Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Niệm Phật tam muội nhập môn

Niệm Phật tam muội nhập môn

Tác giả: Thích Tuệ Mẫn trước tác Việt dịch Thích Vạn Lợi, Thích nữ Lệ Trúc, Thích nữ Trung Định, Thích nữ Phước Ngọc. Năm xuất bản: -. Số trang: 288.

Chương 23: Ngày Thứ Tư: Đặc Trưng Của Tâm Bồ-Đề (Trang 242 - 251)

NGÀY THỨ TƯ: Đặc trưng của tâm Bồ-đề: 1. Đại dõng mãnh, 2. Đại phương tiện.
Hôm nay là ngày thứ tư của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2007.
Bắt đầu từ ngày đầu tiên đã giảng rõ các pháp môn liên quan đến tâm tín nguyện, để trì danh hiệu Phật, phát tâm Bồ-đề v.v... Hôm nay đi sâu hơn phân tích những nét đặc trưng của tâm Bồ-đề, mà trong Kinh điển Phật giáo đã thảo luận đến. “Phẩm Phát Tâm thứ năm” trong kinh “Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận” của Du già hành phái nói đến Bồ-tát phát tâm Bồ-đề có bốn nét đặc trưng lớn:
  1. Đại dõng mãnh là hoằng thệ tinh tấn, thậm thâm, khó làm, luôn thực hiện trong thời gian dài. 2. Đại phương tiện là đã phát hoằng thệ rồi, trường kỳ sử dụng phương tiện, chuyên cần tinh tấn. 3. Đại lợi ích là trong tất cả mọi thời gian đều vì tự lợi lợi tha. 4. Đại xuất ly là vì cầu vô thượng Bồ-đề... do suy nghĩ từ đó 

mà phát tâm Bồ-đề.

Từ bốn đặc trưng lớn này mà biết đã sanh khởi tâm Bồ-đề, phát khởi tâm Bồ-đề hay chưa? Nói cách khác, đại chúng niệm Phật, trì danh niệm Phật, mỗi một tiếng niệm Phật, có tương ưng với bốn đặc trưng này, nếu có thì biết được phương hướng niệm Phật của mình đã chính xác.

Đặc trưng thứ nhất “đại dõng mãnh” tinh cần mà mình hay người khác có thể quán sát được.

Những điều kiện chủ yếu phải “đại dõng mãnh” (đại tinh tấn) mới thực hiện được.

1. Thâm sâu

Thứ nhất là thậm thâm. Như “Tâm kinh Bát Nhã” nói “Bồ-tát Quán Tự Tại, hành thâm Bát nhã ba-la-mật-đa thời”, “thâm” là chỉ thâm sâu. Vì có thể thấy rõ năm uẩn đều là không, vượt qua tất cả khổ ách, sắc tức là không, không tức là sắc, nên gọi là “thâm sâu”. “Năm uẩn đều không”, “năm uẩn” là sanh tử lưu chuyển, “không” tức là niết bàn.

“Tâm kinh” quán chiếu các pháp không tướng, “không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm”, đây là đặc trưng của niết bàn.
Do đó đại tinh cần là để đủ khả năng hiểu được sanh tử và niết-bàn. Sắc tức là không, không tức là sắc, niết-bàn không khác sanh tử.
2. Việc khó làm có thể làm
Thể nhận được sanh tử tức là niết-bàn, niết-bàn là sanh tử, thì có thể kiến lập điều kiện thứ hai “Việc khó làm có thể làm”.
3. Thời gian dài
Vì độ hóa chúng sanh, chúng sanh vô lượng vô biên, phiền não cũng vô lượng vô biên, thì mục đích rất rộng, lại thêm thời gian dài, đây đều là yếu tố tạo thành không đơn giản.
Thậm sâu khó thực hiện, mà thời gian lại dài, vì mục đích phát huy năng lực đối trị ngã chấp, đối trị về các chướng ngại về giới, định và huệ. Vì vậy đầy đủ các yếu tố thâm sâu, việc khó làm có thể làm, thực hiện 
trong trường kỳ thời gian, trong mỗi phút mỗi giây đối trị chướng ngại của mình.
Bảy ngày không tính là lâu, nhưng những nét đặc trưng đã kiến lập trong bảy ngày thực hiện, cần để tâm, phải nỗ lực theo phương hướng này.
Cũng vậy, bảy ngày niệm Phật có bắt đầu thì cũng có kết thúc, nhưng không phải chỉ có bảy ngày này mà thôi, đây chỉ là một giai đoạn trong vô lượng kiếp.
Cũng không phải trong giai đoạn Phật thất mới chú ý, mà là trong mỗi phút mỗi giây của cuộc đời, phải gìn giữ đặc trưng tính cách này. Từ đây có thể khiến cho mình và người khác cảm nhận đến năng lực của đại tinh tấn.
Đặc trưng thứ hai là “Đại phương tiện”.
Có người rất tinh tấn, nhưng không có phương pháp thích hợp chính xác, dễ đưa đến thực hành nhiều mà không có lợi ích. Năng lực bỏ ra rất lớn, song những gì đạt được lại có giới hạn, thậm chí đi đến uổng công vô ích. Do vậy, đối với Bồ-tát đạo tích cực hóa độ 
chúng sanh, nên học tập các loại phương tiện, phương pháp tự lợi lợi tha đến viên mãn.
Hôm nay đại chúng cùng niệm Phật, từ lúc bắt đầu cho tới nay, thực hành theo thời khóa đã định. Ví dụ: Sau khi đến đăng ký tham dự, tiếp đến nghe giải thích về nội quy. Thời tụng kinh thứ nhất có tán lư hương. Mọi người căn cứ theo phương pháp (phương tiện) này thì có thể từng bước từng bước rất thuận lợi học tập pháp môn niệm Phật Tam-muội.
Nếu không, dù mọi người có tâm nguyện tinh tấn, nhưng không biết theo phương pháp nào để thực hành, thì rất khó đạt thành tựu. Ví dụ, người đứng ra tổ chức có tâm muốn làm việc, nhưng không biết phương pháp phục vụ, tiến hành các thủ tục đăng ký, chuẩn bị để tín chúng tham dự như thế nào? Xác nhận số người thực tế là bao nhiêu? Sắp xếp nơi ăn chốn ở ra sao? Các việc giải thích nội quy như thế nào? Chỉ nói với mọi người phải tinh tấn, việc khó làm phải nên làm... thì không có cách nào mà hoàn thành. Vì vậy, nên hiểu phương pháp
thực hiện, có đại phương tiện, đây là đặc trưng thứ hai của tâm Bồ-đề.
Ngày Phật thất đầu tiên, tôi tham gia cuộc tọa đàm với lớp thanh niên trẻ, trong đó có một vị người đã từng trải kinh nghiệm mà chúng ta vừa nói.
Hiện tại cả thế giới đều đang chú ý đến việc bảo vệ môi trường, vậy làm thế nào để bảo vệ? Không thể chỉ có nhiệt tình, nỗ lực thôi, mà cần phải có phương pháp cụ thể, chính xác. Nếu không chỉ uổng công vô ích, làm nhiều mà không có lợi ích gì, không có hiệu quả nào cả.
Ban đầu người thanh niên học tập ngành bảo vệ môi trường, học xong đi làm cho một đoàn thể kia, dần dần lên đến chức phó của tổ chức đó.
Chủ yếu là thúc đẩy trực tiếp đến mối quan hệ giữa người tiêu dùng và người sản xuất. Quan niệm này bắt đầu phát triển từ Nhật Bản.
Bình thường người tiêu dùng đến cửa tiệm, hay ra chợ, những gì thấy được là kết quả của quá trình sản xuất, không thấy được từ sản xuất đến khi tiêu thụ đã 
trải qua những công đoạn nào và tạo ra những tác hại gì. Khi thấy những thực phẩm thịt, cá, tôm, cua v.v... bày bán ở chợ, sẽ cho là không có gì, song quá trình sản xuất đã trả giá biết bao nhiêu.
Ví dụ, tôm hùm thông thường mọi người chỉ chú ý đến nó có tươi sống hay không, nhưng sẽ không để ý đến thuyền bắt nó đã phá hoại môi trường như thế nào. Vì tôm hùm thường sống dưới đáy biển, người muốn bắt tôm sử dụng lưới sắt cố định, cào sát dưới đáy biển vớt lên tất cả, sau khi vớt lên, chỉ lấy tôm hùm ngoài ra các loại cá đều vứt bỏ. Chỉ vì 1kg tôm hùm, đem gần gấp mười cho đến gấp mười mấy lần sanh mạng của nó lãng phí đi, và phần lớn san hô cũng bị phá hoại theo.
 Nhưng người tiêu dùng chỉ nhìn trước mắt những đồ vật ở chợ, không có thấy đến những gì phía sau nó. Ví dụ: Ngành nông nghiệp và ngành chăn nuôi gia súc từ phương thức truyền thống chuyển thành sản xuất quy mô công nghiệp lớn. Muốn thỏa mãn khẩu vị, thức ăn 

