Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Niệm Phật tam muội nhập môn

Niệm Phật tam muội nhập môn

Tác giả: Thích Tuệ Mẫn trước tác Việt dịch Thích Vạn Lợi, Thích nữ Lệ Trúc, Thích nữ Trung Định, Thích nữ Phước Ngọc. Năm xuất bản: -. Số trang: 288.

Chương 6: Ngày Thứ Nhất: Thời Khóa Niệm Phật Và Mối Liên Quan Đến Năm Tiến Trình Niệm Phật Trong (Trang 15 - 29)

NGÀY THỨ NHẤT: Thời khóa niệm Phật và mối liên quan đến năm tiến trình niệm Phật trong "Vãng Sanh Luận".
 Thời khóa thứ 2, ngày đầu tiên của kỳ Phật thất thứ hai năm 2005 (ngày 27 tháng 01 năm 2005 tức ngày 18 tháng 12 Âm lịch).
 Thể theo truyền thống Phật giáo, Hội Tịnh Uyển vào mùa đông mỗi năm đều tổ chức tu Phật thất, trước tết hai kỳ, sau tết hai kỳ. Vì tạo nhân duyên tu tập cho Tăng đoàn nên vào mùa hè có kiết hạ an cư, còn mùa đông thì kiết đông an cư. Từ đó chốn Tòng lâm có câu “mùa đông ngồi thiền, mùa hạ nghe giảng”, mùa đông tổ chức Phật thất, thiền thất; Mùa hạ xếp đặt an cư giảng dạy Kinh điển, Giới luật.
Từ truyền thống tu tập của Phật giáo cho chúng ta thấy giống với quá trình tu hành của Đức Thích Ca Mâu Ni, khi Ngài mới xuất gia đã trải qua sáu năm khổ hạnh, 
từng học đạo với hai vị tiên nhơn, tu tập đạt được loại thiền định uyên thâm nhất của đương thời (vô tưởng định hoặc phi tưởng phi phi tưởng định). Nhưng sau đó Ngài đã nhận thấy phải dùng trí tuệ quán chiếu về vô thường, vô ngã đoạn dứt phiền não mới là con đường rốt ráo cứu cánh.
Cho nên Ngài đã từ bỏ lối tu khổ hạnh và phương pháp thiền định đơn thuần, chọn lấy con đường trung đạo, đem trí tuệ quán chiếu về vô thường, vô ngã, thể ngộ đạo lý thâm sâu của duyên khởi và niết-bàn (trạng thái không sanh không diệt, không cấu không tịnh, không tăng không giảm).
Cuối cùng, đức Phật ngồi dưới cội Bồ-đề lập thệ nguyện: “Nếu không chứng được đạo giải thoát, ta thề không rời chỗ này”. Và vào nửa đêm ngày mùng 8 tháng 12, Ngài đã phá trừ các chướng ngại, hàng phục ma quân phiền não trong tâm, chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Từ đó lấy ngày 8 tháng 12, kỷ niệm ngày thành đạo của Đức Phật, nên Tự viện
Tòng Lâm tổ chức các hoạt động tu tập Phật thất hay Thiền thất trong khoảng thời gian này. Ngoài việc học tập quá trình tu hành thành đạo của đức Thế Tôn, qua đó hi vọng tất cả chúng sanh đều có khả năng đạt được tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Cũng chính là đem khả năng thành Phật của mình và người khác cùng phát khởi thành hiện thực tự lợi, lợi tha, viên mãn lục độ vạn hạnh.
Giác (Bodhi) dịch âm là Bồ-đề, có nghĩa là giác ngộ, đức Phật là người đã giác ngộ (Buddha), nên khi niệm Phật, xưng danh hiệu Phật chính là thức tỉnh mọi người không quên giác ngộ, mượn việc niệm danh hiệu Phật để phát khởi tâm Bồ-đề. Vì vậy, trong bảy ngày chúng ta cùng tu niệm Phật tam-muội, hy vọng mọi người có sự quyết tâm: Phá trừ tất cả chấp trước vốn có của chính mình, giác ngộ sự chấp ngã có gốc rễ sâu dày, hàng phục các loại ma quân trong nội tâm và tất cả các loại phiền não khác.
Ngay ở ngày đầu tiên mỗi hành giả đều phải hạ 
quyết tâm đó. Hy vọng sau khi trải qua 7 ngày tu tập có thể chuyển hóa từ trong sanh tử luân hồi của lậu hoặc, nghiệp và khổ đạt được giải thoát, dứt hẳn vòng tuần hoàn của ác nghiệp, không còn sanh khởi lậu hoặc, tạo nghiệp thọ khổ nữa. Thế nên trong ngày đầu tiên rất mong mọi người có được ý nguyện và quyết tâm này, rõ được mục tiêu của niệm Phật Tam-muội là cần phát tâm Bồ-đề.
Phương pháp phát tâm Bồ-đề có rất nhiều, trong các Kinh điển Đại thừa đều giảng dạy: Có người thì tu tập từ Bát nhã ba la mật như trong “Kinh Bát nhã”; còn có người trước muốn thành tựu Phật quốc, với tâm tín nguyện “trang nghiêm Tịnh độ thành tựu chúng sanh” hạ thủ công phu tu tập, trong rất nhiều Kinh điển thuộc Tịnh độ dùng đến phương pháp này. Phật thất, thời khóa đầu tiên trì tụng “Kinh A Di Đà” là tường thuật lại việc Tỳ-kheo Pháp Tạng phát 48 nguyện, trải qua vô lượng kiếp thành tựu thế giới Tây phương Cực lạc, đem cõi Tịnh độ trang nghiêm để nhiếp thọ tín nguyện tâm 

