NGÀY THỨ NĂM: Ba tâm vi tế và sáu tâm thô với năm tướng công đức lớn.
Thời khóa thứ 2, ngày thứ tư của kỳ Phật thất thứ hai năm 2005 (ngày 31 tháng 01 năm 2005 tức ngày 22 tháng 12 Âm lịch).
Hôm nay ngày thứ năm của kỳ phật thất thứ 2 năm 2005. Hôm qua đã nói từ thân niệm trú, thọ niệm trú đến tâm niệm trú, cũng là từ thân tâm ngũ ấm, chuyển đổi của sắc thân, rồi đến sự chuyển đổi của thọ, tưởng, hành và thức (có liên quan tới tâm niệm trú).
Sự chuyển đổi thân thể có phần rõ ràng hơn, đại chúng ở nơi đây bảy ngày hãy tự mình chú ý đến hành vi cử chỉ, đi đứng, nằm ngồi, bốn oai nghi có thay đổi hay không? Trong khi đứng, chắp tay, lạy Phật v.v... chúng ta có khinh an nhẹ nhàng hơn không? Chúng ta đối với thiện pháp có học tập tiếp thu nhiều hơn không? Trừ lúc ở niệm Phật đường ra, cho đến bố thí, trì giới, nhẫn nại, lục độ vạn hạnh, chúng ta có hành trì hay
không? Giáo lý thiện tri thức dạy bảo chúng ta có theo đó thực hành hay không? Hay chúng ta không những thuận theo phiền não, nghiệp lực, mà còn đối với lục độ ba la mật thì không hề nhớ đến, và thân thể thì mệt mỏi, giải đãi.
Giống như một số trẻ em thích chơi đùa, cứ mải mê theo sự lôi kéo, khi quý vị bảo chúng học hành hoặc sai chúng làm việc gì, lúc này chúng sẽ trở nên chán nản mệt mỏi. Còn lên lớp thì ngủ gà ngủ gật, nghĩ ngợi lung tung, ngồi không yên nhưng khi vừa nghe hiệu lệnh nghỉ học thì khỏe như rồng như hổ, như thế có thể biết rằng thân tâm của chúng thật không chán nản mệt mỏi đến như vậy! Do đó khi niệm Phật Tam-muội, chúng ta phải chuyển đổi thân tâm. Quý vị đừng nên ở chánh điện niệm Phật thì mệt mỏi như con sâu róm, còn khi xuống khỏi điện Phật thì mạnh khỏe như con rồng, nếu không thân tâm sẽ không thể nạp thọ thiện pháp cho đến Phật pháp.
Khẩu nghiệp (âm thanh) cũng như vậy, khi niệm
Phật thì không chút tinh thần, uể oải mệt mỏi, còn khi la mắng thì tinh thần minh mẫn, cùng người khác tranh cãi, giành giật lại vô cùng phấn khởi, những thứ này là do khẩu nghiệp không chuyển đổi. Thân ngiệp và khẩu nghiệp là tướng trạng hiện rõ ràng mà còn không chuyển đổi được, huống gì ý nghiệp rất vi tế.
Kế danh tự tướng, chấp thủ tướng.
Hôm qua nói đến Hán truyền Phật giáo “Đại Thừa Khởi Tín Luận”: “Bất giác vô minh sanh ba tâm vi tế, duyên theo cảnh giới sanh trưởng sáu tâm thô”. Tâm niệm bất giác của phàm phu có sự khác biệt gọi là “ba tâm vi tế sáu tâm thô”. “Nghiệp hệ khổ tướng”, “khởi nghiệp tướng” có phần nổi bật, quan sát tiếp nữa thì có “kế danh tự tướng”, chúng sanh dễ bị mê muội bởi “danh ngôn tướng, ý ngôn tướng”. Đồng thời “nương với tương tục, duyên niệm với cảnh giới, duy trì khổ vui, tâm khởi ra chấp trước” tức là chấp thủ tướng.
Chấp trước danh ngôn, ý ngôn là do lấy “khổ vui”
của tự ngã làm trung tâm, đối với bản thân, đối với chúng sanh luôn phân biệt và dán nhãn hiệu “khổ vui” tùy tiện, cố chấp ý kiến của mình. Vì vậy ngược lại, dựa vào danh hiệu Phật A Di Đà, dùng danh hiệu Phật chuyển tâm niệm, đối với bản thân và chúng sanh dán lên danh hiệu Phật. Theo phương tiện này mà đưa đến tâm tín nguyện.
Đại sư Ấn Quang dạy: “Xem tất cả mọi người đều là Bồ-tát, chỉ có bản thân là phàm phu”. Nếu tự biết mình là phàm phu thì sẽ sanh tâm tàm quý, chuyển sửa thân tâm, như vậy mới gọi là người chân chánh có tâm tín nguyện.
Vì “tâm, Phật, chúng sanh ba thứ không có sự khác biệt” nên tâm niệm của chúng sanh tùy vào sanh tử mà lưu chuyển, còn hoàn diệt là quay về chơn như, tức là Phật. Do đó, y cứ vào danh hiệu Phật, mà phá trừ “kế danh tự tướng”, “chấp thủ tướng” trong nội tâm.
Tương tục tướng.
Vì sao chấp trước kế danh tự tướng? Chủ yếu là vì nội tâm có “tương tục tướng”. Từ sắc pháp, tương tục của sắc pháp rất cụ thể. Như khi mắt nhìn thấy cái bàn hay cái ghế, sẽ có một khoảng thời gian tương tục tồn tại kéo dài, nên có cảm giác sắc pháp rất chân thực. Tương tục tướng ở trong tâm rất nhanh giống như cuốn phim, thật ra mỗi một ô đều có khoảng đứng im, nhưng phát liên tục tiếp nối sẽ có cảm giác nó chuyển động rất thực tế.
Tác dụng nhận thức của nội tâm đối với ngoại cảnh trong mỗi sát na đều biến hóa, nhưng sự biến hóa này liên tục và giống nhau, có thể làm cho người nảy sinh ảo giác giống với thực tại, và cho rằng nó luôn bền vững. Cảm giác bản thân hôm nay và ngày mai là giống nhau, không gì thay đổi cả.
Sự thật là tất cả pháp “vô thường, vô ngã”, nhưng chúng sanh lại có cảm giác “thường hằng bất biến và có tự ngã”, cho nó là thực tại. Do đó muốn phá “tương tục tướng”, nên dựa vào danh hiệu Phật A Di Đà, khiến cho
tịnh niệm tương tục. Tịnh niệm tương tục cần thâu nhiếp sáu căn, thâu nhiếp sáu căn xong mới có thể tịnh niệm tương tục. Loại bỏ tất cả tương tục tướng trong quá khứ về “phiền não, nghiệp”, và “thường hằng bất biến và có tự ngã”.
Lực phòng hộ, lực đối trị và lực trang nghiêm.
Lúc này quý vị có cảm giác thân tâm có dấu vết chuyển đổi, thân nghiệp, khẩu nghiệp cùng với ý nghiệp cũng theo đó chuyển đổi, ý nghiệp là tịnh niệm tương tục, là mối then chốt chuyển đổi. Quý vị tự cảm giác niệm lực của bản thân, không chỉ quán sát đến oai nghi khi đi đứng, nằm ngồi và ngôn ngữ, mà còn có sức lực phòng hộ. Lực phòng hộ sanh ra nhờ vào tịnh niệm tương tục, có thể phòng hộ sáu căn.
Tâm niệm và danh hiệu được niệm, ví dụ: Tâm niệm giống việc điều khiển con dao, tay cầm dao, vũ khí như gậy vàng của Tôn Ngộ Không. Đầu tiên tay cầm phải vững, vì khi mới cầm vũ khí hay gậy vàng
thường không vững vàng, cầm được thời gian ngắn là rớt, thế là không có lực phòng hộ.
Tập luyện lâu dần sẽ cầm chắc chắn. Lúc này, vũ khí đối với quý vị là một lực phòng hộ, và có thể là vật hộ thân. Không chỉ có lực phòng hộ, tiến bước nữa sẽ có lực đối trị các loại làm chướng ngại thiền định như: Tham lam, sân hận, tán loạn, hôn trầm, hoài nghi.
Về phương diện niệm lực, trước phải luyện tập lực quán sát, đây là điều căn bản nhất. Có lực quán sát mới có lực phòng hộ, phòng hộ cũng gọi là “luật nghi”, sẽ có “căn luật nghi”, phòng giữ sáu căn. Lấy niệm để phòng hộ ý, lấy tịnh niệm để phòng hộ ý nghiệp, khiến tướng tịnh niệm liên tục.
Lực phòng hộ giống như sở trường về phòng thủ, lực đối trị giống như sở trường tiến công, tiến công ma quân phiền não. Có lực quán sát, lực phòng hộ, lực đối trị thì khả năng chuyển đổi thân tâm mới thuận lợi, chuyển thành khinh an.
Không những vậy, tiến thêm còn có lực sáng tạo.
Phật pháp gọi là “lực trang nghiêm”. Trang nghiêm cõi Phật không chỉ có thể đối trị phiền não của bản thân mà còn có thể chuyển đổi thế giới, trang nghiêm thế giới, trang nghiêm Tịnh độ. Vì vậy khi niệm từ lực niệm đến lực trang nghiêm, sức mạnh thành tựu chúng sanh, và lợi ích đến quần sanh rất lớn.
Năm tướng công đức trang nghiêm lớn.
Suốt quá trình như thế nào từng bước từng bước luyện tập? Trước hết chúng ta phải làm quen với danh hiệu Phật A Di Đà. Khi tán tụng danh hiệu Phật trang nghiêm quang minh “A di đà Phật thân kim sắc, tướng hảo quang minh vô đẳng luân”.
Trong “Vãng Sanh Luận” phần pháp môn tán thán dạy: “Tán thán như thế nào? Khẩu nghiệp tán thán. Xưng danh Như Lai. Muốn tu hành được tương ưng với trí tuệ quang minh và công đức của Như Lai”
[1].
[1] “Vô Lương Nghĩa Kinh Ưu Ba Đề Xá” Đại Chánh tạng tập 26, trang 231b.
Khi quán sát hồng danh Phật, thân tướng Phật quảng đại, trang nghiêm, biến pháp giới thanh tịnh, pháp thân bình đẳng.
Khi quý vị đã thật sự tin tưởng thân tâm ngũ ấm của bản thân, vốn là pháp thân thanh tịnh, khi ấy thân tâm ngũ ấm nặng nề của quý vị cũng nhờ đó mà chuyển đổi. “Vãng Sanh Luận” nói: khi quán sát thân khẩu ý của Phật, thân tướng quang minh, ngữ nghiệp của Phật thường thuyết pháp, trong khi niệm Phật, nhờ vào danh hiệu A Di Đà Phật, chuyển đổi ngữ nghiệp, ý nghiệp, ý nghiệp của Phật giống như đất, nước, gió, lửa bình đẳng không phân biệt. Vì thế “Vãng Sanh Luận” dạy: “tâm trang nghiêm là gì? Bài kệ rằng: giống địa, thủy, hỏa, phong và hư không, không có phân biệt. Tâm không phân biệt là không có sự phân biệt”.
Sắc thân này do đất, nước, gió, lửa tạo thành. Đặc tính của tướng đất là nặng lớn hướng xuống, nếu thuận theo độ nặng của nó mà rơi xuống thì sẽ hôn trầm,
biếng nhác, không có chút tinh thần, cứ hướng xuống sa ngã, cứ tùy nghiệp mà lưu chuyển giống như bị lực hút của trái đất vậy.
Ngược lại nên thuận theo tính kham nhẫn, chịu đựng của đất. Đất có thể bình đẳng đối xử với tất cả chúng sanh, không luận là oan gia hay thân tình, đất đều sẵn lòng cho họ đi đứng.
Khi niệm Phật, trước nên thuận theo tính kham nhẫn của đất, công đức chịu đựng, niệm đến khi tất cả chúng sanh có thể chà đạp quý vị mà tâm không hề lay chuyển mới được. Giống Ngài Địa Tạng Bồ-tát đã thuận theo công đức của đất, hàm chứa rất nhiều vật báu.
Đại địa được ví như vật báu, nhân loại nhờ vào thực vật trên trái đất cung ứng mà sinh tồn, đại địa lại sản sinh ra vô số khoáng sản như vàng, bạc, đồng, sắt v.v.. tạo ra các loại vật dụng để đáp ứng nhu cầu con người.
Vì vậy niệm Phật ít nhất phải thành tựu được sự
bình đẳng giống Phật A Di Đà, công đức đại địa tính vô phân biệt, khiến chúng sanh khi tiếp xúc với quý vị, giống như phát hiện ra của báu ở trong đại địa, nơi sinh ra vô lượng vô biên các loại báu vật.
Nơi đây không chỉ lập ra kho báu như vừa nói mà còn dựa vào nó để thành tựu những công đức ở Tịnh độ như hồ nước có bảy báu, tám nước công đức.
Nơi niệm Phật đường cũng có thể thành tựu công đức của nước. Niệm danh hiệu Phật tự nhiên giống như uống nước, hương vị cũng như vậy. Nước là suối nguồn của sinh mạng, có nước mới có sinh mạng, mà nước lại là thứ rất nhạt nhẽo, bình thường, và có khi cho rằng nó không quan trọng, không mùi vị gì cả. Niệm Phật cũng vậy, chúng ta có cảm giác danh hiệu Phật rất vô vị, từ ngày đầu tiên tới nay đều niệm có một câu A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, không có hương vị gì hết.
Người có đem tâm mà niệm Phật thì giống như uống nước, uống ra hương vị đạm bạc, hương vị thanh tịnh bình đẳng. Cũng chính nhờ nước không có hương
vị, mới có thể thấm nhuần thành tựu tất cả chúng sanh. Thân thể con người nước chiếm 70%, các loại sinh vật khác cũng nương vào nước mà sinh sống.
Niệm Phật phải niệm cho ra tính bình đẳng của đại địa. Nước thấm nhuần thanh tịnh bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, cũng như mưa thấm ướt tất cả cây to cỏ nhỏ. Hy vọng quý vị niệm Phật thuận theo những quán sát căn bản này, phần tiếp theo ngày mai chúng ta nói tiếp.
Ngũ quán đường.
Lúc điểm tâm sáng.
Khi đối diện với thức ăn, nước uống, cũng giống như khi niệm Phật, nhờ quán sát ý nghiệp thanh tịnh, bình đẳng của Phật giống như sự bình đẳng của đất, nước, lửa và gió. Nên với thức ăn, nước uống trước mặt cũng nên quán sát bình đẳng. Thức ăn từ đất, nước, gió và lửa hình thành và chúng bình đẳng nuôi dưỡng tất cả chúng sanh, không phân người thân, kẻ thù. Không chỉ
có những người hiền mới có ăn no, còn người ác thì đói khát. Và cũng không có chuyện chỉ có người thân mới no bụng, còn những kẻ thù thì đói khát.
Thức ăn trước mặt là từ những chúng sanh khác mà chuyển đổi thành (thực vật, động vật), sau khi ăn (tiêu hóa) thành tứ đại của chúng ta. Tứ đại chúng ta tiếp lần nữa chuyển hóa (thay đổi chất, bài tiết, sử dụng lại) rồi thành thực phẩm của những chúng sanh khác (thực vật, động vật). Từ tứ đại quán sát về địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, chúng ta không những quán sát thấy được sự vô thường mà vốn là vô ngã, từ đây có thể quán sát bản thân và chúng sanh vốn thanh tịnh bình đẳng, đồng một pháp thân.
Nhân đó khi dùng cơm tứ đại chúng ta hấp thụ có hòa hợp có tan rã. Mỗi ngày thân thể ở trong sự hòa hợp và tan rã của tứ đại, không ngừng trao đổi chất. Khi không có liên quan đến quyền lợi gì thì mỗi người đều không có chuyện gì cả. Nhưng một khi quan hệ xích mích thì sẽ sinh ra được và mất, thức ăn trước mặt vốn
có được có mất, thân thể chúng ta cũng vậy có được có mất, khi có những quan hệ lợi hay hại sẽ sản sinh ra vô số nghi hoặc, tạo nghiệp rồi chịu luân hồi thọ khổ.
Vì vậy khi dùng trai ngoài việc tụng bài cúng dường, trong suốt quá trình phải dùng tâm quán sát cũng rất quan trọng. Trai đường còn gọi “ngũ quán đường”, tức có năm điều cần phải quán sát. Quán sát sự liên quan giữa bản thân và thực vật, quán sát công đức bản thân và vật cúng dường có tương xứng hay không, quán sát bản thân có chánh niệm dùng cơm hay không, quán sát mục đích của việc ăn cơm. Chúng sanh nhờ ăn mà sống, tuy cần phải ăn nhưng phải có tâm tàm quý để thọ dụng thức ăn.
Cuối cùng là hồi hướng, dùng tâm hoan hỷ bố thí sẽ được an lạc. Những quá trình này, mỗi thời khóa đều giống nhau cả, mong quý vị trân quý thời gian mỗi lần dùng cơm cũng giống như một thời niệm Phật.