Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Niệm Phật tam muội nhập môn

Niệm Phật tam muội nhập môn

Tác giả: Thích Tuệ Mẫn trước tác Việt dịch Thích Vạn Lợi, Thích nữ Lệ Trúc, Thích nữ Trung Định, Thích nữ Phước Ngọc. Năm xuất bản: -. Số trang: 288.

Chương 17: Ngày Thứ Ba: Tu Tập Thiền Định (Trang 175 - 186)

NGÀY THỨ BA: Tu tập thiền định
Hôm nay là ngày thứ ba của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2006.
Ngày hôm qua giảng đến ba phần thiện căn: Thuận phước phần, thuận giải thoát phần và thuận quyết trạch phần. Điều kiện căn bản của tu tập là cần có phước phần ở một mức độ nào đó, nếu quá khổ thì rất khó tu tập. Như trong Kinh Phật nhắc đến tám loại chúng sanh học Phật rất khó khăn, gọi là “tám nạn” hoặc “tám loại khiến chúng sanh không nhàn rỗi”, không có thời gian tu tập. Vì vậy chúng sanh khổ báo nặng hơn, ví dụ như địa ngục, ngã quỷ, súc sanh và trong loài người lại bị tàn tật (đui, điếc, câm, ngọng) học Phật cũng khó khăn. Nhưng có quá nhiều phước báo, hưởng thụ quá nhiều cũng khó mà học Phật.
Vì vậy thuận phước phần là nói rõ việc chuẩn bị đầy đủ điều kiện căn bản để đủ sức tu hành.
Thiện căn của thuận giải thoát phần tức bỏ ác làm
lành, các việc ác đừng làm, các việc thiện thì vâng làm, học tập điều căn bản của giới luật.
Ý nguyện này khi thọ giới, nạp thọ giới thể đã dẫn đến sự chuyển hóa của thân tâm, như ngày hôm qua đã nói, cảm động đến nỗi dựng lông tóc.
Trong kinh có ghi, sau khi nghe chánh pháp có hiện tượng “chân lông dựng đứng”, vì “đối với giáo pháp và pháp sư sanh khởi tâm ái kính sâu sắc”, hoặc “tâm sợ hãi phạm giới đọa lạc” mà “bi thảm rơi lệ”, cũng có thể là do “sự vui mừng tột đỉnh” tùy theo sự phản ứng của thân tâm, ví dụ “Kinh Phật Thuyết Thân Mao Hỷ Thụ” quyển 3: “Lúc bấy giờ, trong hội có Tôn giả Long Hộ, cầm quạt khổng tước đứng hầu bên đức Phật. Lúc đó Ngài dựng quạt, tiến về phía trước chắp tay đảnh lễ mà bạch Phật rằng: Con hôm nay đã được nghe chánh pháp này, lông tóc dựng đứng, sanh đại hoan hỷ. Bạch Thế tôn! Kinh này có tên gọi là gì? Chúng con phụng trì như thế nào? Phật dạy Long Hộ: Chánh pháp hôm nay tên Thân Mao Hỷ Thụ, tên như 
vậy, các con nên phụng trì.”
 Hoặc “Kinh Nguyệt Đăng Tam-muội” quyển 3: “Khi nghe bậc đại trí rộng nói chánh pháp, tâm hoan hỷ đến nỗi lông tóc dựng đứng, đối với pháp vô thượng rất ái mộ có thể nhận được phước báu rộng lớn bất khả tư nghì.”
 Trong “Kinh Đại Bát Niết Bàn” quyển 3, tường thuật Tu-bạt-đà-la (Subhadda) khi nghe Đức Như Lai dạy về bát chánh đạo, “tâm sanh hoan hỷ, lông tóc dựng đứng”, tiếp đến liễu ngộ nghĩa lý bát chánh đạo, “xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh”, chứng đắc sơ quả mà phát tâm xuất gia, sau đó nghe pháp tứ đế chứng được lậu tận A La Hán.
 Ngoài ra trong Luật tạng “Ưu Bà Tắc Giới Kinh” quyển 1, cũng lấy “lông tóc đều dựng đứng, nước mắt chảy dài” làm yếu tố để phán đoán “thuận giải thoát phần”, và nói nguyên nhân “lông tóc đều dựng đứng, nước mắt chảy dài” là do nghe pháp thọ trì, nghe tam đồ khổ, trong lòng sợ hãi, kiên trì trai giới cho đến tội nhỏ 
cũng không dám hủy phạm.
 Cũng vậy, đối với cái khổ của thế giới Ta-bà có thể cảm đến sợ hãi, biết được nếu thuận theo tập khí của mình mà tiếp tục tạo nghiệp, sẽ có quả báo mà sanh sợ hãi, cảnh giác đến lông tóc đều dựng đứng.
 Những cái này đều là đặc trưng của thuận giải thoát phần.
 Từ đây có thể phán đoán phương hướng tu hành của mình có chính xác hay không?
 Ngày hôm qua nhắc đến, khi xưng niệm danh hiệu Phật, nên giống như khi thọ giới, tâm quyết định nạp thọ giới thể vậy.
Khi thọ giới, đọc bài văn thọ giới ba lần: “con đệ tử ..., quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, cần trở thành người ...”, mỗi một lần đọc thì một lần cảm động. Có khi giới sư sẽ nhắc nhở giới tử quán tưởng: Đọc lần thứ nhất là cảm giác mình có được thiện pháp thực tiễn, toàn thân rung động; Đọc lần thứ hai, cảm nhận đến thiện pháp thọ giới tích tụ trong hư không ngay trên đầu 

của mình; Đọc lần thứ ba, cảm giác thiện pháp này hình như từ trên đỉnh đầu đi xuống thân thể của mình. Ba loại quán tưởng này đã nói rõ quá trình chuyển biến nạp thọ cụ thể của thân tâm.

Như vậy chúng ta hiểu rõ vì sao những nhận thức và kinh nghiệm tinh thần này có thể đưa đến thiện căn “thuận giải thoát phần” của “tăng thượng ý lạc” (ý hướng mạnh mẽ). Loại này đối với ý hướng giải thoát có sức, có lực, sẽ dẫn phát quyết tâm “ngược dòng sanh tử”. Vì vậy “Đại Tỳ Bà Sa Luận” quyển 176, phần vấn đáp trước khi trả lời phán đoán nhân tố trồng “thuận giải thoát phần” thiện căn, có lấy ví dụ “cá nuốt lưỡi câu” để chỉ cho người trồng “thuận giải thoát phần” thiện căn. Cá tuy vẫn ở dưới nước nhưng có thể nói là đã nằm trong tay ngư phu rồi, vì chẳng bao lâu sẽ bị giật lên bờ.

 Khi đại chúng niệm Phật, mỗi lần nghe Phật hiệu, có được sự cảm động như vậy không? Chuyển biến của thân tâm cũng thế không?

 Tu tập thiền định, trí tuệ, đầu tiên cần phải có căn bản của giới luật. Ngày hôm qua đã nói, trì giới mới không có hối hận, đạt được tâm hoan hỷ. Thân tâm hoan hỷ mới có khinh an, thân tâm khinh an thì tâm mới định, tâm định thì chuyên tâm nhất trí, chuyên chú như nhất mới có thể như thật tri kiến, dẫn đến phát huy trí tuệ.
 Có tri kiến chính xác, biết thật cái gì là khổ, cái gì là vui, quá khứ cho rằng thuận theo tập khí của mình là rất vui, nhưng vui chỉ là tạm thời, sau lưng nó ẩn tàng rất nhiều sự đau khổ trong nội tâm và ngoại tại
 Tiếp đến đạt được thuận quyết trạch phần. Thuận quyết trạch phần có liên quan đến sự học tập của thiền định và trí tuệ.
 Học tập thiền định từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, đến tứ thiền có mức độ thâm sâu không giống nhau, học tập trí tuệ cũng có trình độ không giống nhau như thế.
Từ thuận quyết trạch phần có thể bước vào sơ quả, 

nhị quả, tam quả, tứ quả; Sơ địa, nhị địa, cho đến thập địa của Bồ-tát đạo, đây đều là thứ lớp tu hành căn bản.

Vì vậy, quý vị đang tu niệm Phật Tam-muội cũng nên chú ý đến hai phương hướng này, muốn giải thoát nên phá trừ ngã kiến ngã chấp, không nhất định là cần phải có thiền định cao thâm, nhưng ít nhất cũng nên có năng lực của Tam-muội. Tuy không nhất định phải đạt đến sơ thiền nhưng cũng nên gần với thiền định như đó, gần với lực chuyên chú của sơ thiền mới có thể nhìn thấy sự chấp trước thâm sâu của mình, rồi đi đến phá trừ được ngã chấp. Nếu không sẽ cho rằng mình rất có tu hành, mà thật ra ngã chấp vẫn còn gốc rễ thâm sâu.

Mỗi ngày thời khóa thứ nhất đều tụng “Kinh A Di Đà” cũng nhắc đến, chấp trì danh hiệu, xưng niệm Phật danh, đối với Phật hiệu như lý tác ý tư duy, một ngày cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn, nên có năng lực thiền định cơ bản.

Đối trị ngũ cái; Tham dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử và nghi.

Tu tập thiền định cần phải đối trị ngũ cái (năm thứ chướng ngại thiền định: Tham dục, sân nhuế, hôn trầm, trạo cử và nghi). Chướng ngại của nội tâm bao quát chướng ngại của tham dục và chướng ngại của tâm sân hận, hai loại này có liên quan trực tiếp với pháp thiện ác, lìa tham dục và tâm sân nhuế thì không còn tạo ác, hại mình và người khác.
 Hôn trầm và tán loạn là do thân tâm điều hòa không thích hợp, hoặc là do tập khí ngủ nghỉ và ăn uống không thích hợp dẫn đến. Có khi tâm quá vui mừng, tán loạn, rất khó khống chế tâm niệm của mình, nóng nảy thô tháo. Hôn trầm là tâm quá trầm lặng không có sự hưng phấn, thân tâm nặng nề, trầm trọng không thể khinh an. Tâm nghi là không có tin tưởng mình và người khác hoặc là không tin tưởng với tất cả các pháp môn tu tập.
 Một khi vượt qua những chướng ngại này, xa lìa dục, các pháp ác bất thiện, nội tâm có giác có quán, sản sanh hỷ lạc, thì có thể tiến vào sơ thiền. Tất cả những 
khoái lạc của cõi dục giới đều không so được với sơ thiền, lìa dục sẽ sản sanh hỷ lạc mới là ổn định bền lâu hơn, và sẽ không vì chấp trước tham dục mà làm tổn thương mình và người khác.
 Vì vậy khi tu tập niệm Phật Tam-muội, đối với người tu hành thiền định cần phải biết nắm bắt các yếu tố như đây: Một phương diện là lực giác quán tăng cường, quán sát những lỗi lầm của ngũ cái, dục vọng, quán sát cái khổ của thế giới ta bà. Lực quán sát càng ngày càng tinh nhuệ và bền vững. Một phương diện là lực cảm thọ, tránh xa sự lo âu chấp trước tham dục, như vậy mới có thể ly dục sản sanh sự hỷ lạc.
 Như trước đã nói, đây phải dựa vào sự hỗ trợ của giới học. Nếu như không có cách hạ quyết tâm trì giới chính xác, thì sẽ có rất nhiều sự lo âu, buồn khổ, không thể hoan hỷ, an lạc.
Sơ thiền: Vì ly dục, pháp ác bất thiện; Có giác, có quán, ly sanh hỷ lạc.
Giới có ảnh hưởng đối với ngôn ngữ và hành vi, 

tăng trưởng lực giác quán, bền vững, tinh nhuệ, bồi dưỡng lực giác quán đối với tâm lý càng vi tế hơn, cảm thọ sự hỷ lạc của ly dục, dẫn đến sự chuyển biến của thân tâm, khiến nội tâm chuyên chú (tâm nhất cảnh tánh), chế ngự tâm vào một nơi, nơi này gọi là sơ thiền (Vì ly dục, pháp ác bất thiện; có giác, có quán, ly sanh hỷ lạc, đầy đủ như vậy hành giả trụ ở sơ thiền ).

Tiến một bước nữa hành giả đạt đến nhị thiền. Lúc này do dục, pháp ác bất thiện đã giảm bớt, lực giác quán về dục, pháp ác bất thiện chuyển biến, trực tiếp do thiền định sản sanh “định sanh hỷ lạc”, lúc đó hỷ lạc càng tự nhiên, trực tiếp, vì vậy gọi là nhị thiền (Vì giác quán tịch tịnh, nội đẳng tịnh, tâm định như nhất một cảnh, không còn giác và quán, định sanh hỷ lạc, hành giả đầy đủ như vậy trụ ở nhị thiền).

Sơ thiền đối với các khoái lạc của dục giới, bao qua dâm dục khó đoạn xả nhất đều có thể xa lìa. Sự hỷ lạc của sơ thiền, vẫn phải cần trải qua lực giác quán, lực đối trị và lực viễn ly sản sanh (ly sanh hỷ lạc).

Sự hỷ lạc của nhị thiền không phải do lực đối trị sản sanh mà là xuất phát từ nội tâm, từ nội tâm sản sanh.
Tiến một bước đến tam thiền (do ly hỷ, trụ xả, niệm, chánh trí, và thọ thân chánh lạc, bậc thánh giả tuyên thuyết, thành tựu xả niệm lạc trụ, hành giả đầy đủ như vậy trụ ở tam thiền), có thể ly hỷ, tiến vào “lạc” thuần túy. Hỷ là do “nội tâm” sản sanh, vì vậy còn có tính động, đến rất nhanh, đi cũng rất nhanh. Sau khi ly hỷ, thuần túy là “thân thể” cảm thọ đến lạc, gọi là “ly hỷ diệu lạc”.
Tiến một bước, lạc cũng có thể buông xả, xả một cách thuần túy, không khổ không lạc.
Tứ thiền: Do đoạn lạc và trước đã đoạn khổ, hỷ, ưu, không khổ, không lạc, xả, niệm thanh tịnh.
  “Xả” là cảm giác trung tính nhất, vì vậy khi đến “xả”, lực kham nhẫn của thân tâm rất mạnh, đối với sự thay đổi của ngoại cảnh gây khổ vui, bao qua các điều kiện tự nhiên như: Nóng, lạnh của thời tiết, sự quấy 
nhiễu của muỗi trùng thú dữ, con người và sự việc đều có thể bảo trì sự cảm thọ của xả, tứ thiền gọi là “xả niệm thanh tịnh” (do đoạn lạc, và trước đã đoạn khổ, hỷ, ưu, không khổ, không lạc, xả, niệm thanh tịnh, đầy đủ trụ ở tứ thiền). Lúc này thân tâm điều hòa nhu nhuyến nhất, năng lượng của thân tâm có thể phát huy hoàn toàn.
Vì vậy, trong kinh Phật nói tứ thiền giống như vàng ròng, từ tạp chất trong mỏ vàng mà luyện thành vàng ròng, rất điều hòa nhu nhuyến có thể làm thành bất cứ đồ vật hữu dụng.
Do đó, khi đại chúng tu niệm Phật Tam-muội, nên biết phương hướng tu thiền định là học tập như thế nào. A Di Đà Phật!

/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »