NGÀY THỨ BẢY: Vô thường và tứ đại phân giải.
Hôm nay ngày Phật thất thứ bảy kỳ Phật thất thứ nhất năm 2006, cũng đến lúc viên mãn.
Trong bảy ngày mọi người đều tinh tấn niệm Phật. Khi mới bắt đầu khóa tu, có giảng qua pháp môn niệm Phật là một trong các pháp môn Đại thừa, vì vậy chúng ta phải phát tâm Bồ-đề, tu Bồ-tát đạo làm mục tiêu. Lấy trang nghiêm Tịnh Độ, trang nghiêm cõi Phật quốc, khiến cho thân tâm mình thanh tịnh, cùng với người hành Bồ-tát đạo thanh tịnh, hơn nữa khiến cho xã hội, quốc gia, toàn địa cầu có thể thanh tịnh trang nghiêm, an thân lập mạng, thành tựu chúng sanh.
Ngoài ra, muốn quốc độ thanh tịnh, chúng sanh muốn được thanh tịnh, thì tự mình cùng tất cả chúng sanh phải có yếu tố, phẩm chất thanh tịnh, vì hành vi như thế nào thì sẽ hình thành thế giới như thế đó, chúng sanh như thế nào thì sẽ thành tựu thế giới như thế đó.
Nên từ giới luật căn bản bắt đầu học tập, khiến cho tâm xưng niệm Phật danh kiên định giống như lúc thọ giới vậy.
Theo thứ lớp tu hành trong Phật pháp, học tập giới luật như tích lũy thiện căn phước đức, cũng là chuẩn bị “thuận phước phần”. Tích lũy phước báu phước đức, đảm bảo điều kiện sinh hoạt đầy đủ, như vậy mới có thời gian để tu hành.
Sau khi chuẩn bị thuận phước phần xong, cần có thuận giải thoát phần: Đối với nhận biết lìa ác hướng thiện, cho đến mức độ phản ứng của sinh lý, tính tình về sự thay đổi bên ngoài và nội tâm, hình thành ý nguyện rất mạnh (ý hướng).
“Ý nguyện” là “ý hướng” trong nội tâm của chúng ta. Pháp môn niệm Phật phải có đủ “tín nguyện”, diệt tận tham luyến đối với thế giới Ta-bà, khởi tâm chán ghét, mới có thể lìa dục đạt được an lạc, đây gọi là “thuận giải thoát phần”.
Tiếp theo phối hợp tiến triển của thiền định, ly dục
dẫn đến được hỷ lạc. Ly dục không phải tiêu cực mà khiến tu hành hướng về thiện pháp, việc làm thanh tịnh thân khẩu ý rất tích cực, khiến tam nghiệp thanh tịnh. Mức độ thanh tịnh càng ngày càng nâng cao, từ: “Ly sanh hỷ lạc” của sơ thiền đến “định sanh hỷ lạc” của nhị thiền, “ly hỷ diệu lạc” của tam thiền đến “xả niệm thanh tịnh” của tứ thiền.
Dùng định lực mẫn nhuệ ổn định khiến trí tuệ có đủ lực (noãn), có sức đốt cháy phiền não, soi thấy năm uẩn đều không. Ánh lửa trí tuệ của “noãn” đem cảnh giới của trí tuệ nâng cao đến “đảnh”, giống như đứng trên đỉnh núi, nhìn thấu tên gọi danh tự, vượt qua chướng ngại ngôn ngữ, biết rõ chấp trước đối với ngoại cảnh, những cái này đều là trí tuệ đột phá ngã chấp, ngã kiến.
Lực này hướng về đường ngã chấp mà đi, đối với vô thường, khổ, không, vô ngã pháp có thể nhận rõ, đạt đến “nhẫn”. Lúc này đối với thế giới, những gì đã biết, đã lấy, đã nhận thức, biết rằng do tâm thức hiện, thấy
được một phần chân thật nghĩa.
Tiếp theo “thế đệ nhất”, kể cả tâm thức năng tạo, tâm thức năng hiện cũng là như huyễn, lúc này gọi là “thế đệ nhất pháp”, ở trong thân tâm của phàm phu là cao nhất, vì sát-na tiếp theo sẽ chuyển thành thân tâm của Thánh giả. Sau đó mượn lực của giới, định, tuệ khiến cho mình không còn tạo ác nữa, đối với thiện pháp không còn thối chuyển, cho đến thà xả bỏ sinh mạng cũng không xả bỏ thiện pháp, không bị đọa lạc nơi ác pháp.
Các bậc “Thánh nhân” không phải ở nơi có hoàn cảnh an nhàn, thân tâm của họ cũng như thân tâm của chúng ta, cùng sống trong thế giới Ta-bà, cảm nhận thời tiết thay đổi nóng lạnh, cũng gặp chuyện làm khó dễ của con người, đủ các loại thử thách, nhưng thân tâm của họ không còn khởi phiền não, tạo ác nghiệp, không tạo thêm phiền não cho mình và cho người khác. Họ đã nhìn nhận được chân lý, thấu rõ chân lý vô thường, khổ và không, thoát khỏi nơi ba đường ác đạo.
Không chỉ thấy được chân lý mà còn tiến thêm bước nữa, đem những tập khí, chấp trước còn sót lại ở dục giới, sắc giới, vô sắc giới tiếp tục phá trừ, tu tập đến chỗ tham luyến còn dư lại của tính tình, tình cảm cũng phải dứt trừ, cuối cùng đạt đến quả vị A-la-hán vô học.
Vì vậy có thể chuyển đổi thành Đại viên cảnh trí. Trong tâm A-lại-da thức là thâm sâu nhất, kho tàng hàm chứa ý thức, đều có thể khiến nó thanh tịnh như mặt gương.
Khi tiếp xúc con người, sự vật và công việc trong mỗi giây mỗi phút, đều xem như lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Quá trình tu tập chuyển đổi thành Thánh nhân, trừ những gì vừa nói ở trên, từ sơ, nhị, tam, tứ quả ra, còn ở Bồ-tát đạo cũng gọi là sơ địa, nhị địa cho đến thập địa, tầng cấp, thứ lớp tu hành như vậy, chúng ta mỗi ngày không ngừng tu tập.
Mỗi khi đối diện với con người, sự vật và công việc đều có thể kiểm thảo phương hướng của chúng ta
là chính xác? Hoặc sai lầm? Một trong những danh xưng của giới luật, ý nghĩa của “ba-la-đề-mộc-xoa” (pratimok.sa) là “biệt biệt giải thoát” hoặc “tùy thuận giải thoát”. Ở đây nói rõ: Chúng ta đối diện con người, sự vật và công việc “cá biệt cá biệt” riêng, phải từ ngôn ngữ, hành vi “giải thoát” hết sai lầm, giữ gìn ngôn ngữ, hành vi, cho đến ý niệm chính xác nhất để đối xử. Ví dụ, có phải có thể từ ngôn ngữ, hành vi “giải thoát” sai lầm của sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ v.v... Bởi vì sát sanh, nếu nghiêm trọng có thể thương hại đến người, súc sanh. Trộm cắp cũng vậy, tuy nhiên có khi không có hành vi trộm cắp, nhưng có ý niệm trộm cắp.
Vi tế hơn, chúng ta đối với thân tâm ngũ uẩn cũng có ý tưởng trộm. Vì sao vậy? Vì thân tâm ngũ ấm cấu tạo từ tứ đại trong tự nhiên, do các điều kiện ngoại duyên tổ hợp thành, không phải của chúng ta, nhưng khi chúng ta ở lâu rồi, thì muốn chiếm đoạt làm của mình, chiếm lấy cái thân tâm ngũ ấm này. Nhân vì có tâm trộm muốn chiếm đoạt nó, khi thân tâm ngũ ấm
sanh lão bệnh tử thay đổi, thì nảy sinh lo sợ, phiền não đối với sanh tử. Căn bản lo sợ đối với sanh tử chấp trước vẫn còn, vì vậy vẫn đầy phiền não. Không chỉ khi đối diện với cái chết, mà ngay cuộc sống bình thường hằng ngày gặp đến cảnh thuận hoặc nghịch cũng đã nổi lên phiền não dẫy đầy, một khi đối diện với trận chiến lớn nhất của sanh tử, thì càng khó vượt qua.
Nhìn bề ngoài, giới luật hình như rất dễ hành trì, nhưng nếu muốn hành trì triệt để, thật sự là không đơn giản. Nó cũng như liễu sanh tử, cần phải có tâm nguyện và thực tiễn sâu rộng về giới sát, đạo, dâm, vọng, thập thiện nghiệp, bỏ thập ác nghiệp, khi giữ rất triệt để, cùng với học tập thiền định, học tập trí tuệ đều tương quan với nhau.
Hôm nay là ngày thứ bảy của Phật thất, Phật thất sắp viên mãn rồi. Đại chúng đã có đủ bản lĩnh giải thoát sanh tử chưa? Không chỉ với việc giải thoát sanh tử mà còn phát tâm Bồ-đề. Giống như trong Kinh điển Đại thừa nói đến, khi đối diện với tất cả chúng sanh đều có
tâm niệm: Muốn độ chúng sanh đạt đến vô dư Niết bàn, khiến cho họ được an lạc hay không? Bởi vì khi đối diện với phiền não sanh tử của mình đã đủ khó khăn rồi, mà còn phải lấy giải thoát chúng sanh khởi phiền não làm ưu tiên, càng tăng thêm sự khó khăn hơn.
Mặc dù như vậy, nhưng nếu mỗi ngày, mỗi phút, mỗi giây đều tập trung điểm này, thì giống như giọt nước xuyên đá vậy, có thể xuyên qua ngã chấp và phiền não. Chỉ sợ mỗi năm chỉ có một khoảng thời gian tinh tấn, mà thân ở niệm Phật đường, nhưng tâm không ở phương diện niệm Phật Tam-muội thì không dễ mà thành tựu.
Nếu như mỗi ngày đều bảo trì chánh niệm chánh tri giống như Phật thất vậy, thì tuy không ở điện niệm Phật, nhưng mỗi giây mỗi phút đều có thể nắm vững yếu điểm, nguyên tắc tu hành, mỗi ngày đều xem thành là ngày cuối cùng. Nếu như hôm nay là ngày cuối cùng của sanh mạng, công phu tu hành của mình có chống cự lại được không?
Ngày cuối cùng này không phải là sự việc xa vời, mỗi người đều phải đối diện với nó. Cũng giống như mỗi ngày có mặt trời mọc, thì cũng có ngày mặt trời lặn vậy.
Quán sát vô thường tinh vi đến như vậy: Đối với con người, sự vật và công việc trong mỗi phút mỗi giây tiếp xúc đến, đều đem nó coi như là lần thứ nhất, và cũng là lần cuối cùng. Trong thời gian một giây, cả thế giới đại khái có 340.000 người mất đi, tương đương với dân số của một thành phố. Vì vậy đối diện với tử vong trước bốn mươi tám tiếng hay hai mươi bốn tiếng đồng hồ cuối cùng, có phải là đối với quá trình ngũ ấm đều không, tứ đại phân giải chuẩn bị tốt rồi không?
Tử vong là mất mát lớn nhất? Hay là bố thí lớn nhất của đời người?
Lúc lâm chung, tứ đại đất, nước, gió, lửa phân giải, có thể là phân giải nhanh, như vì tại nạn ngoài ý muốn mà tử vong; Cũng có thể là phân giải chậm hơn khi mang các bệnh tai biến, ung thư hoặc bệnh mãn tính
v.v.... Nhưng những kinh nghiệm trong quá trình đối diện với tử vong đều có nguyên tắc giống nhau. Nếu như công phu tích chứa giới, định, huệ không thể đạt đến tánh không, không thể hoàn toàn cùng với vô thường, vô ngã, tánh không dung hợp, vậy thì không quản là nhanh chậm, đều không thể khắc phục được nỗi sợ hãi tử vong.
