Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Niệm Phật tam muội nhập môn

Niệm Phật tam muội nhập môn

Tác giả: Thích Tuệ Mẫn trước tác Việt dịch Thích Vạn Lợi, Thích nữ Lệ Trúc, Thích nữ Trung Định, Thích nữ Phước Ngọc. Năm xuất bản: -. Số trang: 288.

Chương 9: Ngày Thứ Tư: Nhất Tâm Bất Loạn Và Ba Tâm Vi Tế Sáu Tâm Thô (Trang 59 - 73)

NGÀY THỨ TƯ: Nhất tâm bất loạn và ba tâm vi tế sáu tâm thô
Thời khóa thứ 2, ngày thứ tư của kỳ Phật thất thứ hai năm 2005 (ngày 30 tháng 1 năm 2005 tức ngày 21 tháng 12 Âm lịch).
Ngày 30 tháng 1 năm 2005 (21 tháng 12 Âm lịch) Thời khóa thứ hai 
Hôm nay ngày thứ tư của kỳ Phật thất thứ 2 năm 2005.
Hôm qua đã kể câu chuyện, vào đời nhà Đường, pháp sư Nghĩa Tịnh ghi chép trong “Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện” về pháp sư Thường Mẫn đang trên đường đi chiêm bái Ấn Độ. Lúc gặp bão tố, đối diện với hoảng loạn nguy hiểm giữa sanh và tử, Ngài đã nhường cơ hội sống còn cho người khác.
Khi ở chánh điện niệm Phật, hình ảnh này sống động như ở trước mặt. Mỗi tiếng niệm Phật được phát ra, có tâm buông xả hay không? Có lực Bồ-đề tâm hy
sinh cống hiến để thành tựu người khác hay không? Có khiến chúng sanh cảm động đến phát khởi Bồ-đề tâm hạnh hay không? Pháp sư Thường Mẫn sau khi quyết định ra đi, đệ tử cũng nguyện hy sinh theo Ngài. Thầy trò khi đối diện với cái chết họ đã nhất tâm niệm Phật, không những khiến cho bản thân được an định, tâm không tán loạn, mà còn làm cho những người xung quanh được bình tĩnh, và hơn thế nữa là có thể cùng niệm Phật. Trên thực tế người có hạnh nguyện Bồ-tát như thế này rất nhiều, người không theo tín ngưỡng Phật giáo cũng có những biểu hiện như vậy.
Thuyền Titanic và sự quyết định của cặp tình nhân Strauss:
Trận hải nạn gây chấn động toàn cầu: Vụ chìm thuyền Titanic, mấy năm trước đã quay thành phim, chủ yếu ca ngợi sức mạnh vĩ đại của tình yêu, nam diễn viên chính đã hy sinh mình, nhường lại tấm gỗ cho người yêu và bản thân chìm dần trong biển cả. Giả dụ đây chỉ là câu chuyện hư cấu của phim ảnh nhưng sự 
kiện trên thuyền Titanic là có thật, và cũng có nhiều tình huống xảy ra giống như vậy. Trong đó có câu chuyện được nhiều người ca ngợi đó là: Vợ chồng Strauss ngồi ở khoang tàu hạng nhất, chồng Isidor là con trai trưởng của dòng họ Strauss, người sáng lập ra công ty bách hóa dây chuyền lớn nhất ở Mỹ, gia đình họ cũng sáng lập ra công ty Macy's, ngày nay rất nổi tiếng, và ông cũng từng đảm nhiệm nghị viên quốc hội.
Khi thuyền Titanic sắp chìm, bởi do thuyền cứu hộ số lượng không đủ, lúc bấy giờ ưu tiên theo nguyên tắc cứu vớt phụ nữ và trẻ em. Vì Strauss là người đức cao vọng trọng và tuổi tác cũng lớn nên thuyền trưởng chủ động nhường cơ hội thoát nạn cho ông, nhưng ông đã khước từ và cho rằng nên nhường cho người khác trên thuyền. Người vợ thấy chồng quyết định như vậy nên cùng ở lại trên thuyền, nhường cơ hội sống sót cho người giúp việc nhà.
Người không tiếp xúc với Phật pháp đã có thể hy sinh cống hiến như vậy rồi, còn người ăn chay niệm 
Phật nếu không làm tới quyết tâm “không sợ sống chết” thì đừng nói tới khả năng thực hành tâm Bồ-đề.
Nhân duyên tham gia Phật thất thật khó gặp, có nhiều vị thiện hữu cùng nhau niệm Phật, nếu ở trong chỗ đầy đủ thiện duyên như vậy mà không quyết tâm niệm thì lại giống với thế gian lừa dối lẫn nhau, tranh giành lẫn nhau, cho đến khi thần chết gõ cửa, lúc đó muốn hy sinh bản thân, đem đến lợi ích mọi người thật khó làm sao.
Hay nhìn trên góc độ khác, ở ngay chánh điện niệm Phật, mỗi thời khóa đều hỗ trợ nhau tăng thượng duyên, trong điều kiện thuận lợi như vậy mà đại chúng còn khó niệm tới nhất tâm bất loạn, đạt đến tịnh niệm, thử hỏi đến lúc lâm chung, bức bách cấp thiết như vậy thì quý vị sẽ ra sao?
 Do vậy khi niệm Phật, nhất định phải quan sát những cảnh tượng giống như thật vậy, mới có thể biết được mục đích của bản thân và phương pháp có chính xác hay không, khi đó mới biết mức độ công đức niệm 
Phật là bao nhiêu? Vì quyết định trọng đại về sanh tử như vậy, chuyển đổi nghiệp lực không dễ như quý vị nghĩ đâu. 
Đại chúng khi niệm Phật, từ thân niệm trú đến thọ niệm trú, từ thân thể, dáng dấp, hành vi, động tác đến âm thanh của thân thể, cảm thọ của thân thể, chuyển đổi từ những điểm cụ thể dễ nhận thấy, mới có thể tiến bước nữa đến tâm niệm trú và quán sát sự thay đổi của tâm niệm.
Sự thay đổi của tâm niệm rất vi tế và nhạy bén, nên đối với tâm niệm vi tế và thay đổi trong từng sát na, Kinh Luận có rất nhiều phân tích và giải thích về vấn đề này.
Vô minh bất giác sinh ra ba tâm vi tế, duyên theo cảnh giới sinh trưởng sáu tâm thô.
 Trong Hán truyền Phật giáo, “Đại Thừa Khởi Tín Luận” nói: “Bất giác vô minh sanh ba tâm vi tế, duyên theo cảnh giới sanh trưởng sáu tâm thô”. Tâm niệm lưu 
chuyển của phàm phu, có chín sự thay đổi, gọi là “ba tâm vi tế sáu tâm thô”, trong đó sáu tâm thô thì biểu lộ rõ hơn ba tâm vi tế. (“Ba tâm vi tế” là vô minh nghiệp tướng, năng kiến tướng và cảnh giới tướng, “sáu tâm thô” là trí tướng, tương tục tướng, chấp thủ tướng, nghiệp hệ khổ tướng, khởi nghiệp tướng và kế danh tự tướng. Cụ thể xin xem trong bài giảng ngày thứ năm).
“Luận Đại Thừa Khởi Tín” và tâm tín nguyện trong pháp môn niệm Phật có những điểm tương quan với nhau. “Đại Thừa Khởi Tín” nói: Làm thế nào để chúng sanh phát khởi tín tâm về “tâm chúng sanh”. Làm thế nào tin tưởng pháp môn đại thừa dạy về: Tất cả chúng sanh có thể chuyển phàm thành thánh, tất cả chúng sanh đều có niềm tin có thể thành Phật. 
Do đó “Luận Đại Thừa Khởi Tín” mới mở đầu liền khẳng định: Pháp Đại thừa đó là tâm chúng sanh. Từ tâm chúng sanh, một tâm này mở bày hai môn: Môn chơn như và môn sanh diệt. Môn sanh diệt là sanh diệt lưu chuyển, môn chơn như là môn hoàn diệt, môn niết 
bàn, tất cả đều cùng một tâm này mà diễn hóa ra. Quán sát đến sanh tử lưu chuyển và niết bàn hoàn diệt, đều từ trong một tâm một niệm, mới có thể đưa đến tâm tín nguyện chơn chánh.[1] Nghiệp hệ khổ tướng, khởi nghiệp tướng và kế danh tự tướng “Luận Đại Thừa Khởi Tín” giải thích về ba tâm vi tế sáu tâm thô, bắt đầu từ loại thô trọng “nghiệp hệ khổ tướng”. Quý vị có khả năng quán sát nỗi khổ của thân tâm ngũ uẩn này đã từng trong quá khứ khởi hoặc, tạo nghiệp và thọ khổ, các vấn đề phải đối diện như sanh, lão, bệnh, tử, yêu thương phải xa lìa, người ghét lại ở chung, cầu mong không được, thân tâm bất hòa. Và không phải chỉ cá nhân mới thế, tất cả chúng sanh cũng đều như vậy. Chúng sanh có “nghiệp hệ khổ tướng” phổ biến chung, còn gọi “biển khổ vô biên”, chúng ta có thể quán sát được điều này không?
 Nếu như không thể quán sát được nghiệp hệ khổ

[1] “Luận Đại Thừa Khởi Tín” Đại Chánh tập 32, trang 575 c.

tướng của thân tâm ngũ uẩn này, thì khó mà có tâm đồng tình và tâm từ bi; Ngược lại xuất hiện phiền não tham sân si, tạo ác nghiệp, thọ khổ báo, luân hồi không dứt. Giả sử phát giác được điều đó, chính là quan sát được “nghiệp hệ khổ tướng”.
 Từ tướng nghiệp hệ khổ có thể quán sát “khởi nghiệp tướng”, tạo nghiệp và thọ khổ như thế nào? Một số người khi thọ khổ không biết tự mình phản tỉnh, kiểm điểm, thường thì hay oán trời trách người, cho rằng tất cả là lỗi người khác. Vì vậy khó có thể quán sát đến khởi nghiệp tướng, mà thật ra tự mình làm tự mình chịu. Không có thói quen tự mình kiểm điểm thì khó mà chuyển đổi được thói quen (nghiệp) cho nên cứ khởi nghiệp và thọ khổ. 
Hành giả niệm Phật bước thứ nhất là phải chuyển tâm niệm, hình thành thói quen phản tỉnh, suy xét những tập tính của mình. Đại sư Ấn Quang từng dạy: “Xem tất cả chúng sanh đều là Bồ-tát, mình tôi là phàm phu”. Nếu hàng ngày cứ luôn cho mình là đúng, tự cao 
tự đại, không coi người khác ra gì, người như vậy rất dễ đọa lạc, rơi vào khởi nghiệp tướng và nghiệp hệ khổ tướng. Bước kế tiếp là quán sát tại sao lại chấp trước? Chấp trước nặng nhất là “kế danh tự tướng” bị ràng buộc lừa dối bởi những hư ảo của danh tự, ngôn ngữ, âm thanh.
Đại chúng nghĩ xem thường ngày người khác nói tới mình, không cần nói đến sự thật, chỉ cần kêu đến tên thì đã ngóng tai lên chú ý: “Người ta đang nói điều tốt hay điều xấu của mình?” Nếu người khác khen ngợi thì rất vui mừng nhưng bị người ta phê bình thì khó chịu, sân hận. Sự thật tất cả chỉ là lời nói mà thôi, nó không có bản tánh chơn thật, nếu chấp vào danh tự và ngôn ngữ thì sẽ bị danh tự và ngôn ngữ lừa dối mà thôi.
Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, nhìn thấy tướng trạng bề ngoài của sự vật, theo thói quen sẽ liền cho nó một nhãn hiệu: “Đẹp - xấu, nam - nữ, người thân - kẻ thù...”. Anh ta hôm qua đã đối xử với tôi như thế nào thì hôm nay tôi sẽ đối xử như thế ấy, người đáng ghét suốt 

đời là người đáng ghét, không cần biết mặt khác của họ như thế nào. Không bao giờ kéo những nhãn hiệu này xuống để nhìn rõ diện mạo của sự thật, nên dễ bị những nhãn hiệu này lừa dối. Tự mình dán cho mình một nhãn hiệu và cũng dán cho người khác những nhãn hiệu, tất cả cũng chỉ là “kế danh tự tướng”. Vì vậy khi niệm Phật, điều cần thiết đầu tiên là chuyển đổi điểm này. Dựa vào danh hiệu Phật mà chuyển đổi và phá tan những nhãn hiệu trong quá khứ.

Quá khứ lấy “tự ngã” làm trung tâm đi dán nhãn hiệu, bây giờ chuyển dùng danh hiệu “vô ngã” và “A Di Đà Phật”, dùng danh hiệu ánh sáng vô lượng, thọ mạng vô lượng chuyển tất cả những thói quen dán nhãn hiệu. Phá xong “kế danh tự tướng” mới có thể quán sát được bản thân đã chấp trước những gì? Tướng chấp trước là gì? Đối với việc quán sát tâm niệm, ít nhất phải phát hiện ra những nhận thức thô mới có thể gọi là bắt đầu chuyển đổi tâm niệm. Còn lại những phần khác ngày mai giảng tiếp. 

Phụ lục: Ba tâm vi tế sáu tâm thô.
Lại nữa, nương vào bất giác nên sanh ra ba tướng, cùng với bất giác này tương ưng không rời.
Thế nào là ba? Một là vô minh nghiệp tướng: Do nương vào bất giác nên tâm động mà gọi là nghiệp. Giác thì không động, động tức có khổ vì quả không rời nhân.
Hai là năng kiến tướng, do nương với động nên có năng kiến, không động thì không có kiến.
Ba là cảnh giới tướng, do nương vào năng kiến nên cảnh giới vọng hiện, rời kiến tức không có cảnh giới.
Do duyên với cảnh giới nên lại sanh ra sáu tướng. Thế nào là sáu? Một là trí tướng, nương vào cảnh giới, tâm khởi ra phân biệt, yêu thích và không yêu thích.
Hai là tương tục tướng, nương vào trí tướng nên sanh cảm giác khổ vui, giác tâm khởi niệm, tương ưng không gián đoạn.
Ba là chấp thủ tướng, nương với tương tục, duyên
niệm với cảnh giới, duy trì khổ vui, tâm khởi ra chấp trước.
Bốn là kế danh tự tướng, nương vào vọng chấp mà phân biệt ra tướng danh ngôn giả dối.
Năm là khởi nghiệp tướng, nương vào danh tự, tầm danh chấp trước, tạo các thứ nghiệp.
Sáu là nghiệp hệ khổ tướng, nương với nghiệp mà thọ quả báo, không được tự tại.
Nên biết vô minh có khả năng sanh được tất cả pháp nhiễm, vì tất cả pháp nhiễm đều là tướng bất giác.[1]
Sự trói buộc giữa đồ ăn và tên gọi.
Buổi sáng đã giảng về ba tâm vi tế sáu tâm thô trong “Luận Đại Thừa Khởi Tín”, từ thô trọng nhất như nghiệp hệ khổ tướng đến khởi nghiệp tướng, kế danh tự tướng. Khi ăn cơm, thói quen ẩm thực thường bị các loại chấp trước này điều khiển. Về phương diện ẩm

[1] “Đại Thừa Khởi Tín Luận”, Đại Chánh tập 32, trang 577, a7~21.

thực của chúng ta, không chỉ yêu cầu ăn no, mà còn đòi hỏi cao sang, vì việc này mà tạo rất nhiều ác nghiệp. Ngày ngày ăn uống chơi bời, thử hỏi những chi phí đó từ đâu mà ra? Có thể từ cướp bóc hoặc tham ô, dùng rất nhiều thủ đoạn không chính đáng để đạt được. Có người vì để thỏa mãn sự thèm muốn của mình nên rất khó từ bỏ thói quen sát sanh ăn thịt, bữa ăn không có cá thịt thì nuốt không vô. Hiện tại nhân loại đang bắt đầu suy nghĩ lại về vấn đề thói quen ẩm thực đã gây ra sự phá hoại rất lớn đối với môi trường, trái đất. Nuôi dưỡng đánh bắt đã phá hoại môi trường sinh thái. Cho đến đã ăn chay mà còn làm cá chay, gà chay, vịt chay, cái tên gọi và hình ảnh đó trong nội tâm vẫn chưa từ bỏ được. Từ các điều này có thể thấy được con người đối với tên gọi của đồ ăn đã có sự chấp trước sâu nặng.

 Ngoài ra, áo quần, nơi ở, đi lại cũng bị sự trói buộc của các loại nghiệp lực, những điều này khi niệm Phật nên phản tỉnh kiểm thảo lại. 

Lực quán chiếu trong sinh hoạt hằng ngày.
Khi ăn cơm trưa.
Trai đường cũng như niệm Phật đường, tự mình có quán sát và quán chiếu đến sự biểu hiện thân miệng ý tam nghiệp ra hay không? Ở niệm Phật đường đứng thẳng, kinh hành, ngồi thiền, chắp hay hoặc ở trai đường tư thế dùng cơm, tất cả có thể thấy được lực quán chiếu của nội tâm.
Đặc biệt trước mặt đối với phần cơm canh, trước tiên phải khởi tâm cúng dường. Tuy đó là phần của mình nhưng có tâm bố thí, nguyện cúng dường chư Phật, Bồ-tát, cúng dường tất cả những người cần hơn mình. Khi dùng, phải quán sát như vậy để xem có tâm cúng dường, tâm tàm quý hay không? 
Đối với bản thân biểu hiện ra tư thế, ngôn ngữ đều quán chiếu rõ ràng minh bạch. Như có người khi ăn cơm, khuỷu tay vô tri vô giác đã dựa trên bàn, người ngồi bên cạnh chỉ có cách dịch ra một xíu, vậy mà bản thân không quan sát tới điều đó, điều này cũng có nghĩa

là đã chiếm chỗ người khác. Có một số người dùng đũa ăn cơm chỉ người khác “anh như thế này thế kia v.v...”, có khi nói đến chỗ đắc ý, nên đã có những hành động, biểu hiện “bản thân có địa vị ý thức” cao hơn. Hoặc là khua chén đũa ra tiếng, tất cả những điều này đánh mất lực quán chiếu rồi.

Trong niệm Phật đường tự mình phải có lực quán chiếu. Dùng cơm xong về phòng nghỉ, lên xuống giường, vào nhà vệ sinh đóng mở cửa, chú ý đến những hành động không ảnh hưởng tới người khác. Tất cả những điều này là biểu hiện của sự niệm Phật, lực niệm Phật là một loại lực quán chiếu. Vì vậy muốn có tác dụng đại chúng hãy coi nơi trai đường, điện Phật, phòng thất, đều là lực quán chiếu, niệm lực và niệm Phật Tam-muội.  

/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »