NGÀY THỨ SÁU: Đặc trưng của tâm Bồ-đề: 4. Đại xuất ly.
Hôm nay là ngày thứ sáu của kỳ Phật thất thứ nhất năm 2007.
Những ngày qua đã giảng rõ về ba đặc trưng của tâm Bồ-đề: Đại dõng mãnh, đại phương tiện, đại lợi ích. Phối hợp dõng mãnh tinh tấn với phương tiện thiện xảo đưa đến lợi ích lâu dài tự lợi lợi tha, lợi ích cho số đông vì vậy gọi là đại lợi ích.
Còn đặc trưng thứ tư của tâm Bồ-đề là “đại xuất ly”, cũng là “đại Bồ-đề” thành Phật cao hơn sự giác ngộ Bồ-đề của Thanh văn, Duyên giác.
Phần trên đã nói đến đại tinh cần, đại phương tiện là từ hành vi của chúng sanh. Đại lợi ích là đứng từ góc độ lợi ích, còn thành tựu Bồ-đề là đứng từ góc độ kết quả.
Bốn loại đặc trưng này quy nạp lại, có thể bao quát được: Nhân duyên phát tâm Bồ-đề và đối tượng phát tâm Bồ-đề.
Khi đối diện với đối tượng nào sẽ khiến chúng ta phát khởi tâm Bồ-đề? Tổng quát có hai loại lớn: Loại thứ nhất là “không nhẫn chịu nổi khi thấy chúng sanh đau khổ”; Loại còn lại là vì sự quyết tâm giác ngộ. Hay chúng ta thường nói: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Muốn giữ gìn tâm Bồ-đề không thối chuyển, phải có hai động cơ, động lực này.
Thông thường phát tâm của người thế tục, cũng có thể nhận ra hai năng lượng này. Nhỏ từ lợi ích con cái cha mẹ ông bà trong gia đình. Vì vậy từ gia đình đến xã hội, quốc gia, cả toàn nhân loại, đều là duy trì theo hai nhân duyên trên.
Tám phương pháp đối trị năm sự lỗi lầm.
Ngoài ra bổ sung thêm phần đại tinh tấn có nhắc đến sự đối trị, đối trị này đặc biệt là khắc phục các chướng ngại liên quan đến thiền định, bát nhã. Đem tám phương pháp đối trị năm sự lỗi lầm, để có thể đạt
được dù thâm sâu, khó hành, thời gian dài nhưng vẫn thành tựu. Vì vậy trong “Biện Trung Biên Luận” nói: “Diệt trừ năm lỗi lầm, cần tu tám phương pháp. Năm lỗi lầm là: 1. Giải đãi, 2. Quên lời dạy của thánh hiền, 3. Hôn trầm trạo cử, 4. Bất tác hành, 5. Tác hành. Vì đoạn trừ giải đãi, nên tu tập: 1. Dục, 2. Cần, 3. Tín, 4. An, là các phương pháp tu đối trị để đạt được kết quả. Để diệt trừ bốn lỗi lầm còn lại, nên tu tập: 5. Niệm, 6. Trí, 7. Tư, 8. Xả, ký ngôn, giác trầm cử, phục hành và diệt đẳng lưu.”
Tu tập định và huệ chướng ngại lớn nhất là giải đãi. Cần phải nương nơi bốn thiện pháp “tín tâm, dục, cần, khinh an” để đối trị. “Tín” có liên quan với tín tâm. “Dục” chỉ cho mong muốn về thiện pháp, tâm nguyện cầu đạt thành tựu. “Cần” tinh cần. “Khinh an”, tinh cần cần phải phối hợp với khinh an, nếu không thì không dễ lâu bền. Ví dụ: Phật thất được ba ngày, buổi tối tiếp theo sẽ thêm thời khóa, nếu thân tâm mệt mỏi, sẽ không chịu được, lúc này cần phải nương nơi năng lượng của
khinh an để duy trì. Ở trong tám phương pháp đó có bốn loại năng lượng như trên đã nói dùng để đối trị sự lỗi lầm do “giải đãi” tạo ra.
Lỗi lầm thứ hai là quên mất Phật pháp, quên đi lời dạy của Thánh hiền. Khi niệm Phật rất dễ quên mất chánh niệm, quên mất Phật hiệu, Phật tâm, Phật pháp. Cần phải nương chánh niệm để nhắc nhở.
Lỗi lầm thứ ba là trạo cử và hôn trầm. Tâm nếu không quá xôn xao thì lại hôn trầm. Hôn trầm và trạo cử cần phải nương chánh trí, giác trí, lực quán chiếu để đối trị. Khi chúng ta niệm Phật, nên bắt đầu từ quán chiếu thân nghiệp, kế đến ngữ nghiệp, vì hành vi, tư thế, ngôn ngữ âm thanh là dễ dàng quan sát nhất.
Khi ngồi, đầu, thân thể không đoan chánh, tán loạn và hôn trầm, tư thế rất dễ dàng biến đổi theo. Tiếng niệm Phật cũng theo đó mà tán loạn.
Mỗi thời khóa quý vị cùng nhau tu tập, cũng giống như mọi người đồng tâm hiệp lực đẩy một chiếc xe, hay cùng nhau chèo thuyền vậy. Khi niệm Phật, âm thanh
năng lượng của mỗi người đều đúng mức thì chiếc xe này có thể đẩy lên phía trước. Nếu như mỗi người đều nghĩ: “Dù sao có người khác đẩy, mình không đẩy cũng không sao”. Giả bộ đẩy, nhưng thật ra không có dùng sức. Hoặc là một bên quá dùng sức, còn một bên thì không, chiếc xe này sẽ bị đẩy lệch qua một bên.
Âm thanh đại chúng niệm Phật và năng lực đẩy xe giống nhau, từ bài tán Phật bắt đầu của mỗi thời khóa, từ từ dùng sức, lại dùng sức, từ sáu chữ Nam mô A Di Đà Phật, đến bốn chữ A Di Đà Phật, càng lúc càng nhanh, càng lúc càng thuận, thì sẽ đạt được mục đích. Như khi chèo thuyền, mỗi người đều đem hết sức lực của mình, thuyền càng chèo càng nhanh, thì thuận lợi đạt đến mục đích. Tu hành cũng như thế, mọi người dễ dàng đạt đến tự lợi lợi tha.
Những lỗi lầm trong quá trình tu hành, có hai yếu tố cuối cùng là “bất tác hành” và “tác hành”. “Bất tác hành”: Điều nên làm lại không làm, phải nương vào “tư”, nương nơi ý chí nghị lực để đối trị khắc phục.
Ngược lại, không nên làm lại làm “tác hành”, cần phải nương vào “xả”, dùng tâm xả để đối trị.
Ví dụ: Việc nên làm trong điện Phật, là làm không dư cũng không thiếu. Nên niệm đúng nơi đúng chỗ, không dư mà cũng không thiếu một câu. Có một số người cho rằng: Trong tâm an định là được rồi, không niệm ra tiếng mới gọi là thiền định, nên vậy cứ không niệm Phật ra tiếng. Trong thiền đường có thể là như vậy, đây là phương pháp tu hành của họ. Nhưng trong điện niệm Phật, niệm ra tiếng là nên làm nhưng không làm, thì thuộc “bất tác hành”, cần phải đối trị cải thiện.
Tôi luôn nhắc nhở mình mỗi ngày từ sáng tới tối, giữ thân, khẩu, ý, ba nghiệp cho thích đáng, việc nên làm không thể thiếu; Việc không nên làm thì không được làm. Không hơn một phần không thiếu một việc, như vậy sẽ dễ dàng thể hội đến “pháp vô vi”, bởi vì “vô vi” không phải là “không làm”, mà “làm” một cách phù hợp nhất. Không làm nhiều mà cũng không làm ít, không bị trói buộc nơi hiện tượng sanh diệt của “pháp hữu vi”.
Đặc trưng của sự thành tựu thiền định và trí tuệ là khiến cho thân khẩu nghiệp của chúng ta có thể đạt đến nơi thích hợp. Phàm phu phiền não nhiều không biết chân lý các hành vô thường, các pháp vô ngã, đối với hành vi không nên làm, không nên nói, ý niệm không nên khởi, lại làm xằng bậy, nói vớ vẫn, nghĩ lung tung. Ngược lại, họ không làm, không nói, không nghĩ những điều nên làm, nên nói, nên nghĩ. Hai tình huống trên đều bị ràng buộc bởi hiện tượng sanh diệt, khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ khổ của “pháp hữu vi”.
Tất cả những lỗi lầm khi tu tập gặp phải và tám loại phương pháp đối trị đã nêu ra như trên.
Tâm Bồ-đề phải cần thời gian dài để tích lũy, do đó thâm sâu, khó hành; những lỗi lầm của việc tu hành cũng phải cần thời gian dài để đối trị.
Các yếu tố để thắng nghĩa tâm Bồ-đề phát sanh: Chủng tử (tín giải), sanh mẫu (trí tuệ), thai tạng (thiền định), nhũ mẫu (đại bi)
Đối với việc phát sanh thắng nghĩa, đệ nhất nghĩa tâm Bồ-đề như thế nào? Trong Kinh điển lấy việc sanh con nuôi dưỡng để làm ví dụ. Việc nuôi dưỡng con cái từ chủng tử bắt đầu. Tín giải lực, thắng giải lực thì giống như chủng tử. Chủng tử phải cần có người mẹ, trí tuệ bát nhã tức là người mẹ, vì vậy, “bát nhã” được xem là mẹ của chư Phật. Có trí tuệ mới có thể sanh khởi được tâm Bồ-đề.
Có tâm tín giải, có bát nhã, vẫn cần có một nơi hàm chứa thai tạng của tâm Bồ-đề, giống như tử cung mang thai, đây cần phải nương sự an lạc của thiền định. Năng lực an lạc của Tam-muội giống như nơi mang thai rất ổn định. Do đó thiền định ba-la-mật có thể khiến cho tâm Bồ-đề yên ổn. Tu tập niệm Phật Tam-muội, cần phải phối hợp sự chuyên chú và khinh an với nhau. Chuyên chú, khinh an sản sanh hỷ lạc, hỷ lạc của việc tu hành. Sự hỷ lạc của việc tu hành giống như thai tạng bền vững, an định.
Vì vậy bảy ngày này, quý vị nếu không đạt được
hỷ lạc, pháp hỷ, thiền duyệt, cho rằng bảy ngày này không đạt được gì, chi bằng ở nhà hưởng thụ tốt hơn, từ đó mà sinh phiền não, buồn bã. Như vậy thì rất khó ổn định. Trường kỳ thực hành Bồ-tát đạo cũng như vậy, việc khó làm có thể làm, mà còn làm trong vô lượng kiếp, đây cần phải nương vào niềm an lạc của việc tu hành. Người thế tục cũng biết để có thể giúp đỡ mọi người trong thời gian dài, tất phải tin tưởng “giúp người lấy sự vui vẻ làm đầu”. Giả như giúp người không có sự vui vẻ gì, không khẳng định được niềm vui này, thì rất khó duy trì tiếp tục.
Thai nhi sau khi sanh ra, cần có sữa mẹ để nuôi dưỡng. Tâm đại bi cũng giống như sữa mẹ. Do vậy toàn bộ tâm Bồ-đề cần có bốn nhân duyên lớn (thắng giải, thiền duyệt, trí tuệ, từ bi). Trí tuệ như mẹ đẻ, từ bi như sữa mẹ, tín giải lực và thắng giải lực là chủng tử, cái vui của thiền duyệt và thiền định là thai tạng. Những tư lương Bồ-đề tích lũy trong bảy ngày này, nên tiếp tục duy trì, hướng tâm Bồ-đề phát triển đến đệ nhất nghĩa
đế, thắng nghĩa đế, và phải biết duy trì phát huy bốn loại nhân duyên này.
Quý vị trong bảy ngày này là dựa vào nghi thức niệm Phật, đây là nhân duyên trên sự tướng, từ buổi sáng thời khóa thứ nhất đến thời khóa cuối cùng, mỗi thời khóa dựa vào nhân duyên nghi thức cùng nhau tu tập để duy trì cho mình và mọi người, từng bước từng bước tiến lên phía trước. Nhưng đây là nhân duyên thế tục, thế tục có sanh có diệt. Tiến một bước ở phương diện đệ nhất nghĩa đế, nên duy trì tâm Bồ-đề không cho thối chuyển, luôn bồi dưỡng bốn thứ nhân duyên này.
Đối với tín giải lực của Phật pháp đại thừa, không luận là Phổ Hiền mười đại nguyện vương, hoặc là thắng giải lực tứ hoằng thệ nguyện (chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành), còn phải có trí tuệ bát nhã vô tướng vô trụ; Thai tạng của cái lạc thiền định; Dòng sữa mẹ của tâm đại bi để bồi dưỡng tâm Bồ-đề.
Đối với tâm từ bi, tâm đại bi, cuối cùng mình đã phát huy đến trình độ nào, có thể từ sự đối diện với chúng sanh không đồng để quan sát, pháp môn Tịnh độ gợi ý chúng sanh đối với cửu phẩm, bao quát từ thượng thượng phẩm đến hạ hạ phẩm, bất luận là thân thuộc hay oan gia, đều đem tâm từ bi như nhau.
Nói ra thì rất dễ dàng, nhưng quý vị từ trong đời sống hàng ngày mà quán sát cẩn thận xem những gì đã gặp, thì sẽ biết mình có thể phát huy đến trình độ nào.
Trong ngày thường, đối với oán gia kẻ thù địch thì không dễ phát khởi tâm từ bi. Mọi người thường cho rằng mình có thể làm được, nhưng khi cùng với người khác, kể cả đồng nghiệp, người hàng xóm v.v..., nảy sinh liên quan đến lợi lộc thì rất khó mà phát khởi tâm từ bi.
Trong “Độc Giả Văn Trích” xuất bản tháng 2 năm 2007 đã ghi một câu chuyện có thật. Ở Canada trong gia đình, chồng là luật sư, có hai người con gái song sinh đang học mẫu giáo. Gia đình sinh sống rất hạnh
phúc mỹ mãn. Vào một ngày nọ, người hàng xóm chuẩn bị đi du lịch, nên nhờ họ: “Nhà có đứa thanh niên, tôi đi không yên tâm, nhờ anh coi dùm tôi một chút”. Gia đình này liền đồng ý.
Tối hôm đó, người chồng vì ý thức trách nhiệm nên đi qua nhà hàng xóm xem chừng, lúc ấy cậu thanh niên lợi dụng khi cha mẹ không có ở nhà đã mở vũ hội, hơn một trăm đứa thanh niên ở trong nhà cuồng loạn, uống rượu, hút thuốc phiện, sử dụng thuốc lắc, cả ngôi nhà mờ mịt âm u.
Vị luật sư này rất có trách nhiệm nên khuyên: “Các cháu mau về nhà đi, trời tối rồi, đừng có uống rượu say dễ sanh chuyện v.v...” không ngờ cả một đám thanh niên liên hiệp lại đánh chết ông ta.
Nghĩ xem, nếu như bạn là người vợ luật sư, chồng mình vô duyên vô cớ bị đánh chết, để lại cặp song sinh đang học mẫu giáo, quý vị đối diện với vấn đề này như thế nào? Làm sao phát tâm từ bi?
Ngày mai sẽ thảo luận tiếp.