NGÀY THỨ SÁU: Thuận quyết trạch phần
2. Đảnh, 3. Nhẫn, 4. Thế đệ nhất.
Hôm nay là ngày thứ sáu của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2006.
Ngày hôm qua đã giảng đến thuận quyết trạch phần. Tu hành theo thứ lớp từ giới, định và tuệ, thì thuận quyết trạch phần tương ưng với tuệ học, quan sát vô thường, khổ, không, vô ngã, khổ tập diệt đạo tứ đế, phá trừ ngã chấp, ngã kiến.
Vì vậy trong pháp tu niệm Phật Tam-muội, nương danh hiệu Phật xưng niệm để chuyển đổi ngã chấp có gốc rễ sâu dày từ vô thủy tới nay.
Hi vọng nương theo xưng niệm Phật danh chuyển đổi tập khí niệm ngã mà chuyển thành niệm vô ngã, tương ưng với ý nghĩa công đức vô lượng thọ, vô lượng quang hàm chứa trong Phật hiệu và tất cả chúng sanh, chư Phật pháp thân thanh tịnh bình đẳng.
Vì sao có thể nương âm thanh, ngôn ngữ, văn tự có
thể chuyển đổi thân tâm? Vì nhân loại lấy ngôn ngữ, văn tự, âm thanh làm phương tiện giao tiếp qua lại. Do đó thế giới giao tiếp của nhân loại có thể rất tinh mật phức tạp, đối với sự truyền thừa và sáng tạo cái mới, có năng lực rất lớn. Đây là chỗ khác biệt giữa loài người với súc sanh và những loại chúng sanh khác, cũng là cách thức để tích lũy trí tuệ của nhân loại.
Vì vậy chúng ta mượn ngôn ngữ văn tự có thể cùng người xưa và nay, trong ngoài giao tiếp lẫn nhau. Tuy năng lực của cá nhân rất nhỏ, nhưng kết hợp trí tuệ trong ngoài, xưa nay thì có được năng lực tích lũy lớn.
Từ ngôn ngữ văn tự, chúng ta có thể học tập trí tuệ qua lại rất nhanh. Nhưng ngược lại, năng lực phụ nảy sinh cũng rất lớn. Nhân loại vì ngôn ngữ, văn tự, danh tự mà phiền não sanh khởi, cũng do đây mà so với những chúng sanh khác bị nhiều hơn.
Do vậy trong các pháp môn tu, pháp môn xưng niệm Phật danh mượn âm thanh, ngôn ngữ, văn tự làm phương tiện tu tập, đây là đặc sắc của pháp môn niệm Phật.
Từ đó trong bảy ngày này quý vị có thể cảm thọ, nếu so sánh có người trong bảy ngày hoàn toàn niệm không ra tiếng, chỉ đem năng lượng thuần túy để tu hành và người niệm ra tiếng sẽ khác nhau.
Phương pháp niệm Phật không ra tiếng cũng không phải nói là không thể tu, vì tâm niệm vẫn là có đối tượng sở duyên thuần túy là nương nơi âm thanh của nội tâm. Nhưng nếu ra tiếng niệm, năng lực tăng trưởng hỗ tương qua lại, sức ảnh hưởng đối với mình và đối với người khác cũng sẽ khác.
Do vậy quá trình sắp xếp tu trong mỗi thời khóa, có xướng niệm tán kệ Phật, sáu chữ, bốn chữ Phật hiệu, cũng có chỉ tịnh, nếu như thuận theo nhân duyên, có lẽ sẽ thuận theo đặc sắc của pháp môn xưng niệm Phật danh.
Các bậc đại đức Tổ sư từ trước đến nay, đặc biệt là Đại sư Thiện Đạo, hoặc là các vị tổ sư Tịnh Độ trước đó đều đề xướng xưng niệm Phật danh. Vì phương pháp
này dễ dàng tổ chức trong việc tu học tập thể. Về phương diện cá nhân tự tu cũng có sự thuận lợi riêng.
Giai đoạn thứ nhất “noãn” mà thuận quyết trạch phần đã nói. Năng lực của trí tuệ giống như lửa, quang minh. Khi noãn sanh nhiệt sẽ bắt đầu thiêu đốt ngã chấp, ngã kiến. Nhiệt độ của lửa đem đến ánh sáng quang minh, có thể khiến tâm lực của trí tuệ, năng lực chiếu kiến ngũ uẩn giai không càng ngày càng mạnh, gọi là “minh đắc Tam-muội”.
“Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận Thích” cho rằng trí tuệ của “noãn” có thể biết được “tên gọi như huyễn”, biết được danh tự, ngôn ngữ, văn tự như huyễn, là do nhân duyên giả hợp. Biết như huyễn, nhưng không phải là phủ định, xem thường năng lực của ngôn ngữ văn tự, mà biết nó là các loại nhân duyên sanh, khéo dùng có thể thuận theo năng lực của nó mà đạt được giải thoát, nếu không thì sẽ bị sự trói buộc của ngôn ngữ văn tự.
Xưng niệm danh hiệu Phật cũng vậy, biết danh
hiệu như huyễn, như các pháp là do các điều kiện giả hợp nhân duyên sanh; Tuy biết là như huyễn như hóa nhưng có thể khéo dùng nó, ngược lại là một loại thiện xảo phương tiện.
“Đảnh”: Minh tăng Tam-muội, nghĩa như huyễn. Từ “tên gọi như huyễn” tiến một bước biết “nghĩa như huyễn”, hiểu rõ ý nghĩa cũng là nhân duyên giả hợp, đây là trí tuệ của hành giả đạt đến “đảnh” vị. Giống như leo tới đỉnh núi, tầm nhìn mở rộng, không bị thân tâm ngũ uẩn hẹp hòi làm chướng ngại. Nhưng cũng có lúc có thể lơ đãng, sơ suất mà đọa lạc, gọi là “đảnh đọa”, từ trên đỉnh núi rớt xuống.
Trí tuệ hiểu được về “tên gọi như huyễn”: Dùng ngôn ngữ, văn tự xưng tán người khác, biết là không có thực tại như trong tưởng tượng, không chấp trước thế giới danh xưng ngôn ngữ; Nhưng có thể đối với sự chỉ định liên quan đến thế giới chân thật xa lìa ngôn ngữ văn tự thì rất lưu tâm. Trí tuệ hiểu được “ý nghĩa như huyễn”: Biết được ý nghĩa, công đức kỳ thật cũng là
như huyễn, cũng không chấp trước đối với thế giới vật chất.
Thật ra ý nghĩa, công đức cũng là nhân duyên giả hợp, tên gọi và ý nghĩa cũng là tương đối. Ví dụ: Tên gọi là “cái nhà”, thì người Trung Quốc phát âm khác với người Nhật hay người Mỹ. Những tên gọi do mọi người đặt ra, không thực tại, đây là trí tuệ “tên gọi như huyễn”. Lìa khỏi những danh từ này xem ra hình như là thật. Nhưng vật liệu của cái nhà vẫn là do các điều kiện nhân duyên sắt thép, xi măng, cát đá, gỗ v.v... giả hợp, thế giới vật chất cũng không có thực như trong tưởng tượng, đây là trí tuệ hiểu được “ý nghĩa như huyễn”.
Đối với sự quán sát tự ngã cũng như vậy, đầu tiên xa lìa chấp trước tên gọi. Khi người khác nhắc đến tên của bạn thì sẽ có những thứ làm bạn vướng mắc như: “Họ đang tán thán mình phải không? Hay đang mắng mình? Đang nói xấu mình? Việc tốt có nêu tên của mình không? Việc không tốt có ghi tên của mình không?” Chỉ có nói tên thôi mà đã khó bỏ qua rồi.
Niệm Phật có thể biết “danh như huyễn”, biết cái tên gọi cũng không phải là đại diện cho mình, như lúc nhỏ, khi đi học, khi xuất gia, ở vị trí và thời gian khác nhau tên gọi không có đồng một tên, nhưng mình chỉ có một, song dường như sự tồn tại của tên gọi rất chân thật.
Tiến thêm bước nữa, biết được “ý nghĩa như huyễn”, “ngã” là do ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và thức kết hợp với nhau, những điều kiện này hình thành nó sẽ có sự thay đổi, nhưng vẫn là vô thường, khổ, không, vô ngã. Do vậy, tiến thêm một bước thể chứng “điều chấp thủ như huyễn”, lúc này có thể phá trừ ngũ ấm nhân duyên giả hợp, từ noãn, đảnh, đến “nhẫn”.
“Nhẫn” vị: Nhập chân nghĩa nhất phần Tam-muội, sở thủ như huyễn.
“Nhẫn” vị trí thứ ba trong thuận quyết trạch phần.
“Nhẫn” nói ở đây không chỉ là nhẫn nại, không chỉ là nhẫn nại hoàn cảnh bên ngoài, sự biến hóa nhân
sự, mà là “chấp nhận” vô thường, vô ngã.
Từ sự chấp nhận đó có thể chuyển thành trí tuệ vô ngã. “Nhẫn” của “vô sanh pháp nhẫn” trong pháp môn Đại thừa cũng có ý nghĩa như vậy, là sự chấp nhận đối với pháp vô sanh.
Biết pháp do nhân duyên sanh, duyên sanh duyên diệt, cũng không có sanh mà cũng chẳng có diệt. Đã là nhân duyên sanh thì làm gì có ngã sanh chân thật? Không có ngã sanh chân thật, vô sanh thì vô diệt đối với sự công nhận của pháp “nhẫn”. Khi đạt đến nhẫn vị, hành giả có thể thấy đến một phần chân thật nghĩa (biết được điều chấp thủ là như huyễn), nên gọi là “nhập chân nghĩa một phần Tam-muội”.
Vì sao vậy? Vì biết đối tượng của suy nghĩ, hiểu biết, thuộc thế giới nhận thức, thật ra là như huyễn, bất luận là tên gọi hay ý nghĩa, thật ra đều là ở trong tâm. Do vậy, “chỉ hoạt động trong thức không có trực tiếp với cảnh”, những gì mà tâm đối với cảnh chỉ là do nội tâm tạo tác ra, những điều thức hiện, những điều tâm
tạo ra, đây gọi là “nhẫn vị” .
Ba loại “sở duyên” trong “Lục Môn Giáo Thọ Tập Định Luận”: Ngoại duyên, thượng duyên và nội duyên.
Đối với “điều chấp thủ là như huyễn” của “nhẫn” vị, chúng ta có thể từ ba loại “sở duyên” (đối tượng thiền định) trong “Lục Môn Giáo Thọ Tập Định Luận” để thảo luận. Ba loại “ngoại duyên”, “thượng duyên” và “nội duyên”, trong phần giải thích nói: “Ngoại duyên quán những hình tượng hiện tiền như xương trắng v.v... là cảnh giới sơ học. Thượng duyên là gần đạt tới định, duyên tịnh đẳng tướng. Nội duyên là từ tướng hiện ra của ý nghĩa ngôn ngữ trong tâm của hành giả làm cảnh để duyên đến.”
“Ngoại duyên” thứ nhất là duyên xương trắng v.v... quán những “ảnh tượng” hiện thực, lấy “hình tượng trong gương” làm ví dụ, bất cứ vật gì đặt trước gương, nếu gương sạch sẽ tức có thể hiện ra rõ ràng. Cũng vậy, tâm thức của người thiền định sơ học nếu thanh tịnh thì có thể hiện rõ ràng những đối tượng muốn quan sát học tập.
Có quan hệ với thiền định, hành giả bước đầu khi học tập có các phương pháp đối trị, lúc tâm tham dục rất mạnh có thể dùng phương pháp quán bất tịnh. Những ảnh tượng để đối trị sản sanh trong nội tâm là quá trình căn bản cần có đủ ở người sơ học thiền định.
Người sơ học niệm Phật Tam-muội cũng có quá trình tương tự như vậy. Người sơ học, trong quá khứ nội tâm đều niệm danh hiệu ngã, hiện tại đổi thành niệm danh hiệu Phật, chuyển niệm về vô ngã, lấy danh hiệu Phật nhiếp thọ công đức vô ngã vô tư, triển khai từ bi trí tuệ. Vì thế, mượn danh hiệu Phật niệm có thể sản sanh ngôn ngữ, âm thanh duyên trong nội tâm, hoặc là hình ảnh tương ưng duyên trong nội tâm. Hoặc là khi không niệm Phật, nội tâm cũng có âm thanh của nội tâm, những ảnh tượng hoạt động này là đối tượng (sở duyên) của bước đầu tu thiền định, gọi là “ngoại duyên”.
“Thượng duyên” thứ hai là chỉ xả bỏ “cảnh giới thô thấp hơn”, tìm cầu phương pháp tu thiền định” duyên đến cảnh giới thanh tịnh cao hơn”. Đây có thể nói là pháp tu thiền “so sánh tương đối”, đem điều xấu của “dục giới” (thế giới truy cầu dục vọng) thân tâm (ngũ uẩn) so sánh tương đối với thân tâm (ngũ uẩn) ly dục của “sơ thiền”, cái trước là thô xấu, cái sau là thanh tịnh vi diệu hơn.
Theo phương pháp này có thể xả bỏ thế giới truy cầu dục vọng, nâng cao đến ly dục của sơ thiền. Lại tiến lên một bước đem thân tâm ly dục của “sơ thiền” so sánh tương đối với thân tâm vô dục của cảnh giới “nhị thiền” cao hơn, cái trước là thô tục, cái sau càng an tịnh, thuần túy thanh tịnh diệu lạc hơn. Nương theo phương pháp “so sánh tương đối”, tiếp tục nâng cao đến tam thiền, tứ thiền, hư không vô biên xứ định, thức vô biên xứ định, vô sở hữu xứ định, cho đến cao nhất có thể nâng cao đến phi tưởng phi phi tưởng xứ định.
Nhưng chỉ là truy cầu thượng duyên, nếu chỉ là thiền định thuần túy vẫn là thế gian, phải đổi thành “nội
duyên”. Nên biết không kể là dục giới, sắc giới cho đến thiền định cao nhất, những gì đã tạo, những thế giới đã chuyển đổi ra, vẫn là do tâm thức hiện ra. Cũng là những thể hội về “nhẫn” vị đã nói ở trước: Thế giới suy nghĩ hiểu biết và chấp thủ đó đều là như huyễn.
“Thế đệ nhất” vị: Vô gián Tam-muội, năng thủ như huyễn.
Tiến một bước đến “thế đệ nhất”, thù thắng nhất trong thân tâm ngũ ấm ở thế gian. Vì tiếp theo sát-na sau là có thể phá trừ ngã chấp, chuyển đổi thành thân tâm xuất thế gian. Do đó cách phá trừ ngã chấp, Tam-muội lúc này gọi là “vô gián Tam-muội”, đoạn trừ những phiền não “ngã chấp” cần phải đoạn trừ, mà không bị phiền não làm chướng ngại trong lúc tu hành, trực tiếp tiến vào giải thoát đạo, thành tựu “kiến đạo” vị. Cũng là thấy đến Thánh đạo, vô ngã đạo, dẫn khởi trí tuệ vô ngã. Lúc này không chỉ biết điều chấp thủ như huyễn, điều được biết như huyễn, cũng biết được chủ thể để nhận thức hiểu biết cũng như
huyễn, lúc này chủ thể và đối tượng đều mất.
Do vậy trong quá trình của thuận quyết trạch phần, từ “tên gọi như huyễn”, đến “ý nghĩa như huyễn”, đến “điều chấp thủ như huyễn”, đến “chủ thể chấp thủ như huyễn”, đây là bước đi dẫn đến phát khởi trí tuệ.
Như thế nào có thể tu “thuận phước phần” bố thí, trì giới, tu tứ vô lượng tâm v.v... phước nghiệp, chuẩn bị thích hợp điều kiện sinh hoạt thế tục; Đạt đến ý lạc tăng trưởng của “thuận giải thoát phần”; Lại đạt đến “thuận quyết trạch phần” trí tuệ tăng trưởng. Đây là từng bước phát triển tu “niệm Phật Tam-muội” mà chúng ta cần phải chú ý.
Từ niệm danh hiệu Phật mà thực hành, biết nhân duyên sanh pháp của danh hiệu như thế nào? Khi niệm dẫn phát ý niệm của nội tâm như thế nào, chuyển biến thành âm thanh lại biểu đạt tán thán Phật? Tán thán đối với Phật sẽ khiến người cảm động, cho đến lông tóc dựng đứng. Sự cảm động của âm thanh sẽ dễ dàng tương ưng với thuận giải thoát phần, đưa đến ý nguyện
rất mạnh, cảm động mình và người khác. Tuy biết danh hiệu như huyễn, nhưng có thể khéo léo sử dụng, cho đến đi trên con đường phá trừ ngã chấp thì sẽ tiến vào thuận quyết trạch phần.