Mỗi một thời niệm Phật phải niệm đến giống như tứ đại phân giải, ngũ ấm đều không, mỗi một niệm phối hợp với “chỉ” và “quán”, địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, không đại phân tán ra bốn hướng, trí tuệ niệm Phật, sức mạnh của định lực, giống như đem tứ đại tung ra bốn hướng, sẽ không bị sự trói buột của tứ đại.
Mỗi ngày sẽ có sự thay đổi của nóng lạnh, khi ngồi thiền chân sẽ bị tê, bị đau, đây đều là sự trói buộc của tứ đại, lạnh nóng của thời tiết, thân thể khỏe hay không khỏe, có các thứ lão, bệnh, thể lực có khi mạnh, có khi yếu, đây đều là sự trói buộc của tứ đại biến hóa, có cách
khắc phục nó sẽ không bị nó trói chặc, lúc này không đại sẽ xuất hiện giống như hư không vậy. “Không” của hư không không phải là “không tánh”, nhưng nếu có thể đem cái “ngã” thể hội phân tán nhỏ như hư không, đó cũng là loại tương tự. Khi không đại dung hợp, “thức”, tâm thức sẽ dễ dàng ổn định.
Phương pháp tu hành này là ở trong “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ” Đại sư Thiện Đạo khi dạy đến quán mặt trời lặn đã chỉ bày phương pháp quán thân thể tứ đại phân tán ra bốn hướng, dung nhập vào hư không, cuối cùng thức đại sẽ an trụ bất động.
Ví như mặt trời lặn vậy, mặt trời lặn thì giống như mặt kiếng to tròn, tâm cảnh giống như ánh sáng của cái kiếng, có thể chiếu rõ phiền não, nghiệp trong quá khứ của mình, nhìn rõ ràng và đối diện với phiền não, nghiệp của mình.
Quá trình lúc lâm chung cũng như vậy, thân thể có các thứ thay đổi. Người có công phu giới, định và tuệ, khi địa đại phân giải, họ sẽ thân tâm khinh an. Nếu như
phiền não, nghiệp nặng thì càng ngày càng nặng nề.
Vì vậy bình thường phải luyện tập, khi đối diện với các sự biến hóa của thân thể, biến hóa của hoàn cảnh ngoại giới, đều phải để nó hướng theo khinh an mà đi, cái này lúc lâm chung đối diện với tử vong, sanh tử giải thoát đạo có sự trợ giúp rất lớn. Khi lâm chung, thủy đại phân giải, thể dịch, nước tiểu, nước mắt v.v... thủy phân không giữ lại được; Khi hỏa đại phân giải, nhiệt độ cơ thể càng ngày càng lạnh, từ tứ chi lạnh tới tim; Cuối cùng là phong đại phân giải, hơi thở càng ngày càng yếu đi.
Đối với chúng sanh mà nói quá trình này là khủng hoảng nhất, vì từ trước tới giờ chưa có sự mất mát giống như tứ đại phân giải. Bình thường vứt bỏ tiền, vứt bỏ vật ở ngoài thân cảm giác không có gì, vì giữ được núi xanh thì không sợ không có củi đốt, vẫn còn sanh mạng, vẫn còn cái thân thể này. Khi lâm chung, “núi xanh” cuối cùng này cũng phải bỏ. Có khi luôn luôn cứ muốn chiếm đoạt
thân thể này, tiếc nuối không muốn trả cho tứ đại, nhưng tiếc nuối cũng không được. Đã là như vậy, thì coi nó như vật bố thí lớn nhất của đời này! Mà không phải coi nó là sự mất mát lớn nhất. Nói như vậy, quá trình sanh tử sẽ không biến thành sự sợ hãi lớn nhất, ngược lại biến thành lần cuối cùng, bài học thâm sâu nhất của cuộc đời này.
Hy vọng đại chúng nắm vững được nguyên tắc này, để đối diện với lần cuối cùng, ngày cuối cùng, thời khóa cuối cùng.