của gia súc sử dụng phần lớn là loại ngũ cốc, để tạo ra 1kg thịt bò, thì con bò đó cần phải tiêu phí gấp mười lần các loại ngũ cốc. Nghĩ xem, nếu như sống ở hoang đảo, khai khẩn một mẫu đất nuôi sống một gia đình, nhưng muốn ăn thịt, phải nuôi trâu bò, nó lại cần thức ăn, vì muốn ăn 1kg thịt phải cần mười 10kg các loại ngũ cốc, khai khẩn gấp mười lần đất ruộng mới có thể đổi được miếng thịt để ăn.

 Ở nước Mỹ, 80% sản phẩm nông nghiệp cung cấp cho ngành chăn nuôi gia súc. Tiêu thụ phần lớn thịt bít-tết, súc xích v.v... đã gián tiếp tạo thành việc khai thác quá đáng, lạm dụng dụng thuốc trừ sâu, phân bón tạo ra ô nhiễm. Bình quân một con trâu từ lúc nuôi dưỡng cho đến xuất chuồng, lượng nước tiêu hao cho nó tính tất cả có thể làm nổi một chiếc tàu khu trục.

Nguyên nhân của cách thức sản xuất này nếu không để cho người tiêu dùng biết, để họ tiến hành cải biến phương thức ăn uống, thì không thể cải thiện môi trường trái đất.

Gần đây có bộ phim “Kim cương máu (Blood Diamond)” khiến cho chúng ta biết rõ sự tàn khốc của việc khai thác đá kim cương. Bề ngoài kim cương nhìn rất cao quý đẹp đẽ, người có tiền thì mua nó, đeo nó. Đá kim cương cả thế giới, đại bộ phận đều có nguồn gốc ở châu Phi, vì để khai thác đá kim cương, những vấn đề ẩn dấu ở phía sau có thể mọi người đều không có chú ý đến.

Do vì có lợi nhuận rất lớn, mà việc khai thác và buôn bán đá kim cương đã làm cho đất nước Phi châu chiến loạn triền miên, thương vong vô số. Để tranh giành quyền khai thác và buôn lậu đá kim cương, nước Sierra Leone đã bạo phát nội chiến, từ năm 1997 đến năm 2000, số lượng tử vong đến con số 75000 người. Bối cảnh nội chiến ở quốc gia này không phải là đấu tranh vì hình thái ý thức, cũng không phải là xung đột chủng tộc hay địa phận, mà nguồn gốc hoàn toàn là sự tranh chấp đối địch giữa tập đoàn thương nhân quốc tế về châu báu đối với sự tranh đoạt mỏ kim cương. 

Vì muốn cho người tiêu dùng biết nhưng vấn đề này, và muốn giúp đỡ chúng sanh, cải thiện môi trường cần phải tích lũy rất nhiều kinh nghiệm, tìm đúng phương pháp chính xác.
Đặc trưng thứ ba là “lợi tha”, lấy lợi ích chúng sanh làm đầu tiên, kết quả của lợi tha luôn luôn là lợi mình. Câu chuyện vừa nói đến của vị thanh niên kia cũng có liên quan đến vấn đề này.
Để ngày mai bàn thảo thêm.
A Di Đà Phật !

/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »