Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 792.

Chương 52: Hòa Thượng Tâm Thông (1916 – 1999) Chùa Vọng Cung – Nam Định (Trang 312 - 323)

Hòa thượng Tâm Thông (1916 – 1999)
Chùa Vọng Cung – Nam Định
Hòa thượng Tâm Thông thế danh Nguyễn Văn Tiến, Pháp hiệu Minh Kính, sinh ngày 27.11.1916 tại thôn An Ninh, xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ngài là con thứ 2 của cụ ông Nguyễn Văn Khiết và hai cụ bà: Trần Thị Thanh hiệu Cần Kiệm và cụ Lưu Thị Vuông hiệu Diệu Tồn.
Ngài sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống kính tín Tam Bảo. Tổ tiên nhiều vị xuất gia đầu Phật, nên Ngài cũng được kết thiện duyên với chốn thiền môn ngay từ thuở nhỏ.
Năm 1930, lúc 14 tuổi, Ngài đã xin phép và từ biệt song thân đến Chùa Lý Nhân, xã Nhân Thịnh, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam cầu pháp với Sư tổ Thích Thanh Lịch tự Từ Quang, hiệu Bảo Giám; sau 3 năm cần mẫn học tập chấp lao phục dịch “phụng Phật sự sư”. Năm 1934, cảm thấy Ngài là người đệ tử hiền lành siêng năng chất phác với tư chất thông minh, tính tình hòa nhã thiết tha cầu đạo, Sư tổ đã làm lễ thế phát và trao truyền giới Sa di tại Giới đàn Chùa

Đông An, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định do Sư tổ Thích Quảng Lãm làm Đàn đầu.
Sau khi thọ Sa di, Ngài đã được Sư tổ cho đi tham học tại Chùa Quán Sứ, Hà Nội. Ở đây, Ngài tinh tiến tu học. Đến năm 1939, Ngài được đăng đàn thọ giới Cụ túc, sau kỳ thi khảo hạch giới đàn và hành lễ sám 21 ngày, do Hòa thượng Thích Tố Liên làm Chủ sám cùng với 50 vị giới tử khác. Giới đàn này do Tổ sư Trung Hậu là Đàn đầu và chư vị Giới sư Cao thiền Thạc đức trong các Sơn môn lớn ở miền Bắc chứng đàn. Từ đây Ngài thực sự vào hàng Tăng bảo là Sứ giả của đức Như Lai với trọng trách: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh.”
Sau khi thọ Đại giới, do tính tình khiêm cung hiếu học, Ngài luôn có nhân duyên được thị giả Sư tổ sớm tối và được học hỏi nhiều điều bổ ích. Ngài lần lượt đi tham học ở các chốn Tổ như: Chốn Tổ Tế Xuyên – huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; Trường Phật học Quán Sứ – Hà Nội; chốn Tổ Bồ Đề – huyện Gia Lâm, Hà Nội; chốn Tổ Trung Hậu – huyện Mê Linh, Phú Thọ; Tổ đình Cao Phong – Mê Linh, Phú Thọ; Chùa Cồn – Hải Hậu, Nam Định. Ở đâu Ngài cũng được thầy thương bạn mến bởi sự hiền hòa thân mật, nghiêm trì, uy nghi giới luật.
Năm 1942, Ngài được Hội Phật giáo Chấn Hưng cho vào Huế tu học tại Phật học viện Báo Quốc – Huế. Từ đây, Ngài đã được hội ngộ với các vị Cao tăng 3 miền. Mãn khóa học 3 năm, Ngài lại trở về thủ đô Hà Nội, bắt đầu dấn bước trên con đường phụng sự đạo pháp và dân tộc.
Sau một thời gian dài tu học ở các trường Phật học lớn, được thấm nhuần sâu sắc giáo lý nhiệm mầu của Phật pháp từ các bậc Tổ sư tôn túc, Ngài đã tự nhận thấy trọng trách vô cùng to lớn của
một vị Sứ giả Như Lai. Ngài luôn luôn canh cánh trong lòng sự nghiệp: “Hoằng dương Phật pháp, lợi lạc quần sanh”.
1. Đối với Giáo hội.
Với lòng kham nhẫn không ngại khó khăn vất vả, hết mình với Phật sự của Giáo hội, Hòa thượng xứng đáng là người: “Thừa Như Lai sứ, hành Như Lai sự”. Năm 1946, sau khi kết thúc khóa học ở Huế, Ngài trở về Chùa Lam Cầu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam làm Thư ký Hội Phật giáo Cứu quốc, tham gia công tác Bình dân Học vụ và Cô nhi viện.
Do hoạt động của Hội Phật giáo Cứu quốc trong vùng địch hậu vào cuối năm 1947, Ngài đã bị giặc Pháp bắt giam tại nhà giam Nam Định và năm 1948, Ngài trốn thốt trở về Chùa Cồn, Hải Hậu, Nam Định nơi Tổ Tuệ Tạng Thượng Thủ Tăng già tồn quốc trụ trì.
Năm 1949, khi giặc Pháp tiến đánh Nam Định, Ngài lại trở về Chùa Quán Sứ. Sau đó, Ngài được Hội Phật giáo cử về Chùa Đông Kết, huyện Khối Châu, tỉnh Hưng Yên; ở đây, Ngài giảng dạy Phật pháp phổ thông cho các Phật tử và vận động nhân dân tham gia cứu quốc.
Năm 1951, khi Tổ Tuệ Tạng về nhận lãnh trụ trì Chùa Vọng Cung thành phố Nam Định (trước đây là hành cung của Vua), Ngài đã theo hầu Tổ và được giữ chức Giám viện Chùa Vọng Cung. Ngài đã ở lại trụ trì tại Chùa Vọng Cung cho đến nay.
Sau khi đất nước được thống nhất, Phật giáo cũng từng bước hội nhập quy về một mối. Năm 1980, cuộc vận động thống nhất Phật giáo ra đời đáp ứng lòng mong mỏi của Tăng Ni Phật tử cả nước, cũng như hồi bão của các bậc tiền bối, Ngài đã được mời vào trong Ban Vận động cùng với Hòa thượng Thích Tâm An, Hòa
thượng Thích Nguyên Sinh, Hòa thượng Thích Thế Long, Hòa thượng Thích Thuận Đức…
Tháng 11 năm 1981, Ban Vận động đã đi đến quyết định tổ chức Hội nghị Đại biểu 9 tổ chức hệ phái Phật giáo thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Chùa Quán Sứ – thủ đô Hà Nội. Tại Đại hội này, Ngài được bầu vào Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Từ đây, Ngài đã cùng các Hòa thượng trong Hội đồng Trị sự ra sức xây dựng Giáo hội ngày một vững vàng.
Năm 1987, tại Đại hội kỳ II Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài được suy cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN kiêm Phó ban Tăng sự Trung ương. Tới đây, trọng trách Giáo hội lại càng chồng chất lên đôi vai gầy của một vị Cao tăng nhưng Ngài vẫn tinh tiến vượt lên trên tuổi tác sống hoạt động hăng say và khoa học. Mặc dù Phật sự Tỉnh hội đa đoan, nhưng Ngài vẫn luôn tham dự các Hội nghị thường niên của Hội đồng Trị sự tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế, Ngài đã được Tăng Ni và Phật tử cả nước vô cùng ngưỡng mộ, Giáo hội càng thêm tin cậy.
Năm 1989, Ngài được Hội đồng Trị sự GHPGVN cử làm Phó đồn Phật giáo Việt Nam đi thăm hữu nghị Phật giáo Nhật Bản do Hiệp hội các Tông phái Phật giáo Nhật bản tổ chức. Đi tới đâu Ngài cũng được Hiệp hội Phật giáo Nhật Bản tiếp đón nồng hậu. Với dung nhan từ bi, nụ cười hiền hậu, Ngài đã để lại trong lòng Phật giáo Nhật Bản một ấn tượng đẹp đẽ về một vị Cao tăng Việt Nam và thắt chặt thêm mối quan hệ Phật giáo giữa hai nước.
Tài ngoại giao của Ngài được thể hiện từ lòng khiêm tốn, bao dung, lời nói từ hòa, tác phong điềm đạm. Qua đợt thăm hữu nghị Hiệp hội Phật giáo Nhật Bản, Ngài lại càng có thêm nhiều uy tín đối với Phật giáo trong nước cũng như quốc tế.
Năm 1990, Ngài được cử làm Phó Trưởng đồn Đại biểu Phật giáo Việt Nam tham dự Hội nghị lần thứ 8 Tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình (ABCP) tổ chức tại Chùa Gandan – Ulanbato, thủ đô Mông Cổ. Sau Hội nghị Ngài cùng phái đồn tham quan Liên Xô.
Năm 1990, Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam thành lập, Ngài được suy cử giữ chức Phân viện Phó kiêm Trưởng ban Bảo trợ Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
Tháng 3 năm 1993, Ngài được Trung ương Giáo hội cử đi dự Hội nghị Giải trừ Quân bị do Tổ chức ABCP tổ chức tại Hà Nội.
Với tinh thần tích cực, năng động trong quan hệ ngoại giao Ngài đã được mời vào các ban ngành của Trung ương như : Phó ban Phật giáo Quốc tế, Phó ban Hoằng pháp Trung ương…
Ngồi những Phật sự trên, đặc biệt Ngài luôn luôn thao thức lời dạy của Phật Tổ: “Đạo tại nhân hoằng, Phật pháp ký tại Tăng Ni”; Ngài đã nhận thấy tầm quan trọng của việc “Đào tạo Tăng tài, kế vãng khai lai, thiệu long Thánh chủng”, tạo dựng lên một tầng lớp Tăng Ni hậu tiến có đầy đủ đạo hạnh và trí tuệ để kế tục sự nghiệp lớn lao của các Ngài. Ngài quan tâm sâu sắc đến các trường Phật học nơi đào tạo nên thế hệ tương lai của Phật pháp. Ngài đã vận động Tăng Ni và Phật tử trong cũng như ngồi nước ủng hộ về cơ sở vật chất và tinh thần cho Tăng Ni sinh các trường Cao cấp và Cơ bản Phật học, kết hợp với các tỉnh, thành phố phía Bắc thành lập một số trường Cơ bản Phật học để làm nền móng cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, khuyến khích và tạo điều kiện cho Tăng Ni trẻ miền Bắc du học ở nước ngồi.
Năm 1994, Giáo hội đã cung thỉnh Ngài làm Phó Hiệu trưởng trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở I tại Hà Nội (nay là Học viện Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội).
Năm 1997, tại Đại hội kỳ IV GHPGVN tổ chức tại Hà Nội, Ngài được suy tôn lên ngôi Phó Pháp chủ kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
Tuy sức khỏe hạn chế nhưng Ngài luôn quan tâm sâu sắc tình hình hoạt động của Giáo hội trong suốt thời gian tĩnh tu tại Tổ đình Vọng Cung – Nam Định. Tâm nguyện của Ngài là tận tụy với những Phật sự của Giáo hội.
2. Đối với Tỉnh hội Phật giáo Nam Định.
Ngồi những trọng trách to lớn của Trung ương Giáo hội, Ngài lại còn đảm nhiệm Phật sự nặng nề tại Phật giáo địa phương:
- Năm 1981, tại Đại hội lần thứ nhất Phật giáo tỉnh Hà Nam, Ngài được bầu làm Phó ban Trị sự Phật giáo tỉnh.
- Năm 1992, tỉnh Hà Nam Ninh tách thành 2 tỉnh Hà Nam và Ninh Bình, tại Đại hội Phật giáo tỉnh Hà Nam, Ngài được bầu làm Trưởng ban Trị sự.
- Năm 1996, tỉnh Nam Hà lại tách thành 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định, Ngài lại được Đại hội kỳ V Giáo hội Phật giáo tỉnh Nam Định bầu làm Trưởng ban Trị sự.
Trong Phật sự tỉnh, Ngài cũng hết lòng chăm lo cho thế hệ tương lai. Ngài đã cùng với các Hòa thượng, Thượng tọa trong Ban Trị sự tổ chức chiêu sinh thành lập trường Cơ bản Phật học tỉnh Nam Hà với bao gian nan vất vả và Ngài trực tiếp làm Hiệu trưởng.
Suốt mấy chục năm tu tập và hành đạo trên mảnh đất Thành Nam – quê hương của Đệ nhất Tổ sư Thiền phái Trúc Lâm Trần Nhân Tông. Tại các khóa An cư Kiết hạ của Phật giáo tỉnh, Ngài luôn là ngôi thiền chủ mô phạm, bậc thạch trụ thiền gia mẫu mực, một vị Đạo sư khả kính, một ngọn đèn thiền tỏa sáng cho Tăng Ni
và Phật tử cả nước nói chung và tỉnh Nam Định nói riêng trên bước đường tu thân hành đạo.
Cho dù bận trăm công nghìn việc, song không lúc nào Ngài lãng quên phận sự chính của người đệ tử Phật: “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sinh vi sự nghiệp”. Ngài không quản tuổi già, sức yếu, đăng đàn trao truyền giới pháp cho hàng ngàn Tăng Ni giới tử trong cũng như ngồi tỉnh Nam Định. Các giới tử nhờ được thấm nhuần sự giáo huấn của Ngài hiện nay đã có nhiều vị giữ trọng trách trong Giáo hội.
3. Đối với Sơn môn và Pháp phái.
Vốn đã được xuất gia đầu Phật ở một Sơn môn lớn của tỉnh Nam Định, Ngài đã được kế thừa truyền thống của Tổ sư làm Trưởng Pháp phái Lãng Lăng – Xuân Trường – Nam Định. Ngài luôn chăm lo xây dựng chốn Tổ. Với lòng hiếu kính các bậc Tổ sư, hàng năm vào các ngày Tết hoặc các ngày giỗ Tổ, Ngài đã thân lâm về chốn Tổ thành kính đảnh lễ Tổ sư và đến từng chùa trong Sơn môn thăm hỏi và giúp đỡ trong công việc trùng tu kiến thiết. Ngài thường xuyên về Chùa Lam Cầu – nơi Tổ sư của Ngài yên nghỉ tổ chức Giới đàn truyền thụ Tam quy Ngũ giới, Bồ tát giới cho Phật tử địa phương và cùng với các Sư trong Sơn môn xây dựng ngôi chùa ngày thêm uy nghi tố hảo.
Ngài luôn nêu cao tấm gương tu đạo trân quý của các Tổ sư tiền bối như Tổ Quảng Thái, Tổ Quảng Thuyết làm thầy mô phạm cho mình để sách tấn chư Tăng Ni trong Sơn môn Pháp phái tinh tiến tu tập và hành đạo, kế thừa đức nghiệp của Tổ sư, làm rạng rỡ Sơn môn, đồn kết xây dựng Sơn môn ngày một hưng thịnh để xứng đáng là con cháu của các bậc khai sơn thạc đức khả kính.
Ngoài ra, đối với bậc Thầy tổ đã nuôi lớn tuệ mạng của Ngài là Tổ Tuệ Tạng, bao năm theo học cùng Tổ ở khắp các học đường nổi
tiếng, Ngài tôn kính Tổ như thầy của mình. Với chốn Tổ chùa Cồn – Hải Hậu – Nam Định – nơi Tổ Tuệ Tạng đã dạy học và yên nghỉ, Ngài cũng luôn thăm nom và sách tấn. Không những thế Ngài còn quan tâm tới chốn Tổ Tế Xuyên, Cao Đà tỉnh Hà Nam – Sơn môn của Hòa thượng Thích Tâm Nguyện – bậc pháp lữ thân hữu đã cùng Ngài gắn bó với Tổ Tuệ Tạng trong suốt thời gian tu học ở Chùa Quán Sứ và chốn Tổ Quần Lạc – Sơn môn của Ni trưởng Thích Đàm Yên, một trong những vị Ni thân cận tùy tòng chư Tăng tu học tại Tổ đình Vọng Cung. Với đức tính bình đẳng vị tha, Ngài đã hòa mình với các Sơn môn lớn nhỏ không phân biệt hệ phái tông môn.
4. Đối với Tổ đình Vọng Cung.
Cả cuộc đời hành đạo của Ngài đã gắn liền với những sự thăng trầm thịnh suy của ngôi chùa Vọng Cung trên mảnh đất Thành Nam cổ kính. Với cương vị là một viện chủ chốn Tổ đình lớn, Ngài luôn tinh tiến trong mọi công việc phụng sự Tam bảo, phục vụ tín ngưỡng nhân dân.
Ngài cùng với Hòa thượng Thích Tâm Nguyện và chư Tăng Ni trong trụ xứ kế thừa truyền thống nề nếp của Tổ Tuệ Tạng. Mặc dù trải qua biết bao thăng trầm của đất nước, nhưng Ngài vẫn giữ gìn ngôi chùa Vọng Cung vững vàng trong bom đạn, vẫn nghiêm trì phạm hạnh, tiến tu Tâm Vô Lậu Học, giữ gìn Thanh Quy Bách Trượng như ngày Tổ còn tại thế.
Năm 1972, giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc dữ dội. Bom giặc đã phá hủy tồn bộ ngôi chùa khang trang trước đây và biến khu vực Chùa Vọng Cung thành những hố bom sâu quá đầu người. Ngay khi tiếng bom vừa dứt, Ngài đã cùng các sư trong chùa có mặt tại cảnh đổ nát hoang tàn của nền chùa cũ bắt đầu công cuộc tái thiết chùa. Với lòng tin vào sự gia hộ của Hộ pháp Long Thần,
Ngài đã khuyến hóa tồn thể nhân dân Phật tử trong cũng như ngồi tỉnh ủng hộ trùng tu ngôi chùa. Công việc tái thiết bắt đầu từ năm 1972, trải qua bao gian nan vất vả, từ cảnh hoang tàn đổ nát do bom đạn, đến khi xây dựng được ngôi chùa nhỏ để tạm thời thờ Phật. Đến năm 1983, xây dựng ngôi chùa hai tầng nguy nga cùng với nhà Tổ, nhà khách, 5 ngôi bảo tháp. Trước hồn cảnh đất nước khó khăn mà Ngài lãnh đạo xây dựng được ngôi phạm vũ huy hồng như ngày nay, là nhờ sự cống hiến trọn cuộc đời cho ngôi Tam bảo này. Ngày nay Chùa Vọng Cung trở thành nét đặc trưng tiêu biểu của Thành Nam và tiềm năng sinh động của nền văn hóa Phật giáo thành phố Nam Định thì chính Ngài là vị đã khơi mở nguồn sống ấy. Tên tuổi của Ngài đã gắn liền vào ngôi chùa lịch sử này. Chính vì thế mà tại Chùa Vọng Cung, Ngài đã đón tiếp rất nhiều vị Nguyên thủ quốc gia, các vị lãnh đạo của Đảng và Nhà nước như cụ Tổng Bí thư Đỗ Mười, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và khách nước ngồi như Công chúa Thái Lan, đồn Phật giáo Nhật Bản, đồn Phật giáo Sri Lanka và các Hòa thượng lãnh đạo Giáo hội từ ba miền Bắc, Trung, Nam và đông đảo các tầng lớp trong xã hội. Ai đến lễ Phật Chùa Vọng Cung, được Ngài tiếp đón đều có ấn tượng sâu sắc khó quên đối với một ngôi chùa trang nghiêm, thanh tịnh và một vị Viện chủ giản dị, hiền hòa, đôn hậu.
Đối với chư Tăng Ni trụ xứ, Ngài đặc biệt chăm lo cho đời sống tu hành. Ngài luôn sống giản dị, khắc kỷ với tự thân để làm gương sách tiến cho đại chúng. Với các đệ tử, Ngài dạy bảo cặn kẽ nghiêm khắc giữ gìn uy nghi giới luật. Với hàng Phật tử, mỗi năm Ngài đăng đàn truyền thụ Tam quy, Ngũ giới, Bồ tát giới. Hàng tháng hai kỳ Bố tát thuyết giảng giới luật và hàng tuần vào ngày Chủ nhật, Ngài tuyên giảng giáo lý cho Phật tử gần xa. Ngài thật là một bậc Thầy mẫu mực cho Tăng Ni và Phật tử Tổ đình Vọng Cung.
Tuy Phật sự đa đoan nhưng Ngài vẫn dành thời gian công tác xã hội:
- Năm 1958, Ngài làm Chi hội Trưởng Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nam Định.
- Năm 1959, Ngài làm Ủy viên Liên lạc khu phố 3 thành phố Nam Định.
- Năm 1968 đến năm 1977, Ngài là Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Nam Định.
- Năm 1980, là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Nam Ninh và thành phố Nam Định.
- Năm 1983, Ngài là Ủy viên Ban Vận động mua công trái xây dựng Tổ quốc.
- Năm 1985 đến 1994: Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố Nam Định.
- Năm 1997, Đại hội MTTQVN tỉnh Nam Định khóa XII tín nhiệm bầu Ngài làm Phó Chủ tịch MTTQVN tỉnh Nam Định.
- Lần đầu tiên Hội Người Cao tuổi Việt Nam thành lập, Ngài là thành viên duy nhất đại diện cho Phật giáo cả nước tham gia Ban Chấp hành Hội Người Cao tuổi Việt Nam.
Cho dù đảm nhiệm nhiều trọng trách của Giáo hội cũng như xã hội, nhưng Ngài vẫn chu đáo tận tụy với mọi công việc. Dù ở bất cứ cương vị nào, Ngài đều coi đó là phương tiện để hoằng truyền Phật pháp, góp phần xây dựng đất nước, đền đáp Tứ trọng ân làm sáng đạo trong đời.
Trong những tháng đầu năm 1999, Ngài đã trải qua mấy lần lâm bệnh nặng tưởng chừng không qua khỏi, nhưng với sức thần pháp dược vi diệu gia hộ của Phật Tổ và nghị lực tu trì của Ngài,
những căn bệnh đã bị đẩy lùi. Những tưởng Ngài mãi mãi còn là ngọn hải đăng tỏa sáng dẫn đường chỉ lối cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam nhưng luật vô thường đã không hẹn cùng ai, vào ngày 10 tháng 1 năm Kỷ Mão, Ngài lâm bệnh nặng, mặc dù đã được sự chăm sóc của các cấp Giáo hội và Sơn môn Pháp phái, thân quyến, các bác sĩ Đông Tây y bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định và bệnh viện Hữu Nghị tận tình cứu chữa, nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Đúng 4 giờ 30 phút sáng ngày 15 tháng 7 năm Kỷ Mão, tức ngày 25/8/1999, Ngài đã xả báo thân an nhiên thị tịch tại Hà Nội. Như củi hết lửa tắt, Ngài đã khắc tích 84 năm trên cõi thế và dành trọn 60 năm mùa sen nở cho đạo pháp và dân tộc.
 
*
Tưởng niệm
Có đó không đó, sống đó chết đó, hợp đó ly đó… vô thường là cái chi chi mà lan tràn khắp sự vật. Vô hình vô dạng, nhìn không thấy, lắng không nghe, rờ không đến, thế mà đổ núi, cạn sông, trời nghiêng đất ngửa. Mê nó thì ưu sầu thống khổ, lụy kiếp trầm luân, ngộ được nó thì "nhậm tha pháp tánh châu lưu, mạc đoạn mạc tục" đến đi vô ngại .
     Tôi và Hòa thượng sẵn có túc duyên, nên được sớm xuất gia học đạo, cũng vì lẽ vô thường mà muốn được tự tại trước lẽ vô thường ấy.
Nhớ trước đây những năm 1940 Hòa thượng vào Phật học viện Báo Quốc - Huế, tham học cùng với tôi một trường, mặc dầu khác lớp. Tôi lớp trước Hòa thượng lớp sau, song lại đồng tâm đồng tính, ôn hòa, khiêm tốn, đôn hậu, thủy chung; thế nên sau 50 năm phải xa cách nhau vì thời cuộc, đến năm 1981 gặp lại nhau thì tình thân thương vẫn như cũ. Tôi vẫn là tôi, Hòa thượng vẫn là Hòa thượng như thuở nào, cũng vẫn tiến lên trên đường đạo, để có ngày hôm
nay, góp lòng góp sức vào việc hoằng dương Phật pháp, không cô phụ chí nguyện xuất gia của mình .
Song le, luật vô thường không thiên vị ai cả. Hòa thượng đã ra đi để lại bao nỗi tiếc thương trong tôi và trong nhiều người khác .
Nhớ Hòa thượng , tôi tâm thành cầu nguyện Hòa thượng sớm ngộ vô sanh, thân thừa thọ ký, mãn nguyện Bồ-đề.
Từ Đàm , ngày 25 tháng 9 năm 1999
Hòa thượng Thích Thiện Siêu
 
 
 
*
/156
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »