NGÀY THỨ BẢY: Tâm đại bi là nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng tâm Bồ-đề.
Hôm nay là ngày thứ bảy của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2007, cũng là ngày cuối cùng của khóa tu.
Ở Tây Liên tịnh uyển sắp xếp chương trình thời khóa của Phật thất là kết hợp với truyền thống tổ chức niệm Phật thất trong đạo tràng niệm Phật, từ từ tăng lượng thời gian dần, hôm nay lên đến nửa đêm.
Mấy ngày này giảng về pháp môn niệm danh hiệu Phật A Di Đà đưa đến tâm tín nguyện, xây dựng tâm Bồ-đề.
Ngoài ra còn đặc biệt nhấn mạnh, trong lúc cùng tu niệm Phật, trong khi đi đứng, nằm ngồi hoặc là về phòng nghỉ ngơi, luôn quán chiếu những động tác điều chỉnh cho toàn thân phù hợp nhất, để tiếp nhận đến nguyện lực của Phật A Di Đà, sau đó phát khởi tâm Bồ-đề.
Ngày đầu tiên nhắc đến, lực quán chiếu liên tục để
giữ gìn toàn thân chỉnh tề trang nghiêm, tiếp đến quán chiếu khi lạy Phật, bái xá và ngồi thiền. Điều này là phương tiện rất quan trọng khiến cho mình, và người khác khi thấy nghe có thể phát tâm Bồ-đề.
Kế đến là ngữ nghiệp, pháp môn niệm Phật chủ yếu là dựa vào âm thanh ngôn ngữ, quý vị cùng niệm Phật, có rất nhiều ví dụ để diễn đạt như đoàn hợp xướng, cùng nhau đẩy xe lên đồi và chèo thuyền.
Sự sắp xếp toàn bộ nghi thức niệm Phật là muốn mọi người thể hội đến “tâm không phân biệt”. Ngày hôm qua đem “pháp vô vi” để nói rõ như thế nào phân biệt “nên làm” và “không nên làm”, tùy thuận các loại nhân duyên làm phương tiện chính xác. Có một số người cho rằng thiền định là bên ngoài không động. Kỳ thật, điểm đặc biệt của thiền định là “không phân biệt’; Từ sơ thiền đến tứ thiền, từ cảm thọ thì trước tiên xa lìa “ưu khổ” đạt được “hỷ lạc”, cuối cùng xả bỏ “hỷ lạc”; Từ giác quán lại xem, trước phải “có giác, có quán”, xa lìa dục vọng, sau khi lìa vọng, từ từ đạt đến “không
giác, không quán”, cuối cùng “không phân biệt”.
Từ thiền định đến huệ bát nhã học cũng nói như vậy. Từ từ xả bỏ phân biệt ngã chấp đạt đến vô ngã. Trong giáo pháp đại thừa muốn tu tập vô ngã, rất dễ dàng là phối hợp trong đoàn thể. Khi tiếng niệm Phật, tán kệ Phật, danh hiệu Phật sáu chữ, bốn chữ lúc nhanh lúc chậm có cảm giác không phải tiếng của mình, hình như là âm thanh của cả đại chúng.
Đây cũng là nguyên lý “tự lợi lợi tha” của pháp môn đại thừa, trên bề mặt, hình như chỉ có mình đang niệm, nhưng kỳ thật là mọi người cùng niệm. Cảnh giới “niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm” cũng được thể hội từ đây. Pháp môn Tịnh độ xưng danh hiệu Phật từ Nam Bắc triều bắt đầu lưu hành, cho đến hôm nay, thiện xảo phương tiện của “xưng danh” là nguyên nhân chủ yếu khiến cho pháp môn Tịnh độ có thể tiếp tục hoằng dương.
Từ Nam Bắc triều đến đến Tùy Đường, có những vị Đại sư Tịnh độ tông khai sáng pháp môn niệm Phật
Tịnh độ, có những vị tổ sư khi dẫn dắt đại chúng niệm Phật, âm thanh vang đến cả núi rừng. Trong truyện ký của Tổ sư có nhắc đến truyền thuyết: Đạo tràng niệm Phật xa ở ngoài kinh thành, cách mấy trăm dặm, mấy ngàn dặm, song trong hoàng cung đều nghe tới. Có lẽ không phải diễn tả âm thanh của họ rất lớn mà muốn biểu đạt sức ảnh hưởng của phong trào niệm Phật.
Đời nhà Đường đại sư Thiện Đạo mỗi một tiếng niệm Phật, trong miệng xuất ra một đạo hào quang. Vì vậy đạo tràng của Đại sư Thiện Đạo được gọi là “chùa Quang Minh”. Trong đức hiệu Ngài được tán tụng cũng có từ “quang minh”. Những xưng hô này là tán thán sự niệm Phật thành tựu của Ngài, trừ âm thanh ra còn có thể khiến cho người khác cảm đến sự biến chiếu của ánh quang minh.
Tịnh độ tông ở Nhật Bản tổ sư tu niệm Phật Tam-muội cũng có cảm ứng tương tự như vậy, được biểu hiện trên tượng; Khi tạo hình niệm Phật trong miệng có hình tượng Phật.
Vì vậy khi quý vị xưng danh hiệu Phật, nỗ lực từ định học và tuệ học để hướng về “vô phân biệt”. Định học tiêu trừ tình dục, huệ học tiêu diệt ngã chấp, thành tựu chúng sanh, đây là yếu tố quan trọng của pháp môn niệm Phật để thành tựu định huệ và trang nghiêm Phật độ, hi vọng quý vị chú trọng điều này.
Kế đến trong kinh thường nhắc đến phát tâm Bồ-đề, bốn điều kiện trưởng dưỡng tâm Bồ-đề. Đối với chủng tử tín giải tâm của pháp đại thừa, trí tuệ bát nhã vô tướng vô trụ, thai tạng của thiền định, còn có dòng sữa của tâm đại bi. Tâm Bồ-đề có thể duy trì lâu dài không thối chuyển cần phải có những yếu tố này.
Đối với tín giải lực, thắng giải lực của pháp đại thừa, có thể giống Phổ Hiền thập đại nguyện vương, hoặc giống “Kinh Pháp Hoa” thường nói tín tâm của Thường Bất Khinh Bồ-tát đối với chúng sanh. Thường Bất Khinh Bồ-tát đối với tất cả chúng sanh đều có thể lý giải như vầy: “Tôi không dám khinh quý Ngài, vì quý Ngài tương lai sẽ thành Phật”, lấy tín giải tâm này đối
diện với mình và tất cả chúng sanh. Lấy tín giải tâm như vậy làm chủng tử, lại lấy vô tướng vô trụ thể hội bát nhã tánh không làm thân mẫu sanh dưỡng, sau đó lấy an lạc của Tam-muội thiền định làm thai tạng, an dưỡng thánh thai.
Niệm Phật Tam-muội cũng là một năng lượng, từ trong niệm Phật sản sanh pháp hỷ, sản sanh hỷ lạc, xa lìa ưu khổ, tu niệm Phật Tam-muội như vậy, từ sự hỷ lạc trong khi niệm Phật, khiến cho bầu thai tâm Bồ-đề, rất ổn định trong thai mẹ. Nếu không rất dễ bị xẩy thai, thậm chí không mang thai, không có biện pháp nào nằm trong tử cung. Sau khi tâm Bồ-đề sanh trưởng, việc quan trọng hơn là dùng tâm đại bi lại trưởng dưỡng nó. Trừ việc lấy bát nhã làm sanh mẫu ra, còn cần phải lấy tâm đại bi làm sữa mẹ.
Tâm từ bi là một trong những thiên tánh của chúng sanh, mọi người thường dễ dàng từ bi đối với mình, tiến thêm bước cũng rất dễ dàng từ bi đối với thân hữu. Ví dụ, cha mẹ từ ái đối với con cái rất tự nhiên, đây là một
loại thiên tính. Nhưng đối với người không tương quan từ bi thì không dễ dàng, đối với oan gia, người oán thù khởi tâm từ bi thì càng khó khăn hơn.
Đây là then chốt quan trọng của tất cả việc tu hành Phật pháp. Điểm này hành giả không vượt qua được mà nói đến Tịnh Độ thì đó chỉ là thái quá.
Quý vị xem những gì tường thuật về Tịnh Độ trong kinh Phật, chúng sanh đều có điểm đặc biệt thanh tịnh bình đẳng này. Bốn mươi tám lời nguyện của Phật A Di Đà cũng có nhắc đến, hóa độ chúng sanh trong chín phẩm như thế nào, từ thượng thượng phẩm cho đến hạ hạ phẩm. Hôm qua cũng đặc biệt nói đến chúng sanh ở hạ hạ phẩm, mọi người bình thường không có cảm giác gì nhưng khi nghĩ đến chúng sanh ở hạ hạ phẩm, gặp người tạo tác năm nghịch mười ác, họ làm tổn hại mình hoặc thân hữu thì sẽ có phản ứng như thế nào?
Đài Loan có một vài vụ án, thân hữu của mình bị tổn thương, hoặc bị bắt trói, tống tiền, người bị hại rất tự nhiên là nhất định có tâm báo thù.
Nhân đây, đối với tử hình, xã hội Đài Loan đại đa số vẫn rất khó tiếp nhận những phương pháp khác thay thế nó. Mọi người vẫn cho rằng cần phải tử hình mới có thể ngăn chặn tội phạm giết người.
Ngày hôm qua nhắc đến trong “Độc Giả Văn Trích” tháng 2 năm 2007 đã ghi một câu chuyện thật phát sanh ở Canada. Một gia đình nọ, chồng là luật sư, có một cặp con gái song sinh đang học mẫu giáo.
Cuối năm 1997, người hàng xóm của họ đi du lịch, đã nhờ luật sư này coi dùm họ trong nhà có một đứa thanh niên khoảng mười mấy tuổi. Tối hôm đó, người chồng đi qua nhà hàng xóm coi ngó một chút, cậu thanh niên này thừa cơ hội khi cha mẹ đi vắng đã mở vũ hội, rủ rê rất nhiều người đến tham gia, thanh niên uống rượu mạnh, hút thuốc phiện, dùng thuốc lắc v.v...
Người chồng thấy vậy nói với những thanh niên này mau giải tán trở về nhà đừng có uống nữa, bất ngờ những người không mãn ý, bị bốn người bao vây lại đánh ngã xuống đất, lại còn bị một trong đám đó dùng
chân đá, phần đầu bị thương bốn năm chỗ và chết ngay hiện trường.
Quý vị nghĩ xem, nếu như là quý vị thì sẽ nghĩ như thế nào? Thật là sét đánh giữa trời xanh! Giống như bây giờ sắp tết rồi, cả gia đình vốn có thể đoàn tụ vui vẻ, có tâm tốt muốn giúp hàng xóm, không ngờ lại gặp tai vạ bay đến.
Nếu như bạn là người vợ đó, gia đình vì đây mà tan nát, lại còn phải nuôi hai con. Cái gọi là từ bi tâm, lúc đó rốt cuộc là ở chỗ nào? Tuy nhiên là có nghe, có học Phật pháp, nhưng lúc này thật có thể phát khởi được không?
Điều đáng quý là thế gian này có rất nhiều người vẫn có thể làm được. Khi phát sanh việc ngoài ý muốn như vậy, người vợ đó (dưới đây gọi tắt là cô A) biết rõ thù hận vĩnh viễn không giải quyết được vấn đề, chỉ khiến cho sự đau khổ càng lún càng sâu, mà còn không có biện pháp tiêu giải sự oán hận của mình đối với hung thủ, càng
không thể giúp đỡ hung thủ hối cải hướng thiện.
Lúc đó, những cậu thanh niên này bị phát hiện đã giết người, toàn bộ trốn chạy. Cảnh sát bắt không được kẻ tình nghi đặc biệt, tuy bắt được mấy người nhưng không có chứng cứ gì chính xác chứng minh là ai giết người. Ngày hôm đó họ đã uống rượu, dùng thuốc lắc, mọi người đều mơ mơ hồ hồ, không thể đem sự việc nói rõ ràng, vì vậy phạm nhân chính chưa xác định được.
Thông thường đối với những kết quả như vậy, trong tâm mọi người có thể càng thêm oán hận. Hận hung thủ, hận cảnh sát bắt không được hung thủ, và hận xã hội, hận nền trị an không tốt v.v...
Nhưng cô A ngoài việc xoay chuyển cuộc sống sinh hoạt gia đình của mình ra, còn căn dặn cảnh sát nếu như bắt được hung thủ rồi, cô hy vọng có thể cùng với hung thủ nói chuyện. Nhưng cảnh sát trả lời, trong quá trình vây bắt hung thủ, theo quy định của bộ tư pháp không thể tùy tiện làm như vậy. Vì căn cứ vào kinh nghiệm, khi gia quyến của người bị hại gặp mặt
hung thủ, tinh thần vô cùng kích động, hiện trường rất khó kiểm soát.
Song cảnh sát trả lời cô ấy rằng: “Cô có thể ghi hình những gì muốn nói, đợi khi bắt được hung thủ sẽ mở cho hắn xem.”
Cô A sau khi trở về, đem những gì muốn nói ghi lại, cô nói với hung thủ: “Sau khi việc đó xảy ra cô đã làm những gì, gia đình đã phát sanh khó khăn như thế nào, đối diện với cảnh nghèo túng ra sao. Cô hi vọng hung thủ nếu như tự đầu thú. Cô hứa trên tòa án sẽ ủng hộ, sau này cũng sẽ giúp đỡ hung thủ.”
Từ năm 1997 đến 2001, trải qua thời gian bốn năm, có người đã phát hiện một kẻ rất khả nghi, sau khi thông báo cảnh sát hắn liền bị bắt.
Hắn là một trong những thanh niên trong vũ hội năm đó, cảnh sát mở đoạn video đó cho hắn xem, sau khi xem xong hắn rất cảm động, rồi xin cảnh sát cho hắn ở trước mặt cô A nhận tội.
Cô A nghĩ: “Vấn đề xảy ra không phải ở nơi đứa
trẻ này thôi, mà là cả một xã hội. Đối với cả xã hội thì mình làm cách nào để giúp đỡ?”
Cô đem sự việc của chồng khi còn sống và cả quá trình sự việc này viết thành bài văn diễn thuyết. Đầu tiên diễn giảng từ những trường cô đã từng học qua, sau đó đủ điều kiện thì đi các trường tiểu học trung học khác.
Có rất nhiều thanh thiếu niên đã có kinh nghiệm, tranh thủ khi cha mẹ không có ở nhà, uống rượu, hút thuốc. Cô A hi vọng lớp trẻ nên biết hậu quả hành động đó như thế nào.
Cô cho rằng phải làm từ cội gốc, vì lớp trẻ này tương lai là chủ nhân của xã hội. Hơn thế nữa, khi cô gặp hung thủ đã nói cho hắn biết sự việc của mình đang làm. Không lâu hung thủ cũng tự mình viết thư hối hận, xin lỗi xã hội quần chúng và người bị hại, đồng thời cũng nói với cô A, hi vọng đem cả quá trình phạm tội viết ra để cho cô làm tài liệu diễn giảng. Sau đó vị hung
thủ này cũng đáp ứng sẽ xuất hiện trong hội diễn giảng của cô, ngay hiện trường lấy bản thân làm lời giảng dạy.
Vì vậy, cuối cùng hai người cùng xuất hiện nơi hội trường diễn giảng. Lúc đó có người hỏi: “Hai người là bạn à?”. Cô A đáp “vâng, chúng tôi là bạn”.
Trải qua năm năm kỳ hạn ngồi tù, cô A vẫn ở trong hội nghị giảm tội ủng hộ vị thanh niên này, biểu hiện ý nguyện hòa giải cho cậu ta cơ hội làm lại cuộc đời.
Do đó, báo thù không thể giải quyết vấn đề. Ví dụ: Oán thù dân tộc ở khu vực Trung Đông, vì thường lấy thù báo thù, khiến cho vấn đề thù hận càng ngày càng khó hóa giải.
Không cùng dân tộc, không cùng giáo phái, đều có thể tồn tại thù hận. Mà tâm từ bi không phải chỉ ứng dụng trong tu hành Phật giáo mà thôi, nó thật sự là có thể giải quyết vấn đề thù hận của chúng sanh, hóa tàn bạo nước mắt trở thành hòa bình hạnh phúc, thay đổi cõi Ta-bà trở thành nơi Tịnh Độ.
Hi vọng đại chúng khi niệm Phật, nên niệm ra loại quyết tâm và cảm giác này.
A Di Đà Phật.

Nhà xuất bản Phật đà giáo dục
Năm xuất bản 2012