NGÀY THỨ BA: Cảm thọ và năng lực quyết định
Thời khóa thứ 2, ngày thứ hai của kỳ Phật thất thứ hai năm 2005 (ngày 29 tháng 01 năm 2005 tức ngày 20 tháng 12 Âm lịch).
Như hôm qua đã nói, lúc niệm Phật, ngoài nghiệp của thân như những động tác, tư thế, hành vi còn có sự hiện hữu của âm thanh, ngôn ngữ, hơi thở, tất cả có liên quan đến thân niệm trụ.
Ví dụ: khi thọ giới, thân nghiệp thể hiện ra như quỳ thẳng chắp tay, miệng xướng bài văn Tam quy y để xác định và nạp thọ giới thể (biểu hiện thay thế cho tâm nguyện thuộc vô biểu nghiệp không nhìn thấy).
Hôm nay sẽ tiếp tục giảng về phần cảm thọ. Lúc các giác quan đối với ngoại cảnh, sáu căn tiếp xúc với sáu trần, mắt tai mũi lưỡi thân ý với sắc thanh hương vị xúc pháp, sẽ phát sinh cảm thọ; Giữa tiếp xúc và cảm thọ có một nhân tố ở khoảng giữa, đó là tác ý.
Năm tâm sở biến hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư)
Trong tác dụng của tâm sở, có năm loại: Xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư, chuyển biến khắp trong tâm của chúng ta nên gọi là năm biến hành. Khi đến tư thì sẽ có tạo tác, suy nghĩ và quyết định. Quyết định thực hiện thiện pháp hay ác pháp, quyết định ở thế giới Ta bà hay thế giới Cực lạc. Tâm sở tư (suy nghĩ, quyết định) cũng là bản chất của giới thể.
Giới thể là năng lực quyết định của thiện pháp, khi chúng ta tiếp xúc với ngoại cảnh, sáu căn đối với sáu trần, giới thể có tác dụng ngăn điều ác, dứt lỗi lầm. Khi đó nó sẽ quyết định làm hay không làm.
Cũng như vậy, việc chúng ta nương vào danh hiệu Phật để xưng niệm chẳng phải để kiến lập tâm Bồ-đề, chẳng phải để nạp thọ giới định tuệ của Bồ-tát, tâm nguyện của lục độ vạn hạnh sao? Đây chính là nội dung của “Tác nguyện” trong “Vãng Sanh Luận”.
Xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư tác dụng của năm tâm sở
này phổ biến trong tất cả pháp, bất luận là pháp thiện hay pháp ác, phiền não hay giải thoát. Năm tâm sở này đều bị tâm vương thiện hay tâm vương bất thiện điều khiển, một khi đã có chí hướng không giống nhau thì sẽ đưa đến cảnh giới không giống nhau. Tâm vương cũng tựa như người chỉ đạo diễn xuất cho các diễn viên như tâm sở, phối hợp với những tình tiết của vở kịch, từ đó sẽ thấy được nội dung của vở kịch là bi kịch, hỷ kịch hay nói cách khác là Ta Bà hay Cực Lạc.
Đạo diễn chỉ đạo biểu hiện ra bên ngoài như thân nghiệp khẩu nghiệp, những hành vi, động tác, tư thế, âm thanh, hơi thở thể hiện ra, điều cần truyền đạt trước hết chính là cảm thọ.
Cảm thọ cần có xúc và tác ý (sự chú ý) là điều kiện để sanh khởi các tác dụng khác. Xúc và tác ý, tác dụng của hai tâm này luôn luôn hỗ tương qua lại và tồn tại. Sau khi tiếp xúc, sự chú ý ở đâu sẽ đưa cảm thọ đến nơi đó. Có sự chú ý mới có sự tiếp xúc, nếu không có sự chú ý sẽ không có sự tiếp xúc, giống như nhìn mà
không thấy, nghe mà không hiểu. Vì vậy có một số Kinh điển cho rằng năm loại tâm sở, “xúc” phát sanh trước còn “tác ý” phát sanh sau, nhưng cũng có Kinh điển cho rằng “tác ý” phát sanh trước còn “xúc” phát sanh sau.
Từ xúc, tác ý đến thọ, tưởng, tư (quyết định hoặc ước nguyện, phát tâm nguyện Bồ-đề), tất cả những điều này có liên quan với nhau. Đầu tiên khi niệm Phật tâm niệm Phật và danh hiệu Phật có tiếp xúc với nhau không? Có chú ý hay không? Nếu chỉ miệng đọc mà không có tâm thì cũng như không niệm gì cả.
Đại chúng niệm mỗi một danh hiệu Phật, trước phải cảm nhận đã tiếp xúc, đã chú ý đến danh hiệu hay chưa. Nếu chưa có thì thọ và tưởng cũng đừng nên nghĩ tới. Không thể nào có thọ, tưởng, tư ở thế giới Cực lạc, khi không thể phát khởi được Bồ-đề nguyện lực và lòng tin vãng sanh về Tịnh độ.
Lòng tin một khi đã không còn, thì tùy theo phiền não tạo nghiệp, nghiệp lực thọ khổ, theo tập khí trong
quá khứ dẫn dắt, rồi thọ, tưởng, tư trong cõi Ta Bà theo đó mà luân chuyển trong luân hồi không ngừng nghỉ.
Khi niệm Phật, tâm niệm và danh hiệu Phật được niệm, có tiếp “xúc” nhau hay không? Loại tiếp “xúc” này là vô minh hay sáng suốt, vi diệu hay thô thiển, tán loạn hoặc hôn trầm, tham hoặc sân, hoài nghi hay tín tâm, tất cả tự bản thân phải nhận ra và chú ý chọn lọc.
Danh hiệu Phật là đối tượng cần nắm bắt và tiếp xúc. Giả sử danh hiệu Phật là một âm thanh thì khi tiếp xúc là thính giác. Xúc tạo ra bởi thính giác sẽ có khả năng sinh ra thiện pháp về thọ, tưởng, tư. Giả sử đối tượng là thị giác, khứu giác, vị giác v.v... cũng như vậy.
Những danh hiệu Phật được niệm và sắc, thanh, hương, vị, xúc (tiếp xúc của thân thể) pháp có rõ ràng minh bạch hay không? Là khi niệm những danh hiệu Phật có cảm xúc đến hay không? (Danh hiệu Phật là thân, khẩu, ý tam nghiệp của Phật A Di Đà).
Có phải thế giới mà chúng ta được nhìn thấy như nhìn thấy Phật A Di Đà ở trước mắt hay không? Khi
niệm cảm nhận như Phật A Di Đà cùng chúng ta niệm hay không? Giả sử quý vị có cảm thọ như vậy, mới tính là bắt đầu nhập vào thọ niệm trú.
Cảm nhận Phật A Di Đà ngay trước mắt
Đại chúng suy nghĩ, giả sử Phật A Di Đà ở ngay trước mắt, tự nhiên chúng ta sẽ có tâm cung kính, tôn trọng, lễ bái, tán thán, và không có tâm hôn trầm, tán loạn cũng như khó mà có phiền não hiện lên. Ánh sáng từ bi, ánh sáng trí tuệ của Phật A Di Đà nhiếp thọ soi sáng, khiến thân tâm chúng ta được nhu nhuyến.
Tự mình kiểm nghiệm lại có chân chánh đang niệm Phật, có cảm xúc đến Phật A Di Đà, niệm đến sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp ở cõi thế giới Cực lạc hay không?
Nếu tự mình không có cảm thọ thấy nghe thì lấy gì để hồi hướng “nếu có người thấy nghe, đều phát Bồ-đề tâm”? Tự bản thân đã không nghe không thấy thì làm sao có thể khiến cho người khác thấy nghe được chứ. Di Đà tự tánh của chính mình mà tự mình không thấy
nghe đến, làm sao người khác có thể thấy nghe đến được.
Nghe thấy là đại biểu của mắt và tai, khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, con người có thông tin từ thị giác và thính giác chiếm phần lớn các giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh. Vì vậy hệ thống giáo dục ở nhà trường phần lớn lấy thị giác và thính giác làm chính, nhằm muốn đạt tới hiệu quả, nhà trường đã phát huy cách tiếp thu từ thị giác và thính giác nên xây dựng tổ chức học trong các phòng nghe nhìn.
Tiếp xúc là một loại của thân thể. Phật giáo nói “thân” là chỉ cho một loại hợp thể, bao gồm hợp thể của sắc thân, hợp thể của âm thanh, hợp thể của hô hấp (thân hô hấp) và tập hợp thể của xúc (thân sáu xúc).
Sau sáu thân xúc sẽ đưa đến sáu thân thọ (tập hợp thể của cảm thọ), khi niệm Phật cảm thọ là điều kiện then chốt sẽ sản sanh tưởng và tư (sáu thân tư).
Biến hóa liên tục từng sát na của năm tâm sở biến hành rất nhanh. Nếu lơ là không chú sẽ không nắm bắt
được sự biến hóa của thọ, tưởng, tư và rất dễ dàng thuận theo tập khí ở quá khứ mà lưu chuyển. Thật khó chuyển đổi lối mòn của cảm thọ, tưởng tượng, suy nghĩ và quyết định trước kia.
Vì vậy, trong mỗi tiếng niệm Phật, hy vọng đại chúng có thể nắm bắt suốt quá trình phân tích, thay đổi; còn không sẽ khó mà tự mình chuyển hóa.
Đối với xúc hoặc thọ, hôm qua đã kể về Đại sư Thiện Đạo tổ của Tịnh độ tông, khi Ngài niệm Phật, chúng sanh cảm nhận mỗi tiếng niệm Phật, từng ánh hào quang phát ra từ kim khẩu của Ngài. Còn Đại sư Thiểu Khang cho chúng sanh cảm nhận mỗi tiếng niệm Phật, xuất hiện mỗi tượng Phật. Cảm thọ này sẽ nảy sanh tưởng, tư và lực quyết định. Khi vô thường đến, lực quyết định này sẽ quyết định bản thân đi về ba đường ác đạo hay là cõi trời người? Là giải thoát đạo hay Bồ-tát đạo?
Tu hành theo pháp môn Tịnh độ, rất chú trọng lúc lâm chung. Là nhất tâm bất loạn mà hướng về con
đường Bồ-tát, hướng đến con đường vãng sanh Tịnh độ, hoặc là đi con đường ba ác đạo, hoặc con đường ở thế giới Ta bà?
Lúc lâm chung là ranh giới quan trọng của sanh tử. Nhưng lúc lâm chung trong pháp môn Tịnh độ, không phải chưa biết trong vị lai, mà chính là mỗi thứ trong ngày chúng ta đối diện chọn lựa, tất cả đều liên quan mật thiết tới lúc lâm chung.
Hằng ngày chúng ta thường làm những quyết định và lúc lâm chung cũng làm những quyết định giống nhau, vì thói quen sẽ khiến như vậy. Hằng ngày quen quyết định như thế nào, thì lúc lâm chung sẽ giống như thế đó, điều đó gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực tuy kiên cường nhưng có thể nhờ vào niệm lực và nguyện lực mà chuyển hướng.
Giải thoát sanh tử không phải đợi tới lúc lâm chung, mà trong mỗi niệm mỗi niệm có thể nhìn thấy rõ sự quyết tâm giải thoát.
Sự quyết định của pháp sư Thường Mẫn
Vào đời Đường có pháp sư Thường Mẫn, sau khi xuất gia chuyên tu pháp môn niệm Phật, học tập và thuyết giảng các kinh luật luận. Đến tuổi trung niên, Ngài phát nguyện đi Ấn Độ chiêm bái, học tập Phật pháp. Ngài cùng một vị đệ tử từ Trung Quốc đi theo đường biển hướng về Ấn Độ. Ngài phát nguyện: “Nguyện lễ bái thánh tích Như lai, đem phước đức thù thắng này hồi hướng cho chúng sanh”.
Khi thuyền đến biển Nam Hải gần Malaysia, cập bến nhập thêm hàng hóa và tiếp tục cuộc hành trình đến Ấn Độ. Đi được nửa đường lúc đó xuất hiện trận bão lớn, vì muốn tránh lật thuyền, thuyền trưởng đã ra lệnh vứt bỏ tất cả hàng hóa; song sóng gió rất dữ dội, con thuyền sắp chìm. Nhưng thuyền cứu hộ lại rất ít, mà ai cũng tranh dành lên thuyền, dẫn đến sát hại lẫn nhau. Lúc bây giờ thuyền trưởng là Phật tử, nên ông nhường vị trí chiếm được cho pháp sư Thường Mẫn, thúc dục Ngài lên thuyền.
Quý vị giả sử đặt mình vào hoàn cảnh đó nghĩ xem, thuyền sắp chìm, thuyền cứu hộ lại rất ít, thử lúc đó chúng ta sẽ quyết định sao? Chúng ta sẽ nghĩ ra biện pháp lựa chọn nào? Một số người sẽ nghĩ: “nếu không lên thuyền cứu hộ, tôi sẽ cùng với chiếc thuyền định mệnh này chìm xuống đáy biển mà thôi” hoặc nghĩ “tôi chưa thành tựu niệm Phật Tam-muội, chưa đạt đến nhất tâm bất loạn, nếu giờ bị chìm xuống biển, làm sao có thể vãng sanh đây v.v...” có hàng vạn lý do khiến bản thân không thể bỏ lỡ cơ hội để thoát chết.
Pháp sư Thường Mẫn chắc cũng nghĩ: “Tâm nguyện chiêm bái chưa hoàn thành, con cũng lấy công đức chiêm bái này hồi hướng về thế giới Tây phương cực lạc, tâm nguyện chưa hoàn tất làm sao có thể ra đi được?” Vào lúc này mới thử thách được ai là người chân chính thực hành Tịnh độ, ai là người chân chính niệm Phật? Pháp sư Thường Mẫn quyết định: Hy sinh bản thân thành tựu người khác, là phát tâm Bồ-đề, điều mà bản thân cần phải làm.
Pháp sư Thường Mẫn bảo thuyền trưởng: “Hãy nhường chỗ của tôi cho người khác đi! Bồ-tát đạo là hy sinh bản thân vì người, bản nguyện cứu cánh của hành giả Tịnh độ là vậy!”. Sau đó, Ngài cùng đệ tử chắp tay hướng về Tây phương, niệm danh hiệu Phật A Di Đà, trong khoảng thời gian ngắn ngủi, thuyền chìm người mất, âm thanh tắt dần.
Sự việc này được người đời ghi chép và truyền tụng. Về sau pháp sư Nghĩa Tịnh đến Ấn Độ, trên đường đi đã nghe và ghi chép lại câu chuyện lưu truyền này.
Khi chúng ta niệm Phật, có thể nào niệm đến tính quyết định được như vậy, đó là mục tiêu rất quan trọng với hành giả tu hành theo phương pháp Tịnh độ.
Do cảm thọ đưa đến lực tín giải.
Lúc điểm tâm sáng.
Trước khi dùng trai tụng bài cúng dường, ở trai đường từ lúc bắt đầu đến kết thúc bữa ăn, các loại cảm
giác, các hương vị, trong quá trình dùng trai, không biết đại chúng có lĩnh hội đến phẩm vị hay không?
Khi tụng bài cúng dường, đem thức ăn trước mặt, trên cúng dường mười phương chư Phật, dưới là cứu độ lục đạo chúng sanh, cúng dường Phật, cúng dường Pháp, cúng dường Tăng tam bảo, cúng dường mười phương ba đời tất cả chư Phật, cho đến chúng sanh khắp trong pháp giới.
Lúc này thật sự có tâm cúng dường bố thí, cảm thọ cúng dường bố thí, có niệm ra hay không?
Như thế nào mới tự biết có cảm thọ? Nếu hành đường đem thức ăn phân phối cho người khác, chúng ta không hề sân hận. Trước cúng dường, sau hồi hướng, phải có cảm thọ mới đưa đến lực thắng giải và lực tín giải.
Cũng như trong quá trình dùng cơm, có tâm nhớ ơn hay không? Cảm ơn mọi người đã hộ trì chúng ta, cảm nhận đến tâm tàm quý, tất cả việc cá nhân làm có đủ để thọ nhận sự hộ trì cúng dường của chúng sanh
hay không? Nên chú ý đừng để nuôi lớn tâm tham, thọ nhận thức ăn là vì nuôi dưỡng thân tâm, vì muốn phục vụ chúng sanh. Trong tâm quán tưởng những hương vị, đều là căn nguyên cho tất cả thiện pháp.
Mỗi lần thọ trai nếu luôn nghi nhớ “thực tồn ngũ quán” thì vô hình trung thiện pháp hàng ngày dần dần sẽ tăng trưởng. Hy vọng những kinh nghiệm này cũng có thể thực hành nơi chánh điện. Đại chúng niệm danh hiệu Phật, có thể nào tinh tế, thanh tịnh giống như quý vị đang dùng thức ăn, khiến chúng sanh được lợi ích hay không?
Nơi đây muốn nhắc nhở đại chúng, A Di Đà Phật!