1]. Do đó, “Vãng Sanh Luận” nói đến công đức ý nghiệp của Phật A Di Đà, như tứ đại: Đất, nước, lửa, gió, vốn thanh tịnh bình đẳng, không có sự phân biệt.
Hôm qua đã nói, tùy thuận theo địa đại thân thể dễ hôn trầm, sa vào khổ đau, giải đãi, đối với thiện pháp thì biếng nhác, không có tinh thần, như vậy là bị ảnh hưởng bị ràng buộc bởi địa đại, và tiến vào sự lưu chuyển của cửa sanh tử.
Ngược lại, phải chuyển đổi công đức của địa đại, đất có khả năng chịu đựng vạn vật, đảm đương tất cả chúng sanh bình đẳng thanh tịnh, cho đến bị dẫm lên. Không những vậy còn sản sanh ra vô số đồ ăn thức uống, kho báu nuôi dưỡng chúng sanh, đó là công đức của địa đại. Như Bồ-tát Địa Tạng, từ đất hàm chứa vô lượng vô biên vật báu, không những chịu trách nhiệm
[1] “Đại Thừa Khởi Tín Luận”, Đại Chánh tạng tập 32, trang 577, a.
cứu khổ nạn cho cõi trời người chúng sanh mà còn đến chúng sanh ở địa ngục.
Tới thủy đại, nếu thuận theo đặt tính xấu của thủy đại, thì sẽ chìm trong sự lưu chuyển của sanh tử. Kinh điển thường ví dụ sự tham ái giống như nước (thủy), nước tham ái sẽ khiến chúng sanh chìm ngập trong biển sanh tử, thuận theo nước tham ái, sanh tử lưu chuyển.
Ngược lại, quý vị nên niệm Phật giống như công đức thanh tịnh bình đẳng của nước, thấm nhuần vạn vật như mưa pháp, từ cỏ nhỏ cây to đều thấm ướt. Và khi niệm Phật phải chuyển nghiệp thân thành công đức như nước vậy.
Lúc lâm chung cũng trải qua quá trình tứ đại phân giải, chẳng qua hàng ngày chúng ta rất ít quan sát và luyện tập tới mà thôi.
Người Ấn Độ nhận định tứ hướng đông tây nam bắc không giống người Trung Quốc, họ chủ yếu hướng về phương đông, tiếng Phạn “phía trước”, là chỉ hướng đông, bên phải là hướng nam, bên trái là bắc, phía sau
là hướng tây. Hướng về phương đông tức nhìn phía trước, trong quá trình quan sát của đời người, có khi chỉ nhìn thấy mặt sống, chỉ theo đuổi cách nào để được sống còn, như vậy sẽ có nhận thức sai là: Vĩnh viễn sẽ sống, vĩnh viễn có ngày mai, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ chết. Người Ấn Độ nói: Đời người chuyện gì là không thể nghĩ bàn nhất? Đó là mỗi người đều phải chết nhưng ai cũng giả vờ mình không bao giờ chết cả.
Từ nhỏ tới lớn, sự giáo dục của gia đình, trường học, xã hội đều dạy làm thế nào để sống, học tập cách mưu sinh kiếm sống, nhưng chưa từng suy nghĩ mình sẽ đối diện với cái chết như thế nào.
Đời người không chỉ có sống, mà còn có chết. Vậy phải học tập nhìn về phía sau, cũng là nhìn về hướng tây, đối diện với cái chết.
“Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật” ghi chép một câu chuyện bi kịch nhân luân. Vai chính là hoàng hậu Vi-đề-hi, khi thái tử A-xà-thế bị Đề-bà-đạt-đa xúi giục, đầu độc giết chết phụ vương.
Hoàng hậu Vi-đề-hi muốn cứu vua Tần-bà-sa-la, nhưng bà không ngờ ngay cả mình mà thái tử A-xà-thế cũng muốn sát hại. Vì là tình thân cốt nhục bị phản bội nên hoàng hậu Vi-đề-hi đau khổ sống không bằng chết, bèn thỉnh Thế Tôn vì bà giảng dạy về nơi không có ưu sầu khổ não, từ đó bà nguyện vãng sanh về cõi cực lạc.
Thế Tôn từ bi vì bà thị hiện về quốc độ thanh tịnh diệu lạc của mười phương chư Phật, hoàng hậu hi vọng Thế Tôn dạy cách tư duy tu tập để đạt được mục đích vãng sanh về thế giới cực lạc. Nên khi ấy đức Phật dạy bà hãy hướng về phương tây, và quan sát nơi mặt trời lặng.
Quán mặt trời lặng là một suy nghĩ ngược lại với một số người, đa số người thường chỉ biết sống mà thôi, không bao giờ nghĩ sẽ có một ngày phải đối diện với cái chết, đối diện với tây phương.
Đại sư Thiện Đạo trong “Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật” chú giải khi quán mặt trời lặng, là dùng đến phương pháp quán sát “phân giải của tứ đại”. Ngài dạy,
khi quán sát mặt trời lặng, ngồi hướng phương tây, quán tưởng tứ đại phân giải địa, thủy, hỏa, và phong phân tán tứ phương, chỉ còn lại không đại, và cùng với mười phương hư không hòa hợp lại một cho đến tất cả đều là không. Lại nghĩ thân này là ngũ đại giai không, chỉ có thức đại là tồn tại như gương tròn trong ngoài chiếu sáng, vốn thanh tịnh. Khi lâm chung tâm thức không bị tứ đại ràng buộc, nên dễ an định, lắng tịnh, an trú, nhất tâm bất loạn.
Lúc lâm chung tứ đại phân tán, đối với người chưa có chuẩn bị trước là một chuyện thật khủng khiếp làm sao. Vì suốt đời anh ta chưa bao giờ bị lạc lõng như vậy. Mất tiền tài cho đến những vật ngoài thân thì không không ngại gì cả vì núi xanh còn đó sợ gì không có củi đun. Nhưng núi xanh không còn nữa, như thân này mất đi , thật khó chấp nhận, vì xưa nay chúng ta chưa từng suy nghĩ nghiêm túc sẽ có một ngày phải đối diện như vậy.
Đối với người tu hành mà nói, ngược lại lúc lâm
chung tứ đại phân giải là một chuyện rất tốt, và là một cơ hội thâm sâu uyên áo của đời tu, dễ lĩnh hội lý vô thường, vô ngã, và là lần cuối cùng trong đời cũng là lần bố thí lớn nhất.
Chuyển sự trói buộc “phân biệt” thành giải thoát “vô phân biệt”. Từ sanh tử lưu chuyển đến niết bàn hoàn diệt, từ tương tục tướng đến phân biệt tướng, sẽ chuyển thành vô phân biệt tướng. Lúc lâm thời cũng tùy thuận theo quá trình phân giải của địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại, địa đại phân giải là làm cho thân thể càng lúc càng nặng nề, giống như bị ngọn núi lớn đè lên, nếu quý vị thuận theo nghiệp hệ khổ tướng địa đại thì sẽ tiếp tục hôn trầm. Còn nếu chuyển thân thể tùy thuận tướng công đức của đại địa như chịu đựng, che chở, gánh nặng tất cả chúng sanh, cho tất cả đi trên. Niết bàn hoàn diệt là loại công đức này.
Hoặc có thể quay về đại địa, lấy địa (bộ phận cứng
của thân thể), cho trở về với địa đại, cùng địa đại hòa lẫn vào nhau, thân thể của chúng ta cùng công đức địa đại là một thể, đồng một pháp thân. Khi lâm chung địa đại phân giải không là điều chướng ngại khủng bố, không trói buộc, ngược lại là mấu chốt của giải thoát.
Thủy đại phân giải cũng như vậy, lúc lâm chung nước trong thân thể như nước tiểu, mồ hôi, nước mắt v.v... không làm chủ được, vì vậy thuận theo nghiệp hệ khổ tướng của nước, nên có cảm giác đau khổ. Nhưng ngược lại, thuận theo thanh tịnh bình đẳng của thủy đại, thân thể và tất cả thủy đại hòa nhập vào nhau, đó là một phương pháp giải thoát.
Khi niệm Phật, tùy thuận theo tướng thanh tịnh bình đẳng của tứ đại, lấy danh hiệu Phật mà niệm giống như đại địa kiên cố, ổn định, gánh vác chuyên chở tất cả chúng sanh. Niệm Phật giống thủy đại, thanh tịnh bình đẳng thấm nhuần tất cả sinh mạng. Nước đóng vai trò quan trọng của sự sống, từ nước lĩnh hội càng niệm càng có cảm thọ. Vì vậy khi niệm Phật, công đức danh
hiệu phải từ đây mở rộng.
Hiện tại dần biết được nước là trong sạch, là sản phẩm dễ hấp thụ nhất. Những thứ như: Nước ngọt, nước trái cây, cafe, rượu v.v... uống vào rất ngon miệng, nhưng nếu uống nhiều sẽ hại đến sức khỏe. Chỉ duy nhất nước, mỗi ngày chúng ta đều cần nó, là nhu yếu phẩm vĩnh viễn của con người. Vì vậy bây giờ theo phương thức giữ gìn sức khỏe, bắt đầu đề xướng nên uống nhiều nước thuần khiết, không thêm vào bất cứ sự pha chế như trà, cafe, v.v...
Danh hiệu Phật cũng như vậy, chúng ta niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật” từ ngày đầu tiên tới nay không có cảm thấy một tí gì cả, nó bình thường và đơn điệu. Làm thế nào từ đó niệm ra cảm thọ, niệm như nước vậy? Niệm như thế nào giống như nước trong thân thể chiếm 70% không?
Tới hỏa đại. Hỏa đại như tâm sân hận chúng sanh trong sự lưu chuyển của sanh tử. Thuận theo hỏa đại là thuận theo tâm sân hận, sẽ khiến người cảm thấy phiền
não, nóng nảy, bất an. Hỏa đại có nhiệt độ thay đổi, khi lạnh khi nóng. Lúc lâm chung hỏa đại cũng biến hóa, thân thể lúc lạnh lúc nóng, có khi từ tứ chi bắt đầu lạnh, rồi lạnh tới tim gan, cũng có khi ngược lại.
Một số người khi thấy hỏa đại thay đổi, cho rằng năng lượng sinh mạng đang dần dần biến mất, vì vậy có cảm giác lo sợ. Nhưng ngược lại, công đức của hỏa đại cũng là nguồn năng lượng sống của tất cả vạn vật, trái đất nhờ năng lượng của mặt trời mới làm cho vạn vật tăng trưởng. Tất cả thực vật cây cối đều lấy năng lượng biến thành thức ăn hàng ngày. Vì vậy hỏa đại là bình đẳng không có tâm phân biệt, đó là những điểm chúng ta cần nhận thức. Không có hỏa chắc chắn cũng sẽ không có sự trưởng thành của vạn vật.
Từ năng lượng của mặt trời đến mọi hình thái của hỏa, đều là nguồn sống của tất cả vạn vật. Khi niệm Phật, đại chúng có thể có loại năng lượng này không? Có một số người niệm Phật, niệm đến độ một tí năng lượng cũng không có, nghe tiếng niệm Phật như có khí
mà không có lực, tự mình không có cảm thọ đến năng lượng của Phật pháp, năng lượng sinh mạng, năng lượng Bồ-tát đạo.
Khi lâm chung có vô số phương tiện niệm Phật, như trước đã nói, trên phương diện thiền định đối với đất, nước, gió và lửa, nói đến địa biến, địa nhất thiết xứ, nước biến, nước nhất thiết xứ, tất cả những thứ này và pháp môn niệm Phật thông nhau, và có thể hỗ tương vận dụng.
Kế tới phong đại, biến hóa của phong đại là tương đương với tán loạn trong năm triền cái (tham, sân, hôn trầm thùy miên, trạo cử hối quá và nghi). Giải thích nó và phương pháp niệm Phật ngày mai sẽ tiếp tục giảng dạy vấn đề này.
Phân giải và chuyển đổi.
Khi điểm tâm sáng.
Lúc sáng khi giảng có nói đến, trong thiền định, tứ đại phân giải lúc lâm chung. Khi dùng trai, quán sát đồ
ăn cũng có tứ đại phân giải, mới có thể chuyển qua thân tâm.
Đã là “tứ đại” từ trong chữ “đại” có thể nào quán sát được tính bình đẳng, tính thanh tịnh, tính phổ biến hay không?
Thực vật sẽ phân giải, thâm tâm cũng sẽ phân giải, từ đó có thể quán sát được vô thường, vô ngã.
Ngoài ra, chuyển biến trong tứ đại, từ tứ đại có phiền não nghiệp hệ khổ, chuyển thành tứ đại khinh an. “Ba tâm vi tế sáu tâm thô” tức là từ “tương tục tướng” quán sát hoàn diệt, đoạn trừ “phân biệt tướng”.
Khi dùng trai, có thể hiểu rõ mối quan hệ của bản thân và tất cả chúng sanh, giữa mình và thực vật đều là vô phân biệt tướng. Và với tất cả chúng sanh cũng vô phân biệt tướng, tất cả có thể từ nơi đây quán sát.
Như vậy khi hồi hướng mới biết, tính phổ biến của sự hồi hướng là “hồi tiểu hướng đại”, “hồi sự hướng lý” và hồi hướng cho tất cả chúng sanh.