của chúng sanh.

Cũng có người thì tu tập tâm đại bi, như “Phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ-tát” trong “Kinh Pháp Hoa”. Khi chúng sanh nào gặp các khổ nạn, chướng ngại trắc trở chỉ cần nhứt tâm xưng niệm Quán Thế Âm Bồ-tát, thì Ngài nghe tiếng liền đến cứu khổ. Đây là từ âm thanh để cảm ứng đạo giao. Bồ-tát Quan Âm cũng chính là vị Bồ-tát ở Tây phương Cực lạc, trợ giúp đức Phật A Di Đà giáo hóa chúng sanh.

Trong “Kinh Hoa nghiêm” dạy mười nguyện lớn của Bồ-tát Phổ Hiền, phát tâm Bồ-đề, triển khai thực hiện Bồ-tát hạnh. Mười nguyện lớn là:

1. Lễ kính chư Phật.

2. Xưng tán Như Lai.

3. Quảng tu cúng dường.

4. Sám hối nghiệp chướng.

5. Tùy hỷ công đức.

6. Thỉnh chuyển pháp luân.

7. Thỉnh Phật trụ thế.

8. Thường tùy Phật học.

9. Hằng thuận chúng sanh.
10. Phổ giai hồi hướng.
Trong “Vãng Sanh Luận” của Kinh luận thuộc về Tịnh độ cũng có đề cập đến các phương pháp tương tự, cũng chính là pháp môn với mục đích vãng sanh theo “năm tiến trình”: Lễ bái, tán thán, tác nguyện, quán chiếu và hồi hướng.
Kinh điển của Tịnh độ tông gồm ba bộ: “Kinh A Di Đà”, “Kinh Vô Lượng Thọ” và “Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật”, và một bộ luận: “Vãng Sanh Tịnh độ Luận” (Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Ðề Xá Nguyện Sanh Kệ) do Bồ-tát Thế Thân căn cứ vào “Kinh Vô Lượng Thọ” mà trước tác.
“Lễ bái”, “tán thán” với “bài kệ tán Phật” và sáu chữ hồng danh trong nghi thức niệm Phật.
“Lễ bái môn” là bước thứ nhất trong năm tiến trình của “Vãng Sanh Luận”, giống với nguyện thứ nhất "lễ kính chư Phật" trong mười nguyện lớn của Bồ-tát Phổ
Hiền, đều khiến cho giữa thân nghiệp, tâm Bồ-đề và hạnh Bồ-đề tương ưng với nhau.
Thứ hai “tán thán” cùng với “xưng tán Như Lai” đều do niệm danh hiệu Phật, nhờ danh hiệu Phật nhiếp thọ mà có được công đức giúp cho người niệm Phật thể hội được ý nghĩa và công đức của danh hiệu Phật. Cho nên, trong “Vãng Sanh Luận” dạy: “Sao gọi là tán thán? Nghĩa là đem lời khen ngợi. Niệm danh hiệu của đức Phật A Di Đà, hoặc khen ngợi trí tướng quang minh và ý nghĩa danh hiệu Phật, vì muốn tương ưng với việc tu hành giống như đức Phật”.
Vì thế trong kỳ Phật thất, mỗi thời khóa đều phối hợp với cách thức thứ tự giống như thế.
Nhưng vì không gian của nơi niệm Phật có hạn nên không xếp đặt được thời gian cho mọi người lễ lạy, song đối với các hành động của thân nghiệp như chắp tay, lúc bái, khi kinh hành, đi, đứng, nằm, ngồi... vẫn phải thực hiện đúng với nội dung trong phần “Lễ bái”. Lúc chắp tay cũng cung kính giống như lễ lạy vậy; Lúc 
đứng, khi ngồi cũng như thế. Cần giữ cho tâm luôn đoan chánh ngay thẳng; Đi đứng thong dong tự tại; Kinh hành chú tâm thành kính.
Mọi người không nên cho rằng niệm Phật chỉ cần tâm niệm mà thôi, kì thật thân thể cũng rất cần; thể theo cách thức niệm Phật, các cử chỉ đúng, oai nghi, cung kính sẽ giúp cho mình và người có thể cảm nhận sự tương ưng của “lễ bái” và tâm hành Bồ-đề. Cũng không nên nghĩ rằng các việc đó không phải là Tam-muội, rồi tưởng tượng Tam-muội là tất cả đều im lặng. Thật ra Tam-muội có nghĩa là đẳng trì, tương ưng với thiện pháp. Thiện pháp của hành giả tu pháp môn Tịnh độ là lấy danh hiệu Phật làm phương tiện, mượn danh hiệu Phật để nhiếp thọ tất cả sự giác ngộ, thiện pháp công đức của Như Lai.
Do đó thân nghiệp phối hợp với nghi thức hành trì, phối hợp với tiếng niệm Phật có thể đạt đến sự khinh an. Từ trong nội tâm, rồi niệm thành tiếng để cho chính mình và chúng sanh cảm nhận được công đức của “Tán
thán”. Cũng giống như lúc bắt đầu bằng bài “Kệ tán thán” của mỗi thời khóa, trong nghi thức niệm Phật, khen ngợi công đức Phật, khen ngợi thân tướng trang nghiêm và cõi nước vô cùng rộng lớn của đức Phật A Di Đà.
Câu “bạch hào uyển chuyển ngũ Tu-di, hám mục trừng thanh tứ đại hải” là niệm tưởng đến thân tướng của đức Phật, chính là pháp thân thanh tịnh, tự mình và mọi chúng sanh đều có pháp thân thanh tịnh bình đẳng, mà không phải là thân tâm ngũ ấm này.
Khi niệm Phật là lúc chúng ta chuyển đổi thân tâm ngũ ấm thành pháp thân thanh tịnh bình đẳng.
“Trong hào quang hóa hiện vô số ức Bồ-tát”, cảm nhận được vô số chúng sanh đang hộ trì cho chính mình, cũng giống như hóa thân Phật và hóa thân của Bồ-tát. Từ ấy phát ra bốn mươi tám đại nguyện của đức Phật Di Đà, tâm bao dung được tất cả chúng sanh từ phẩm cao nhất xuống đến phẩm thấp nhất.
Có được tâm từ bi và tâm nguyện lực này thì tiếng
niệm Phật chứa đựng ý nghĩa công đức xưng tán Phật.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn hành đạo Bồ-tát, cũng đã từng trải qua quá trình như thế. Ở một kiếp trước, trong lúc tu hành, Ngài vô cùng mừng rỡ khi gặp đức Phật Phất Sa, liền làm một bài kệ khen ngợi:
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật
Thập phương thế giới diệc vô tỷ
Thế gian sở hữu ngã tận kiến
Nhất thiết vô hữu như Phật giả.
Suốt trong bảy ngày bảy đêm, Ngài đứng đoan chánh khen ngợi công đức của Phật. Do nhân duyên này, trong lúc tu hành đạo Bồ-tát Ngài đã vượt qua nhiều kiếp mà đạt được sự giác ngộ.
Do đó, trong bảy ngày này ngoài thân nghiệp thực hành theo “lễ kính” thì khẩu nghiệp cũng duyên theo “tán thán”, để khẩu nghiệp cũng đạt được sự khinh an. Trong lúc niệm Phật, niệm liên tục không gián đoạn, giống như trong chương “Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông” dạy “thâu nhiếp tất cả sáu căn, tịnh niệm gìn 

giữ tương tục”. Bồ-tát Đại Thế Chí cũng là vị Bồ-tát ở thế giới Tây phương Cực lạc hỗ trợ đức Phật Di Đà giáo hóa chúng Bồ-tát, giáo hóa chúng sanh, khiến họ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) tiếp xúc với sáu trần, cho họ có khả năng thâu nhiếp mà không bị phiền nhiễu bởi ngoại cảnh thuận nghịch, để niệm thanh tịnh và niệm tâm giác ngộ được liên tục, không gián đoạn.

“Tác nguyện”, “quán chiếu” với khi niệm bốn chữ danh hiệu Phật và lúc ngồi thiền trong thời khóa niệm Phật.

Niệm danh hiệu Phật từ sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật chuyển thành bốn chữ A Di Đà Phật giống như “Tác nguyện” trong “Vãng Sanh Luận”. Vì quá trình niệm bốn chữ danh hiệu A Di Đà Phật dần dần nhanh lên, làm cho toàn thân tâm chuyên chú và cảm nhận biển đại nguyện của đức Phật A Di Đà, giống nước và sữa hòa tan vào nhau, như con nhớ mẹ mà phát tâm học tập đại nguyện của đức Phật A Di Đà và phát nguyện vững chắc cầu vãng sanh về thế giới của Phật.

Từ danh hiệu Phật sáu chữ, bốn chữ, tiếp đến ngồi thiền. Trong lúc này tuy không niệm ra tiếng nhưng trong tâm luôn nhớ đến ý nghĩa và công đức của Phật. Cũng giống như “quán chiếu”, quán chiếu thân tâm làm thế nào để tương ưng khế hợp với công đức của Phật, cõi Phật và các Bồ-tát trong biển lớn thanh tịnh.
Tác nguyện tương ưng với “chỉ”, quán chiếu tương ưng với “quán”.
Cuối cùng xướng kệ hồi hướng cũng giống như “hồi hướng”. Kệ hồi hướng ghi: “Nếu có ai thấy nghe” là phàm có ai thấy thân nghiệp lễ kính của chúng ta; Nghe âm thanh tụng niệm danh hiệu Phật của khẩu nghiệp, “đều phát tâm Bồ-đề”. Trong mười nguyện lớn của Bồ-tát Phổ Hiền cũng có hồi hướng môn đều hồi hướng rộng khắp.
Do vậy trong bảy ngày niệm Phật này, trước hết đi từ đơn giản dễ nhận biết mà nỗ lực thân nghiệp và khẩu nghiệp. Sau khi thân nghiệp và khẩu ngiệp đạt được như thế, ý nghiệp sẽ tương ưng theo. Mà trong lễ kính,
tán thán, quán chiếu, tác nguyện và hồi hướng môn, năm tiến trình này trong “Vãng Sanh Luận” phù hợp với thời khóa tu tập trong kỳ Phật thất, kết hợp với phương pháp tu hành “chỉ” và “quán” của Đại thừa. Hy vọng mọi người có thể chú ý đến những điểm quan trọng này.
Thọ trai có tương ưng với “lễ bái” không?
Lúc điểm tâm sáng.
Trong khóa tu Phật thất, ngoài việc dụng công tu tập ở chánh điện ra, trong nhà ăn cũng là một nơi rất thích hợp việc tu hành. Bởi vì mỗi ngày chúng ta đều cần ăn uống, cho nên trong quá trình này cần biết được làm sao để tương ưng với Phật pháp. Đây chính là điều rất quan trọng.
Trong chánh điện niệm Phật, đối tượng niệm là danh hiệu Phật, phải duy trì và giữ được chánh niệm, đồng thời cùng tương ưng với thiện pháp; Mà trong nhà ăn đối tượng là thức ăn. Khi thọ trai chúng ta có cần chú ý đến: Thân nghiệp có tương ưng với “lễ bái” không?

Tư thế của thân có ngay thẳng không? Hoặc nghĩ không phải ở chánh điện niệm Phật thì ngồi uốn người, cong lưng.

Thật ra trong nhà ăn, ghế ngồi cùng với chỗ lễ lạy trong chánh điện không khác nhau. Ngồi ăn với ngồi thiền đều giống nhau, thân thể phải chú ý tư thế ngồi như thế nào được nhẹ nhàng thoải mái, đoan chánh, để người khác thấy cũng có thể phát tâm Bồ-đề? Thiết nghĩ, quý vị tùy nơi, tùy lúc đều tương ưng với thiện pháp và các pháp giác ngộ, thân thể nếu như cong cong vẹo vẹo uốn tới uốn lui thì tự mình sẽ cảm thấy ý chí, sức lực sa sút, chán nản, mỏi mệt, dễ dàng thối lui.

Bên cạnh đó, các động tác cũng phải khế hợp “lễ bái”, không tùy tiện gây ảnh hưởng và tạo phiền phức đối với người khác. Động tác cũng cần phải nhẹ nhàng và khéo léo, không sơ ý tạo ra tiếng động, đó là cách biểu hiện sự kính trọng, quan tâm, lễ độ đối với người khác. Tất cả những điều này là nền tảng rất căn bản của hành giả tu pháp môn Tịnh độ.

Hôm nay nhắc nhở quý vị trong nhà ăn cần phải chú ý đến những điều này, còn khi niệm Phật cần biết về lễ bái, tôn trọng và cung kính.

/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »