Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Niệm Phật tam muội nhập môn

Niệm Phật tam muội nhập môn

Tác giả: Thích Tuệ Mẫn trước tác Việt dịch Thích Vạn Lợi, Thích nữ Lệ Trúc, Thích nữ Trung Định, Thích nữ Phước Ngọc. Năm xuất bản: -. Số trang: 288.

Chương 12: Ngày Thứ Bảy: Ba Tướng Vi Tế Của Tâm (Trang 100 - 111)

NGÀY THỨ BẢY: Ba tướng vi tế của tâm.
Thời khóa thứ 2, ngày thứ bảy của kỳ Phật thất thứ hai năm 2005 (ngày 02 tháng 02 năm 2005 tức ngày 24 tháng 12 Âm lịch).
Mấy ngày này giảng về “ba tâm vi tế sáu tâm thô” trong “Đại Thừa Khởi Tín Luận” để phân tích trạng thái của tâm. Trong tâm cảm nhận đến nghiệp hệ khổ tướng, khởi nghiệp tướng, kế danh tự tướng, chấp trước tướng, tương tục tướng, trí tướng (phân biệt tướng), sáu thứ này chưa vi tế nên gọi là “sáu thô”.
Trong quá trình tu tập niệm Phật Tam-muội, nương vào xưng danh niệm Phật để chuyển đổi kế danh tự tướng, tiến đến phá trừ chấp trước tướng, tương tục tướng, cho đến bỏ đi ý niệm về “ngã” (cái tôi cá nhân) tương tục, chuyển biến thành tịnh niệm tương tục, trở thành tâm vô ngã, vô sai biệt tướng, loại khỏi phân biệt tướng.
Ngày hôm qua giảng đến nương theo niệm Phật 
thể hội tứ đại thanh tịnh, bình đẳng, công đức tướng vô phân biệt. Khi lâm chung, đất nước lửa gió tan rã, trong quá trình tan rã, nếu như tùy thuận theo hoặc, nghiệp và khổ trong quá khứ thì sẽ bị theo chướng ngại của đất, nước, lửa, gió.
Phong đại tan rã và tánh bình đẳng.
Địa đại là tướng hôn trầm, thủy đại là tham ái, hỏa đại là sân hận, phong đại là tán loạn. Khi lâm chung, nếu như không có đem năng lực của tứ đại phân giải chuyển đổi thành thể nghiệm tu hành về vô ngã, vô thường thì rất dễ dàng rơi vào sự sợ hãi. Khi phong đại phân hủy sau cùng, hô hấp càng lúc càng yếu, cuối cùng ngưng hẳn, chấm dứt của một kỳ sinh mạng. Lúc này rất dễ chìm vô sự tán loạn vì cảm giác của ngã từ từ bị mất đi theo hơi thở cuối cùng.
Nhưng giả như biết tánh vô phân biệt của phong đại, hiểu rõ tất cả không khí trên trái đất là tất cả chúng sanh cùng sử dụng, hơi thở của tôi và bạn, của động vật và thực vật giao lưu với nhau. Động vật hít khí oxy và 
thải khí cacbonic, thực vật hít khí cacbonic, sau đó thải khí oxy để động vật hấp thu. Đối với thực vật thì khí thải ra là dưỡng khí cho loài người cần dùng. Nhân loại thải ra khí cacbonic, với thực vật là thành phần dinh dưỡng cần thiết.
Do vậy, từ phong đại tánh vô phân biệt bình đẳng trong không khí thể hội đến mối quan hệ nương tựa nhau sinh tồn.
Sự trao đổi của không khí và tất cả những gì mọi người đang sử dụng quá trình trao đổi của phân tử khí, thấy được tánh hỗ tương của sát-na sinh mạng, cũng nhận biết từ vô thỉ đến nay tất cả tánh hỗ tương của thể khí.
Nếu như khi chúng ta niệm danh hiệu Phật, cảm nhận điều đó rất tự nhiên giống như uống nước, giống như hô hấp, thì tín tâm, nguyện tâm cũng tự nhiên không bị thối chuyển.
Lại nữa, nương vào bất giác nên sanh ra ba tướng, cùng với bất giác này tương ưng không rời. Thế nào là 
ba?
Một là vô minh nghiệp tướng: Do nương vào bất giác nên tâm động mà gọi là nghiệp. Giác thì không động, động tức có khổ vì quả không rời nhân.
Hai là năng kiến tướng, do nương với động nên có năng kiến, không động thì không có kiến.
Ba là cảnh giới tướng, do nương vào năng kiến nên cảnh giới vọng hiện, rời kiến tức không có cảnh giới.
Do duyên với cảnh giới nên lại sanh ra sáu tướng. Thế nào là sáu? Một là trí tướng, nương vào cảnh giới, tâm khởi ra phân biệt, yêu thích và không yêu thích.
Cảnh giới tướng, năng kiến tướng, vô minh nghiệp tướng.
Như trước đã nói, đối với sự quan sát về tâm tướng, có “sáu tâm thô”, suy luận sâu hơn nữa tức có ba tướng trạng tâm vi tế, gọi là “ba tâm vi tế” (cảnh giới tướng, năng kiến tướng, vô minh nghiệp tướng).
Sở dĩ chúng ta có thể nhận thức được là do trong
nội tâm đã hiển hiện “cảnh giới tướng”.
Cảnh giới tướng là đối tượng “sở kiến” của “năng kiến tướng” trong nội tâm. Năng kiến tướng và cảnh giới tướng tức là “kiến phần” và “tướng phần” của nội tâm.
Tất cả những hình tượng của nội tâm, thật ra là nội tâm hiện ra cảnh giới, nhưng thường chúng ta lầm rằng ngoài tâm có pháp, nhưng thực tế đều từ tâm biến ra tướng, tự mình nhìn thấy tướng phần mà mình sáng tạo. Phàm phu đều cho là rất thực tại, không biết người thân kẻ thù, mình hay người đều là do nội tâm tạo tác ra.
Do đó các phân biệt có thể tương tục là vì mối quan hệ tương đối của năng kiến, sở kiến, hoặc kiến phần, tướng phần đến từ nội tâm. Cái quan hệ tương đối này đó là căn nguyên của ngã chấp, vô minh, gọi là “vô minh nghiệp tướng”, nó là vi tế nhất.
Cho nên ba tướng vi tế: Năng kiến tướng, cảnh giới tướng, vô minh nghiệp tướng, cũng tương đương với kiến phần, tướng phần và tự chứng phần (vi tế hơn)

trong A lại da thức.

Khi quý vị quán chiếu triệt để đến ba tướng vi tế mới biết thế nào là do tâm hiện, tâm tạo, thức hiện ra, mà có thể chuyển đổi vấn đề sanh tử, sanh diệt lưu chuyển, đạt đến là chơn như niết bàn hoàn diệt. Từ chỗ này kiến lập nên tín tâm, có thể quán triệt tâm, Phật, chúng sanh cả ba không có khác nhau, pháp môn niệm Phật cũng nên kiến lập tín nguyện như vậy.

Tâm Bồ-đề nương nơi đây mà kiến lập mới có thể xả bỏ tứ đại và tâm niệm. Vì vậy, Đại sư Thiện Đạo trong chú giải về “Kinh Quán Vô Lượng Thọ” dạy đến quán mặt trời lặn, như chiếc trống treo lơ lửng, dùng phương thức quán tứ đại tan rã về bốn phương mà tiến vào không đại, không vô biên xứ.

Sau không đại, tiến một bước là thức vô biên chỉ lưu lại tâm thức. Mà tâm thức lại có khả năng quan sát đến nhân duyên của ba tâm vi tế sáu tâm thô, quán sát nhiều lần về sanh trụ dị diệt. Lúc này nếu không chấp trước, thì đó là sự xả bỏ của thân tâm triệt để nhất.

 Ngũ tâm luân: Suất nhĩ, tầm cầu, quyết định, nhiễm tịnh và đẳng lưu
Nhìn từ góc độ khác, “Du Già Sư Địa Luận” nói về tâm niệm có năm tướng trạng lưu chuyển, quá trình tâm khởi diệt thay đổi đó là “năm tâm luân”.
Tâm đối với ngoại cảnh (sáu căn tiếp xúc sáu trần), mới bắt đầu là “suất nhĩ tâm”. Đại sư Trí Giả của tông Thiên Thai cũng nói suất nhĩ tâm, khi mới bắt đầu khởi tâm động niệm thì rất giống “vô minh nghiệp tướng” trong “Đại Thừa Khởi Tín Luận”.
Suất nhĩ tâm chỉ có trong một sát-na mà thôi, sau suất nhĩ tâm thì có “tầm cầu tâm”, tầm cầu tâm là tâm muốn nhận thức ngoại cảnh. Nó thuộc về năng kiến tướng, cũng thuộc về kiến phần. Giống như “năng kiến tướng” trong ba tâm vi tế.
Tiếp theo tầm cầu tâm là “quyết định tâm”, quyết định những cảnh giới đã thấy là gì? Chúng ta nương nơi vô minh nghiệp tướng, lấy ngã chấp làm chủ, sản sanh năng kiến và sở kiến, quyết định mình muốn thấy là gì? 
Thuận theo ý thích của mình hay là nghịch? Thuận thì sanh tham chấp, nghịch thì sanh sân hận.
Sau quyết định tâm sẽ có nhiễm có tịnh, “nhiễm tịnh tâm” sẽ thuận theo “đẳng lưu tâm”, cũng là “tương tục tướng”. Do tâm khởi phân biệt nhiễm tịnh thì sẽ có “tương tục tướng”, cũng gọi là “đẳng lưu tâm”. Nhân đây trong quá trình niệm Phật có thể từ sự đổi thay của năm tâm luân biết được tâm loạn hay không loạn. Nhìn phương hướng rộng, càng có khả năng quan sát đến sự lưu chuyển biến hóa sanh diệt của thân tâm, càng có thể hướng về hoàn diệt, tiến tới hướng vô thường vô ngã.
Trong nội tâm sáu căn đối với sáu trần, nếu mỗi niệm có thể đạt đến đẳng lưu tướng, đẳng lưu tâm của tịnh niệm tương tục, thì có thể quyết định tâm niệm này không có bị những tâm niệm khác làm nhiễu loạn.
Có khi sáu căn đối với sáu trần trong quá trình một nhận thức nào đó, ví dụ như mắt nhìn sắc, cái này cùng với thiện niệm của sắc pháp tương ưng chưa có hoàn thiện, thì lại bị một sắc pháp khác, hoặc là một âm 

thanh khác, hoặc là nhận thức của một giác quan xen tạp. Do đó trong quá trình thức không ngừng bị chuyển đổi, không dễ dàng đề ra quyết định, phán đoán chính xác, luôn luôn chuyển động trong phiền não, tán loạn hoặc hôn trầm.

Vì vậy khi niệm Phật, học tập đem mỗi một thiện niệm, tịnh niệm tương tục hoàn thành viên mãn trong một quá trình trưởng thành, kiến lập tâm Bồ-đề hoàn thành chính xác mới tính là nhất tâm bất loạn. Nếu như bị tâm niệm khác xen tạp, quán sát đến được và kéo trở về, tiếp tục hoàn thành một tịnh niệm tương tục khác.

Nương nơi xưng danh hiệu Phật, kiến lập khởi tâm Bồ-đề. Trong quá trình kiến lập tâm Bồ-đề, cái cần phải quan sát, kiểm thảo là thân tâm mình có thể cùng tương ưng với tâm hạnh Bồ-tát đã tích lũy vô lượng vô biên của Phật trước khi thành đạo. Xả thân cho hổ ăn, cắt thịt nuôi chim ưng, các sự hi sinh cống hiến đó, chúng ta có thể làm được quyết định này không? Quyết định này có chỉ trong nháy mắt.

Ví dụ mấy ngày trước đã kể về Pháp sư Thường Mẫn, thầy cùng đệ tử muốn đi hành hương đến Ấn Độ, giữa đường thuyền bị nạn, dưới tình huống cấp bách, hỗn loạn, anh giựt tôi giành, không có thời gian để có thể quyết định, cuối cùng thầy quyết định niệm Phật rồi chìm vào biển cả. Thử nghĩ xem, chọn quyết định này, nguyên cả năm tâm luân tịnh niệm tương tục, quyết định hi sinh bản thân thành tựu người khác, nguyện lực ý chí này quá là kiên cường!
Loại tâm niệm này chính là căn bản thành tựu Tịnh độ. Vì sao thế giới nào đó được gọi là Tịnh độ? Vì sao là Tịnh độ trang nghiêm? Vì sao có thể thành tựu chúng sanh? Nguồn gốc là tâm hi sinh cống hiến, mình vì mọi người.
Ví dụ đơn giản nhất, trong mấy năm nay có câu chuyện “Sự khác biệt giữa thiên đường và địa ngục” lưu hành ở trên mạng internet. Có người đi đến địa ngục, nhìn đồ ăn ngon trước mắt, cảm thấy rất kỳ lạ. Vì sao đây là địa ngục? Kết quả phát hiện ra trước mắt tuy 
là có đồ ăn ngon, nhưng đôi đũa quá dài, không thể gắp đồ ăn đưa vào miệng, vẫn ăn không được, vì vậy mỗi người đều đói và rất đau khổ.
Người này lại đến thiên đường xem, cũng thấy đồ ăn ngon như vậy đầy bàn mà đũa cũng rất dài. Nhưng mỗi người đều rất vui vẻ, đều ăn rất no. Vì mỗi người đều gắp cho người khác ăn. Mình vì mọi người, kết quả mọi người vì mình. Thành tựu của Tịnh độ cũng là như vậy, gia đình vì sao có thể hòa thuận? Vì cha mẹ hy sinh lo lắng cho con cái, con cái mới có thể nhận được sự chăm sóc.
Có khi khảo nghiệm đến tình cảnh của ý chí nguyện lực tâm Bồ-đề, cũng có thể là kéo thời gian dài hơn. Như “Kinh Kim Cang” nói tiên nhân nhẫn nhục gặp vua Ca-lợi, nhà vua rất giận dữ cắt xén thân thể của Ngài, cắt từng đoạn từng đoạn, thời gian đau khổ này rất dài.
Trạng thái của mỗi người khi lâm chung gặp phải không giống nhau. Có khi trong một sát-na, ví dụ như
máy bay xảy ra tai nạn, không đầy một phút hoặc chỉ có mấy phút thì đã bị rớt, có khi rất lâu, như người mắc bệnh nặng hay ung thư. Không kể thời gian lâu hay mau, ý chí nguyện lực của tâm Bồ-đề này có thể vượt qua khảo nghiệm?
  “Độc Giả Văn Trích” có lần đăng tải, về huấn luyện nhảy dù trên không, hướng dẫn học trò từ trên cao ba ngàn mét nhảy xuống, nhưng một học trò không có mở dù ra được, huấn luyện viên cố gắng cứu gúp em này, mà mình thì không kịp kéo dù nên bị rơi tan thân nát thịt.
Ba ngàn mét rơi xuống đất mới có sáu mươi chín giây. Sáu mươi chín giây đưa ra một quyết định, cứu mình hay cứu người khác?
Nếu như đại chúng niệm Phật có thể đạt được quyết tâm này, thì chắc chắn tương ưng với tâm Bồ-đề.

/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »