Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Niệm Phật tam muội nhập môn

Niệm Phật tam muội nhập môn

Tác giả: Thích Tuệ Mẫn trước tác Việt dịch Thích Vạn Lợi, Thích nữ Lệ Trúc, Thích nữ Trung Định, Thích nữ Phước Ngọc. Năm xuất bản: -. Số trang: 288.

Chương 16: Ngày Thứ Hai: Thứ Tự Tu Hành Với Thiện Căn Thuận Phước Phần Và Giải Thoát Phần (Trang 163 - 174)

NGÀY THỨ HAI: Thứ tự tu hành với thiện căn thuận phước phần và giải thoát phần
Hôm nay là ngày thứ hai của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2006.
Ngày hôm qua nói rõ, Phật thất là lấy phương pháp xưng danh niệm Phật để kích thích phát khởi tâm Bồ-đề, quyết lập đại nguyện Bồ-đề hạnh, phát khởi tâm hạnh trang nghiêm cõi Tịnh độ, trang nghiêm quốc độ Phật, thành tựu chúng sanh.
Cũng giảng về khi phát tâm Bồ-đề, nên kiến lập như Bồ-tát giới đã nói, dù rằng bánh xe sắt nóng chuyển trên đầu cũng không thể quên tâm Bồ-đề. Đem tâm nguyện như vậy chuyển hóa ba nghiệp hành vi, ngôn ngữ và ý chí của nội tâm.
Cũng nhắc đến xưng danh niệm Phật và tu hành giới luật. Tâm Bồ-đề đầu tiên nên quyết lập là biểu hiện trên phương diện giới học, đây là điều căn bản nhất.
Nếu như hành vi, ngôn ngữ rõ ràng nhất mà không 

sửa đổi, nội tâm cần thay đổi thì rất khó. Hành vi, ngôn ngữ đều không nhìn thấy thanh tịnh, không có sự tiến bộ, thì khó nói nội tâm thanh tịnh, có tiến bộ.

Khi niệm Phật nhất hay Phật thất đều có nghi thức thọ bát quan trai. Bát quan trai giới là để cho hàng tại gia có cơ hội trải nghiệm cuộc sống sinh hoạt của người xuất gia trong một ngày một đêm. Nội dung giới luật gần giống như giới của Sa-di, Sa-di-ni, chỉ thiếu giới “không cầm nắm giữ vàng bạc châu báu”, vì ngày đó chúng tại gia không thể giống chúng xuất gia đi khất thực, và vẫn phải cần dựa vào tiền bạc để duy trì sinh hoạt.

Vì vậy khi niệm Phật thất, tổ chức theo truyền thống tu hành của Phật giáo, để cho chúng tại gia trong ngày này có cơ hội chuyển biến thân tâm, khiến cho thân tâm thanh tịnh, tương ưng với con đường giải thoát. Tuy vẫn chưa lập tức hành Bồ-tát đạo tự giác giác tha, nhưng ít nhất đối với đạo giải thoát cũng có thể hiểu rõ, và làm tiền đề cho bước chuyển biến về sau.

Đại sư Hoằng Nhất cũng khuyến khích chúng xuất gia có thể xác nhận giới điều của Sa-di, Sa-di-ni là căn bản nhất của mình, lấy tinh thần của tâm Bồ-đề, Bồ-tát đạo để hộ trì cho thanh tịnh hơn. Vì vậy khi thọ bát quan trai giới, chúng tại gia là “tịnh hạnh Bồ-tát” không gọi “cận sự nam, cận sự nữ”.
Trước kia, thọ giới Sa-di, Sa-di-ni trên căn bản là tâm giải thoát, bây giờ kết hợp với pháp môn niệm Phật, tức là xác định tâm Bồ-đề, để cho càng hướng thượng, càng tiến bộ. Trong Phật thất, tuy chỉ thọ giới bát quan trai nhưng hi vọng đại chúng có thể phối hợp tâm Bồ-đề phát tâm tịnh hạnh cận sự nam, cận sự nữ một cách rộng lớn, hay là phát tâm nguyện tịnh hạnh Bồ-tát này.
Vì vậy sự biểu hiện của hành vi, ngôn ngữ, từ không sát sanh cho đến ăn uống, trang phục, hi vọng hướng đến giống cuộc sống của đạo giải thoát, xả bỏ dục vọng, hoan lạc của thế tục, ít muốn biết đủ, lấy giáo pháp và thiền định làm niềm an lạc. Hi vọng buông bỏ 
sự hưởng lạc của thế tục, để tương ưng với cuộc sống sinh hoạt giải thoát của xuất thế. Nhưng đồng thời có thể phát tâm Bồ-đề hướng đến Bồ-tát đạo. Biết sự cải đổi như vậy, không chỉ là sự giải thoát cá nhân, mà còn hi vọng lợi ích chúng sanh, trang nghiêm Tịnh độ, thành tựu chúng sanh.
Khi trì giới, ít nhất cũng có tinh thần Bồ-tát đạo, Bồ-tát giới, dù rằng bánh xe sắt nóng đang xoay chuyển trên đầu cũng không phạm giới, tiến thêm hơn nữa là có khả năng đem đến lợi ích cho chúng sanh, thà xả bỏ thân mạng cũng mong muốn thực hành. Vốn không sát sanh, thêm một bước sẽ bảo vệ, cứu hộ chúng sanh. Khi thọ giới, nếu phát khởi tâm nguyện như vậy, thì tương ưng với Bồ-tát đạo, tâm Bồ-đề, tương ưng với pháp môn niệm Phật. Vì vậy quý vị nên học tập tinh thần này, khi xưng niệm danh hiệu Phật mà có sự quyết tâm như khi thọ giới, là trên phương diện giới học có sự tiến bộ.
Thứ lớp tu hành: trì giới vô hối hoan hỉ khinh an 
lạc định như thật tri kiến nhàm chán ly dục giải thoát giải thoát tri kiến.
Sự thành tựu của giới học là nguồn gốc của thiền định tam-muội, trì giới thanh tịnh đi đến không hối hận, vì chúng ta thường hay làm việc sai, làm tổn thương mình và người khác, cảm thấy hối hận đau khổ. Nhưng cũng có khi vẫn than trời trách đất, đã sai càng sai thêm, lại khởi phiền não, tạo nghiệp, thọ khổ, đây chính là thế giới ta bà. Sau khi bị khổ vẫn không biết phản tỉnh, ngược lại còn oan oan tương báo, càng lún càng sâu.
Bởi vậy khi bắt đầu trì giới, bước tiến bộ đầu tiên là không còn bị hối hận (vô hối), không hổ thẹn với lương tâm. Trong tâm không còn việc hối hận, thì tâm hoan hỉ, thân tâm sẽ khinh an. Khi niệm Phật, ít nhất cũng nỗ lực hướng về điều này, hành vi, ngôn ngữ đều rất chính xác, chuyên tâm, không hôn trầm, tán loạn, không khởi phiền não, trong lòng sẽ khởi tâm hoan hỉ.
Khi rất chuyên tâm tán kệ Phật “A Di Đà Phật thân kim sắc, tướng hảo quang minh vô đẳng luân”, không 
có hôn trầm, tán loạn, nội tâm tương ưng quang minh thanh tịnh, mỗi câu kệ tụng ra đều khởi tâm hoan hỉ.
Trong Kinh điển có ghi, trong quá khứ khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tu hạnh Bồ-tát, nhìn thấy Phật Ti-sa tướng hảo quang minh liền khởi tâm hoan hỉ, tán thán “trên trời dưới đất không có ai như Phật, mười phương thế giới cũng không sánh bằng, những gì mà tôi thấy ở thế gian, tất cả không có ai được như Phật”. Ngài cứ tán bài kệ này, rất hoan hỉ đến nỗi quên đi sự mệt mỏi của thân tâm, đứng một chân, chăm chú chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, mắt chưa từng chớp, trong bảy ngày bảy đêm chỉ tán thán Phật. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vì sự tinh tấn, công đức tán Phật này mà tu Bồ-tát đạo đã vượt qua chín kiếp.
Khi hoan hỉ, thân tâm sẽ khinh an, dễ dàng quên đi sự mệt mỏi. Vì vậy quý vị xưng danh hiệu Phật, hoặc là công đức tán Phật, nếu có thể phát khởi được tâm hoan hỉ, thân tâm sẽ được khinh an, tâm được định, mới có thể chuyên chú. Nếu như khi niệm Phật, thân tâm nặng 
nề sẽ dễ dàng khởi phiền não, rồi tạo nghiệp, thọ khổ. Ngược lại nếu như thân tâm khinh an, sau khi tâm định sẽ có sự an lạc, an lạc mới có thể khiến cho tâm càng thêm ổn định.
Vì vậy khi ở sơ thiền gọi là “định ly sanh hỷ lạc”, xa lìa những dục vọng của các giác quan đem đến, sẽ không khởi phiền não tạo nghiệp thọ khổ, mắt không tham sắc, tai không tham tiếng, mũi không tham hương, lưỡi không tham vị, thân không tham xúc, có được niềm vui trong nội tâm (hoan hỉ và an lạc), lúc này thân tâm sẽ an định.
Thân tâm khinh an và lực tập trung chú ý sẽ hỗ tương tăng trưởng. Nếu như càng niệm càng khinh an, tâm sẽ càng chuyên chú. Tâm càng chuyên chú, thân tâm sẽ càng khinh an. Hai thứ này nảy sinh sự hỗ tương hoạt động một cách tốt đẹp.
Ngược lại, khi thân tâm nặng nề sẽ buồn phiền bực bội, càng buồn phiền thân tâm sẽ càng nặng nề, nếu không hôn trầm thì tán loạn, dần dần sanh khởi tham 
dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử và nghi hoặc, năm loại chướng ngại này khiến cho thân tâm càng nặng nề hơn.
Sau khi tâm định mới có thể có trí tuệ, có thể quán chiếu rõ ràng. Nhìn rõ ràng tất cả những tham luyến ở thế giới ta bà trong quá khứ, trên sự thật là một con đường khổ, tuy hưởng lạc nhưng cũng vô thường, biến hóa trong sát-na.
Càng ham vui, hưởng lạc thì sẽ càng không biết đủ, càng không biết đủ thì càng khổ, hình như không có sự khoái lạc ổn định vĩnh viễn. Sau khi hưởng lạc sẽ suy hơn tính thiệt, có tiền rồi sẽ nghĩ cách làm cho có nhiều tiền hơn, hoặc là sợ mất đi những gì đã có, không nhất định là có an lạc. Nhìn không thấu suốt sự vô thường của thế giới ta bà, không biết vô thường khổ, không biết vô ngã, ngã chấp rất nặng nề đó là thế giới ta bà.
Nếu như có thể nhìn rõ ràng, thấu suốt buông bỏ, thì có thể thoải mái tự tại, mà có thể tiến một bước nữa đem đến lợi ích cho chúng sanh. Thế giới của tâm lợi 

tha là thế giới Cực Lạc, là cõi Tịnh Độ, quốc độ Phật, mỗi người đều nên vì người khác mà suy nghĩ.

Nhìn rõ ràng sự khác biệt của thế giới Ta-bà và Cực lạc, thì sẽ chán ghét cõi Ta-bà, vui thích hướng về Tây phương. Tâm quyết định này giống như tâm lúc thọ giới vậy. “Kinh A Di Đà” nhắc đến: “không thể thiếu thiện căn, phước đức, nhân duyên được sanh về cõi Tịnh Độ”. “Thiện căn” có thể nói là ba loại thiện căn không tham, không sân, không si. Tiến bước nữa là thiện căn của thuận phước phần, thuận giải thoát phần và thuận quyết trạch phần.

“Thuận phước phần” là phước nghiệp do bố thí, trì giới, tu bốn vô lượng tâm v.v..., cảm được quả tốt đẹp ở thế gian (sanh cõi người, cõi trời) cải thiện điều kiện sinh hoạt thế tục. Giống như hôm nay mọi người có nhân duyên đến tham gia Phật thất, ít nhất đều có phước đức nhân duyên đầy đủ đến một mức độ nào đó mới có thể đến, nếu như gia đình xã hội không ổn định, ba bữa còn thiếu, ăn mặc đi đứng đều chưa đủ thì không thể đến tham gia Phật thất được.

Tướng của thuận phước phần: Lông tóc dựng đứng, bi thảm rơi lệ.
“Thuận giải thoát phần” tức là “loại chủng tử quyết định giải thoát. Nhân quyết định này mà đạt đến niết-bàn”, là “tăng thượng ý lạc” của “vui cầu niết-bàn, chán ghét sanh tử”. Ở nơi tướng chủng tử (ý lạc) giải thoát trong thân thể của chúng sanh; tuy là tính nội tại, vi tế khó biết, nhưng có thể từ hiển thị bên ngoài dễ dàng quan sát đến sự biến hóa của thân tâm, để phán đoán người tu hành đã trồng hay chưa trồng thiện căn “thuận giải thoát phần”? Ví dụ: Đối với pháp và pháp sư sanh khởi tâm ái kính sâu sắc, nếu khi nghe bạn lành nói chánh pháp thì chân lông dựng đứng, bi thảm rơi lệ, chán ghét sanh tử, vui cầu niết bàn. Hiện tượng “chân lông dựng đứng” này, có thể vì đối với pháp lành, hay sự “ái kính” người tốt, hoặc đối với sự “sợ hãi” pháp xấu (phạm giới đọa lạc) mà “bi thảm rơi lệ”, cũng có thể là vì sự phản ứng của thân tâm đối với (hoan hỉ vui

vẻ vượt bực) pháp lành và người tốt.

Không biết đại chúng có kinh nghiệm đó không? Khi nhìn thấy việc rất cảm động tốt đẹp, như nhà khoa học phát hiện chân lý, hoặc là khi có phát hiện mới, rất vui vẻ phấn khởi. Nhìn thấy người khác có tâm tốt có việc làm vĩ đại, hoặc nhìn thấy sự vật đáng quý, cảnh tượng trang nghiêm, cũng sẽ cảm động đến chân lông đều dựng đứng.

Trong Kinh sách có nói đến, khi thọ giới nếu như có được cảm giác đó, ví dụ khi thọ bát quan trai quý vị đọc đến: “Con tên .... một ngày một đêm, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng” (giới thể của năm giới tồn tại đời này, còn giới thể của Bồ-tát giới tồn tại cả đời đời kiếp kiếp), trở thành tịnh hạnh, cận sự nam năm giới hay bát quan trai giới. Nương theo xưng niệm danh hiệu tam bảo, nạp thọ giới thể. Quyết tâm, tâm nguyện thọ giới, khiến cho người khi nạp thọ pháp lành, pháp thanh tịnh, hoan hỉ khiến cho chân lông toàn thân đều dựng đứng.

Nhân đây chúng ta có thể hiểu vì sao những nhận thức và kinh nghiệm tinh thần này có thể dẫn đến việc nảy sinh thiện căn “thuận giải thoát phần” của “tăng thượng ý lạc” (ý chí mạnh mẽ). Chí hướng giải thoát có sức có lực, sẽ dẫn phát quyết tâm “nghịch lưu” (ngược dòng sanh tử), vì vậy “Đại Tỳ Bà Sa Luận” quyển 176, phán đoán nhân tố trồng “thuận giải thoát phần” thiện căn, có lấy ví dụ “cá nuốt lưỡi câu” chỉ cho thiện căn “thuận giải thoát phần”, như cá tuy vẫn ở dưới nước nhưng có thể nói là đã nằm trong tay ngư phủ rồi, vì chẳng bao lâu sẽ bị bắt lên bờ.
Nhân đây khi đại chúng niệm Phật, ít nhất là phải thực hiện được tâm hoan hỉ, quyết định tâm thọ giới như đã vừa nói, đây là bước đầu đã vào đạo rồi.

/26
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »