Chương IV
Tiết 1:
Sự đóng góp của giới Cư sĩ phật tử cho Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ.
Trong Phật giáo tín đồ tại gia sau khi làm lễ Quy y Tam Bảo pháp nguyện thọ trì 5 giới hoắc 8 giới được gọi là Cư sĩ.
Kính “ Như thị ngữ 107” ghi: “ Chúng xuất gia nhờ chúng tại gia cung cấp những đồ dùng cần thiết như cơm ăn,áo mặc, nhà ở. Còn chúng tại gia thì nương vào chúng xuất gia mà tiếp nhận giáo pháp và phạm hạnh, cả hai giúp đỡ lẫn nhau, cùng tu hành chánh pháp”. Như vậy, Giáo hội như thân chim phải có hai cánh ( tại gia- xuất gia) mạnh khỏe, cân bằng mới bay cao, bay xa được, theo kinh tạng Pàli.
Theo truyền thống Đại thừa, trong các kinh: Duy ma cật, kinh Thắng man đều lấy Cư sĩ làm chủ mà tuyên thuyết Phật pháp. Vai trò hộ trì Tam Bảo, cứu độ chúng sanh, xây dựng quốc độ. Từ nền tảng này mà trải qua các thời đại, Cư sĩ đã đến đóng góp công đức trong sự nghiệp phiên dịch kinh tạng, kiến tạo chùa tháp, phát triển văn học, mỹ thuật Phật giáo khắp nơi trên thế giới.
Riêng nước ta, tiếp thu Phật giáo đến nay đã hơn 2000 năm. Giáo lý của đức Phật đã thấm nhuần lâu đời tạo thành nền tảng luân lý, đạo đức truyền thống của dân tộc.
Từ thế kỷ thứ I đếnthees kỷ thứ X, Phật giáo là điểm tựa tinh thần của nhân dân Việt trước hiểm họa đồng hóa của giai cấp phong kiến ở phương Bắc tràn sang. Chùa chiền là nơi nuôi dưỡng phong kiến ở phương Bắc tràn sang. Chùa chiền là nơi nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa của
Dân tộc suốt 1000 năm Bắc thuộc. Dựa vào tiềm lực của quần chúng Phật tử mà các lãnh tụ yêu nước như Hai Bà Trung (- 43) Bà Triệu (225 -246), Lý Bôn (- 548), Triệu Quang Phục(-571), Ngô quyền(899 – 944)… nối tiếp nhau trường kỳ kháng chiến chống ngoại xâm.
Năm 938, Ngô Quyền dánh tan quân Nam Hán, từ đó, nước Việt thoát nạn Bắc thuộc trải qua các triều đại Ngô (939 – 965), Đinh (968 – 980), Tiền Lê (980 – 1009), Lý (1010 – 1225), Trần (1225 – 1400) Phật giáo là hệ tư tưởng chính làm nền tảng cho việc trị quốc an dân.
Suốt hơn 1000 năm sau này, trên từ Hoàng gia, Triều đình, dưới đến các tầng lớp xã hội, đại đa số đều tín ngưỡng Phật giáo, hộ trì Tam Bảo. Chùa chiền xây dụng khắp nơi, Tam Tạng kinh điển được in ấn truyền bá rộng rãi,Tăng-già được tôn trọng, làm mô phạm cho vua chúa, nhân dân sống và tực hành tu tập theo bổn phận người Cư sĩ. Tiến xa hơn thì hướn đến lý tưởng Bồ-tát tại gia phục vụ xã hội, cứu độ chúng sanh. Thời đại hưng thịnh này không chỉ xuất hiện nhiều bậc cao Tăng như Thiền sư Khuông Việt (933 – 1011), Vạn Hạnh (- 1018), Không Lộ (1016 - 1094), Mãn Giác (1052 -1096)… mà còn xuất hiện nhiều bậc Cư sĩ kiệt xuất đã để lại sự nghiệp to lớn đối với Dân tộc, Đạo Pháp như Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn), Lý Thương Kiệt, Trần Thái Tông (Trần Cảnh) (1218 – 1277), Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291), Trần Quốc Tuấn (1226 – 1300)…
Sau thời Trần, nước ta lại bị giặc Minh xâm chiếm đô hộ gần 20 năm. Những thành tựu rực rỡ về văn hóa, học thuật của dân tộc lại bị quân xâm lược phương Bắc phá hủy, tiêu diệt dể tiến hành chính sách đồng hóa vô cùng thâm độc. Sau khi giành lại chủ quyền
đất nước, dưới Triều Lê (1428 – 1788). Nho giáo được xem là hệ tư tưởng chính thống, có lợi cho việc xây dựng chế độ quân chủ chuyên chính. Phật giáo bị triều đình quản lý chặc chẽ nhằm hướng vào việc phục vụ Nghi lễ cúng bái, Cư sĩ Phật giáo thời đại này chỉ duy trì tín tâm bằng các hoạt động tu tạo, bảo tồn chùa chiền trong thôn xóm để sinh hoạt dung hợp với tín ngưỡng dân gian.
Tuy nhiên, kể tù lúc chùa Nguyễn Hoàng được triều đình vua Lê – chúa Trịnh cho vào trấn thủ Thuận Quảng thì đạo Phật ở xứ Đàng trong bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng. Hơn 200 năm (1558 – 1774), 8 đời chúa Nguyễn nối nhau tận lực hộ trì khiến cho Phật pháp hưng thịnh, thấm nhuần khắp vùng đát mới từ Thuận Quảng cho đến Hà Tiên, Châu Đốc. Nổi bật nhất là công đức của các Cư sĩ Hưng Long Nguyễn Phước (Phúc) Chu (1675 – 1725), Cư sĩ Đào Duy Từ (1572 – 1634), Minh Thiện Nguyễ Phước Thuần (1653 – 1675), Tịnh Tín Trần Đình Ân (1624 – 1706)…
Bước sang triều Nguyễn (1802 – 1945), nền quân chủ Nho giáo càng lỗi thời, không đáp ứng được yêu cầu canh tân phát triển đất nước. Đến giữa TK XIX thì Việt Nam bước vào khúc quanh đen tối, phải đương đầu với làn sóng xâm lược từ Phương Tây tràn qua. Kết quả đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm. Kể từ đó, văn hóa, tín ngưỡng truyền thống dân tộc bị chèn ép, kỳ thị. Chính quyền bảo hộ hổ tợ truyền bá văn hóa, tôn giáo của họ nhằm thay thế văn hóa, tôn giáo của bản địa.
Đứng trước cảnh mất nước nhà tan, truyền thống dân tộc có nguy cơ tiêu diệt, một số Cư sĩ có danh vọng, uy tín trong xã hội đã kịp thời hưỡng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo khắp 3 miền; Nam, Trung, Bắc. Chỉ trong vồng ba thập niên (1925 – 1955), cuộc vận động có ảnh hưởng mạnh và rộng trong xã hội,
quần húng Phật tử nhiệt tâm ủng hộ, tham gia. Bên cạnh hình ảnh đạo cao đức trọng của cá bậc cao Tăng, thạc đức luôn luôn có sự đoàn kết của các cị Cư sĩ tài đức lỗi lạc như Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám (1897 – 1969), Cư sĩ Chơn An Lê Văn Đinh (1893 – 1980), Chánh Trí Mai Thọ Truyền (1905 -1973), Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902 -1954)…
Chính sự trung thành của lý tưởng Phật giáo, hàng Cư sĩ tại gia đã tận lực hộ trì Tam Bảo, ủng hộ Giáo hội vượt qua các giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử cho đến nay đất nước được hòa bình thống nhât, từ 30 tháng 4 năm 1975 đén nay.
Hy vọng, trong giai đoạn gặp nhiều thuận duyên như hiện nay, Giáo hội kịp thới củng cố hàng ngũ Cư sĩ Phật giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho những vị có đạo tâm, tài đức tham gia Phật sự để Phật giáo có thể đóng góp hiệu quả hơn nũa trong việc bảo vệ truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta. Với tiềm lực rộng lớn của Phật tử trong và ngoài nước đang phục vụ công tác giáo dục, y tế,… góp phần xây dựng, phát triển xã hội tốt đẹp, thịnh vượng dể xứng đáng một Quốc gia mà rong đó nhân dân đã có tín ngưỡng Phật giáo lâu đời và chiếm số đông.
*