NGÀY THỨ TƯ: Thuận giải thoát phần và bốn loại niệm Phật.
Hôm nay là ngày thứ tư của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2006.
Hôm qua giảng đến phước đức thiện căn, bao hàm ba loại thiện căn: Thuận phước phần, thuận giải thoát phần và thuận quyết trạch phần, đó là then chốt để từ phàm phu chuyển thành Thánh nhân, chuyển biến thân tâm, từ sự tu hành của giới học đến định học và huệ học, từ thân tâm phiền não chuyển đổi thành thân tâm giải thoát.
Chuyển phàm thành Thánh: Giống như đồ sành chuyển thành đồ bằng vàng.
“Thiện căn thuận giải thoát phần” tuy không nhất định đạt đến thiền định thâm sâu, nhưng có đầy đủ tín tâm, nguyện tâm, ý lạc tâm, mạnh mẽ như khi nạp thọ giới thể vậy, ý chí của nội tâm rất kiên cố, sự kiên định này không chỉ là trên sự nhận thức, xa lìa cõi Ta-bà,
mong hướng về đạo giải thoát, mà là ở trên phương diện cảm thọ, tinh thần cũng có thể sanh khởi tâm hoan hỷ, hoan hỷ tới mức độ lông tóc đều dựng đứng. Cũng vậy, không chỉ là sự nhận biết quyết định, mà ở nơi phương diện cảm thọ của thân tâm cũng có sự cảm động rất mạnh mẽ.
Khi xưng niệm danh hiệu Phật, nội tâm có sự nhận biết, đối với công đức của Phật, có sự xác nhận đối với sắc thân, báo thân, pháp thân của Phật, đối với sự thành tựu của Phật ở cõi Tịnh độ, đối với đại nguyện của Phật có tín tâm, mà mức độ của tín tâm này có thể trên bề mặt sinh lý cũng dẫn đến sự thay đổi, do sự nhận thức đó, lại thêm sự thay đổi của tình cảm, chính là mấu chốt chuyển phàm thành Thánh.
Trong kinh Phật lại có một ví dụ, giống như sự khác biệt giữa đồ bằng vàng và đồ bằng sành, dùng bình nước làm bằng vàng đương nhiên khác xa khi dùng bình nước làm bằng sành. Bình nước thời cổ đại, bằng vàng là rất cao quý, bình thường là dùng đất nung
thành đồ sành. Dùng cái này để ví dụ, thân tâm phiền não của chúng sanh phàm phu giống như đồ sành. Chúng sanh có thiện căn phần thuận giải thoát, tức giống như bình nước làm bằng vàng vậy.
Có một người bán hàng rong, gánh đồ bằng sành và bằng vàng lên chợ bán, không cẩn thận bị té, đồ sành đã bị bể, đồ bằng vàng cũng bị tổn hại. Mọi người thấy vậy cho rằng đồ bằng vàng bị tổn hại thì rất đáng tiếc, vì đồ bằng vàng quý giá hơn đồ sành, nên nó bị bể cũng không sao. Nhưng người hàng rong cho rằng đồ sành bị bể thì đáng tiếc hơn, chứ không phải đồ bằng vàng. Người bàn quan cảm thấy rất buồn, song người bán hàng trả lời rằng: Đồ bằng vàng tuy bị tổn hại nhưng dễ dàng sửa chữa, vẫn có thể bán lấy tiền, nhưng đồ bằng sành đã bị bể thì không có cách nào khôi phục, vì vậy đáng tiếc hơn.
Chúng ta mượn ví dụ này để hiểu rõ sự chuyển biến thân tâm của thiện căn “thuận giải thoát phần”,
tánh chất của nó cũng giống như từ đồ sành (thân tâm phàm phu) chuyển biến thành đồ bằng vàng (thân tâm của Thánh nhân).
Do đó khi niệm Phật, ít nhất trong nội tâm phải có ý lạc, là tín nguyện tâm có sự chuyển biến. Đây là mấu chốt chuyển biến của thân tâm không thể thối chuyển. Tuy nhiên vẫn chưa đạt đến sự bất thối chuyển do năng lượng của trí tuệ sản sanh từ Sơ quả trở lên, nhưng bất thối chuyển của tín nguyện tâm cũng là then chốt quan trọng. Mặt khác, có khi sẽ quên mất chánh niệm, nhưng cũng rất dễ dàng phục hồi, có thể bảo trì đi trên con đường tu hành.
Lần trước có giảng đến Giới học, vì trì giới thanh tịnh nên không có hối hận, không hối hận thì sanh hoan hỷ, hoan hỷ khiến cho thân tâm khinh an, thân tâm khinh an mới giúp cho tâm chuyên nhất một cảnh, tâm có thể ổn định. Và mức độ định tâm ổn định có bốn cấp độ khác nhau nên phân thành bốn loại thiền.
Trong quá trình tu thiền từ sơ thiền, nhị thiền, tam
thiền đến tứ thiền, một phương diện ở lực giác quán tinh nhuệ, bền vững nên nhìn rõ ràng những lỗi lầm của những dục vọng trong cõi dục giới, phương diện khác là lực cảm thọ có thể xa lìa vì dục vọng sản sanh sự lo khổ, do ly dục mà sanh hỷ lạc.
Lại từ “ly sanh hỷ lạc” nâng cao dần lên “định sanh hỷ lạc” của nhị thiền, sau đó cả hỷ cũng xả “ly hỷ diệu lạc” của tam thiền. Tiến một bước đến tứ thiền, cả lạc cũng phải xả, xả niệm thanh tịnh, lúc này có thể nói là thân tâm ở trạng thái nhu nhuyến nhất, giống như vàng ròng vậy.
Vì vậy, Phật thường dùng ví dụ luyện vàng để nói rõ quá trình này như thợ luyện vàng trong “Kinh Rửa Bụi”. Thợ luyện vàng đem cát đá ở mỏ vàng rồi tôi luyện trừ đi tạp chất lấy vàng ròng, và chế ra các đồ trang sức như trâm, vòng, xuyến v.v... Thân tâm của chúng sanh cũng giống như mỏ vàng vậy, tuy đầy phiền não, nghiệp giống như sạn sỏi và bụi bặm, nhưng nó bao hàm cả mỏ vàng, cũng có khả năng thành Phật đáng
quý, trải qua học tập rèn luyện, có thể thành các bậc mô phạm trong các ngành nghề. Bất cứ chúng sanh nào cũng có khả năng này, vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Do đó, chúng ta đối với bất cứ chúng sanh phàm phu nào (cả bản thân mình), nên thường giữ tâm tôn kính, không thể đem chút lòng khinh mạn.
Bởi vì, “tuy không phải ai cũng có thể thành Phật, Bồ-tát vĩ đại ..., song Phật, Bồ-tát vĩ đại cũng có thể xuất thân từ bất cứ nơi nào. Tương lai Phật, Bồ-tát trong chánh điện của Phật giáo, xuất thân nơi thấp kém, cũng có thể khiến cho mọi người khó mà tượng tưởng được...”
Nhưng làm sao kiến lập tín nguyện này? Mới bắt đầu là lấy đá, cát rửa sạch sẽ, tiếp là dùng lửa tôi luyện thành vàng ròng, quá trình này là quá trình từ trì giới đến tu tập thiền định.
Vì vậy, niệm Phật từ xưng niệm danh hiệu Phật, chấp trì danh hiệu đến nhất tâm bất loạn, tâm nhất cảnh tánh, cần phải có lực giác sát, lực giác quan và phối hợp
với phương diện cảm thọ hoan hỷ, hỷ lạc, nhớ nghĩ chán ghét dục lạc của thế giới ta bà, đưa đến vui thích ly dục ở cõi cực lạc. Thêm vào đó là sự khẳng định và thể nghiệm, nhất tâm bất loạn, lúc này mới càng thuần tịnh hơn, nếu không sẽ tràn đầy những tạp chất.
Khi quý vị niệm Phật, thường vì phiền não tập khí của quá khứ mà sanh vọng niệm, giống như vàng tạp chất thì không dễ dàng làm ra vật hữu dụng. Vì vậy, thân tâm có phiền não, nghiệp, khổ sẽ có đủ các chướng ngại và không dễ dàng thành tựu mình, thành tựu chúng sanh. Có khi không chỉ rất khó thành tựu, thậm chí sức phá hoại, lực tổn thương rất lớn, những hành động đã làm, rất dễ dàng tổn thương mình và người khác.
Từ thân tâm có đầy đủ tâm hoan hỷ, khoái lạc, tiến một bước tôi luyện đến thân tâm an lạc thuần túy, lại từ thân tâm an lạc luyện đến thân tâm xả, nhất tâm bất loạn lúc này sẽ thuần tịnh hơn.
Tiến một bước đem “hỷ lạc”, “lạc”, “xả” nâng cao đến và tương ưng với tâm Bồ-đề “xả thân vì người”, “hi
sinh cống hiến”, mặc dù bánh xe sắt nóng xoay chuyển ở trên đầu, tâm bảo hộ, cứu độ chúng sanh không vì những sự đau khổ này mà thối chuyển. Đây là trọng điểm tu tập thiền định của Phật giáo Đại thừa.
Ngoài ra, khiến tâm an trụ một nơi, an trụ nơi đối tượng đang tu tập, hoặc là nơi niệm danh hiệu Phật phải cần từ xưng danh đến ý nghĩa công đức, lại từ danh hiệu và ý nghĩa đều có thể ăn khớp nhau. Cũng là từ chỉ đến quán, an chỉ nơi danh hiệu, mà có thể quán sát ý nghĩa công đức đạt đến chỉ quán song vận, an chỉ nơi danh hiệu, quan sát ý nghĩa, đều có thể vận chuyển đồng thời bình đẳng.
Có khi an chỉ nơi danh hiệu, thì lại không dễ dàng thâm nhập vào ý nghĩa công đức; Khi muốn thâm nhập vào ý nghĩa công đức, lại có cảm giác khó thể an chỉ nơi danh hiệu, danh hiệu và ý nghĩa không dễ dàng dung hợp với nhau. Mà khi tâm niệm bình thường không phải là Phật hiệu, cũng dễ dàng quên mất ý nghĩa của Phật.
Niệm Phật: Có hay không niệm được Phật tâm và Phật hiệu?
Do vì sự phối hợp của danh hiệu và ý nghĩa có bốn khả năng. Có niệm ra ý nghĩa công đức, thì giống như tâm có Phật vậy, có Phật tâm. Niệm ra danh hiệu Phật tức là có Phật hiệu. Nhưng có khi niệm ra cùng với nội tâm không có thể tương ưng, vì vậy mới có bốn loại khả năng.
Khi đại chúng đang niệm Phật, thì phải chú ý đến trạng thái nào?
1. Có Phật hiệu, không có Phật tâm. Miệng xưng niệm danh hiệu Phật, nhưng không có Phật tâm. Ý nghĩa công đức Phật không nắm chắc, chỉ là ngôn ngữ văn tự mà thôi, tuy cứ niệm Phật, Phật tâm không có ý nghĩa và công đức, trong tâm vẫn còn phiền não và tương ưng với phiền não, không phải cùng với Phật tâm tương ưng. Rất đáng tiếc, không có cách nào phát huy năng lượng của niệm Phật.
2. Không có Phật hiệu, có Phật tâm. Có khi không phải là xưng danh hiệu Phật, như lúc đang làm những công việc khác không nhất định có thể niệm Phật nhưng là bảo trì Phật tâm, tương ưng với tâm Bồ-đề và ý nghĩa công đức Phật, như vậy cũng có thể lợi ích chúng sanh.
3. Không có Phật hiệu, không có Phật tâm.
4. Tình huống có Phật hiệu, có Phật tâm thì dễ hiểu, không nói rõ nữa.
Những tình huống này tự mình phải biết nên chỉ quán song vận như thế nào, đặc biệt khi chuyên tu niệm Phật Tam-muội, có thể khiến cho chỉ và quán, danh hiệu và ý nghĩa tương ưng với nhau, càng niệm càng thâm sâu, mặc dù không có niệm danh hiệu Phật nhưng Phật tâm cứ tiếp tục duy trì.
Khi ở trai đường hay lúc trong phòng nghỉ ngơi, không nhất định có thể niệm Phật ra tiếng nhưng ý nghĩa tương ưng với Phật, tiếp tục duy trì tâm lìa ác hướng thiện. Phương pháp tu hành này không phải chỉ
ở nơi Phật thất, Phật nhất mà có thể vận dụng ở niệm Phật đường. Năng lượng tu hành như vậy càng ngày càng dễ dàng tập trung. Khi nói chuyện, mặc dù không phải là niệm Phật nhưng nói giống như niệm Phật vậy, có ý nghĩa và công đức của Phật bao hàm ở trong. Khi làm việc hay tiếp xúc với người, tuy không phải là lạy Phật nhưng thân thể và hành vi như lạy Phật vậy, đối với tất cả chúng sanh đều có tâm cung kính tôn trọng.
Do đó tuy không phải là ở trong niệm Phật đường, không có thể niệm Phật, lạy Phật, bằng những hành vi biểu hiện, lời nói ra giống như niệm Phật, lạy Phật, có ý niệm Phật, có Phật ở trong tâm. Tu hành lúc này thì dễ dàng kết thành một khối, gia công dụng hạnh tiến vào đến bốn thứ quyết trạch phần (noãn, đảnh, nhẫn và thế đệ nhất), bốn quyết trạch phần này là mấu chốt quan trọng dẫn đến đạt được trí tuệ.
Công phu có thể kết thành nhất như, năng lực của thân tâm có thể tập trung, bắt đầu có hỏa (lửa), noãn (sức nóng) của trí tuệ, đây là giai đoạn thứ nhất của tứ
gia hạnh. Lửa khai trí tuệ bắt đầu lên cao, như lấy khoan gỗ mồi lửa, khoan tập trung ở một điểm không có gián đoạn, liên tục thì sẽ có lửa bén lên.
Cũng vậy, đối với ngã chấp không ngừng đi sâu vô nó, tiêu diệt nó, không kể ở niệm Phật đường, hay đang niệm Phật, chúng ta luôn duy trì đối trị với những điều bình thường không muốn đối diện nhất, làm ngã chấp bị yếu đi. Như vậy, ngã chấp bắt đầu bị lửa trí tuệ thiêu đốt, đây là sự bắt đầu của bốn thứ quyết trạch phần.