Hòa thượng Quang Thể (1922 - 2005)
Chùa Thọ Quang – Đà Nẵng
Hòa thượng họ Đặng, húy Hữu Tường, Pháp danh Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh, đời thứ 44 dòng thiền Lâm Tế chánh tông. Hòa thượng thọ sanh ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922), trong một gia đình thâm tín Phật pháp tại làng An Hải, Quận 3, thành phố Đà Nẵng. Chánh quán tại làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ của Hòa thượng là cụ ông Đặng Văn Vịnh (tức Nuôi), thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ớt. Hồ thượng là trưởng nam trong một gia đình gồm có 5 anh em: 3 trai, 2 gái. Năm lên 9 tuổi, phụ thân Ngài qua đời, từ đó, mẫu thân Ngài phải tần tảo một mình nuôi con.
Năm 11 tuổi (Nhâm Thân 1932), Hòa thượng được mẫu thân gởi đến ở với thầy Tư Tri để học chữ Nho tại chùa An Hải, quận 3, Đà Nẵng; sau đó Hòa thượng xuất gia với Ngài Giám tự pháp hiệu thượng Thiện hạ Trí tại chùa Linh Quang – Huế. Dưới sự dẫn dắt của Hòa thượng Bổn sư, đạo phong của Ngài ngày một tăng trưởng,
được chư Tôn đức thương mến, pháp lữ kính nể. Những người cùng tu học với Hòa thượng tại Phật học đường Báo Quốc ngày ấy là chư vị Hòa thượng Thích Thiên Ân, Hòa thượng Thích Đức Tâm, Hòa thượng Thích Minh Tánh, Hòa thượng Thích Thiện Châu…
Năm 1937 Hòa thượng tham gia vào khóa tu học tại Phật học đường Báo Quốc – Huế, đến năm Kỷ Mão (1939) Ngài phụ tá Bổn sư khai kiến chùa Hiếu Quang và tiếp tục tu học tại đây.
Cuối năm Giáp Thân (1944), chiến tranh Việt Pháp xảy ra, Hòa thượng tản cư vào Quảng Nam. Ở đây, Ngài vận động thành lập Chi hội Phật giáo Nồi Rang, nay thuộc xã Duyên Thọ, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
Đến năm Kỷ sửu (1949), tròn 27 tuổi, đạo phong vững mạnh, Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho thọ Tam đàn Cụ túc giới tại giới đàn Hộ Quốc, tổ chức tại Tổ đình Báo Quốc – Huế do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Hội Phật giáo Việt Nam làm Đàn đầu. Cùng thọ giới trong giới đàn này có các vị Hòa thượng như Cố Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh… Sau khi thọ Đại giới, Ngài được Giáo hội Phật giáo Trung phần cử về Trụ trì chùa Pháp Lâm Đà Nẵng vào năm 1951; đến năm 1962 Ngài được cử trụ trì chùa Tỉnh hội Phan Thiết, và đến năm 1964 về lại Đà Nẵng tiếp tục giữ chức vụ Chánh Đại diện rồi đến Trưởng Ban Trị sự Phật giáo Đà Nẵng cho đến nay.
Năm Quý Tỵ (1953), Ngài trở về An cư kiết hạ tại chùa Báo Quốc – Huế, dưới sự chủ trì của cố Hòa thượng Thích Thanh Trí. Năm Giáp Ngọ (1954), Ngài được Bổn sư cho phép trở vào Đà Nẵng, ở tại chùa Linh Ứng. Tại đây, Ngài đã tổ chức khóa An cư Kiết hạ cho chư Tôn Thiền đức ở Huế và Đà Nẵng. Ngồi ra, hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài đã tổ chức lớp học giáo lý tại gia và tiến hành thành lập Khuôn hội tại đây.
Từ năm Giáp Ngọ (1954), Ngài là thành viên của Ban Hoằng pháp Hội Phật học Trung phần và đi thuyết giảng tại các tỉnh miền Trung. Năm Mậu Tuất (1958), Hòa thượng cùng chư Tôn đức trong Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng thành lập Phật học Viện Phổ Đà. Đây là cơ sở đào tạo Tăng tài, nơi Bố tát và An cư, ngày nay là Trường Trung cấp Phật học thành phố Đà Nẵng.
Năm Kỷ Hợi (1959), Ngài chính thức khai sơn chùa Thọ Quang, thuộc xã Hòa Thọ huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Năm Nhâm Dần (1962), công việc xây dựng chùa hồn thành. Sau lễ khánh thành, vì nhu cầu Phật sự cần thiết, Giáo hội Tăng Già Trung phần bổ nhiệm Hòa thượng trụ trì chùa Tỉnh hội Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Năm Quý Mão (1963), Hòa thượng cùng chư Tôn Thiền đức tỉnh Bình Thuận hướng dẫn Tăng tín đồ Phật giáo Phan Thiết tham gia phong trào đòi năm nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo góp phần đưa cuộc đấu tranh Phật giáo đi đến thắng lợi trong tinh thần bất bạo động.
Từ năm Đinh Mùi (1967) đến năm Ất Mão (1975), Hòa thượng về lại Đà Nẵng và được các Đại hội thỉnh cử giữ chức vụ Chánh Đại diện cho đến ngày hòa bình trở lại trên quê hương.
Năm Canh Tuất (1970), Giáo hội Phật giáo Quảng Nam Đà Nẵng đã tổ chức Đại giới đàn Vĩnh Gia. Ngài được thỉnh cử chức vụ Phó chủ đàn, Hòa thượng Thích Tôn Thắng làm Chánh chủ đàn. Đây là Đại giới đàn được tổ chức quy mô với sự hiện diện của các bậc Cao Tăng lãnh đạo Giáo hội và sự tham dự hàng ngàn giới tử xuất gia và tại gia trong cả nước.
Từ năm Mậu Thân (1968) đến Ất Mão (1975), đồng bào tỵ nạn chiến tranh vào Đã Nẵng rất đông, Ngài đã chỉ đạo tiếp cư đồng
bào các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quang Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi. Với lòng Từ bi lân mẫn, Ngài đã đứng ra kêu gọi và trấn an dân chúng trong những ngày sắp giải phóng, nhờ đó đã góp phần ổn định đời sống dân chúng thành phố.
Từ năm Ất Mão (1975), tức sau ngày đất nước được giải phóng, Ngài tiếp tục lãnh đạo Giáo hội, tổ chức tu học cho Tăng tín đồ. Đồng thời Ngài được mời tham gia vào Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam với cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Năm Bính Thìn (1976) đến Đinh Tỵ (1977), khi các tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín cũ và Đà Nẵng sáp nhập thành tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng; dưới sự lãnh đạo của GHPGVNTN cũ, một Ban Đại diện Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập. Ngài được tiếp tục cung thỉnh cử làm Chánh Đại diện Tỉnh hội Phật giáo.
Năm 1980, Ngài được thỉnh cử làm Đệ nhất Tôn chứng Đại giới đàn Thiện Hòa được tổ chức tại chùa Ấn Quang, Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1981, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, cuối năm Nhâm Tuất (tháng 5 năm 1982), Đại hội Phật giáo tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng lần thứ nhất đã thỉnh cử Ngài làm Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngài giữ chức vụ này trải qua 3 nhiệm kỳ 1982-1987, 1987-1992, 1992-1997 và được suy cử vào Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm Giáp Tuất (1994), Đại giới đàn Báo Quốc được tổ chức tại Huế, Ngài được cung thỉnh làm Tôn chứng sư. Năm Bính Tý (1996), Đại giới đàn Phước Huệ do Ban trị sự Tỉnh giáo hội Phật giáo Quảng Nam – Đà Nẵng tổ chức tại chùa Phổ Đà, Đà Nẵng,
Hòa thượng được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng. Trong giới đàn này, giới tử xuất gia gồm 300 vị, giới tử tại gia thọ Thập Thiện giới và Bồ-tát giới khoảng 1640 vị, tổng cộng gần 2000 vị.
Năm Đinh Sửu (1997), tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được tách ra thành hai đơn vị hành chính là thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương và tỉnh Quảng Nam. Ngày 19 và 20 tháng 4 năm 1997, trong Đại hội Đại biểu Phật giáo thành phố Đà Nẵng lần thứ nhất, Ngài được suy cử làm Trưởng Ban trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ năm 1997-2002, và được Đại biểu suy cử vào Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN. Ngài tiếp tục giữ các chức vụ trên trong nhiệm kỳ năm 2002-2007.
Năm Canh Ngọ (2000), Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài trở về Huế lo liệu Tang lễ một cách hồn mãn, đền đáp ơn giáo dưỡng của Ân sư.
Với tinh thần tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Ngài đã để trọn đời mình cho công cuộc giáo dục - hoằng pháp lợi sanh. Ngài chú trọng mở trường đào tạo Tăng tài, tổ chức An cư kiết hạ, Bố tát, Tự tứ, bồi dưỡng đạo phong cho Tăng Ni Đà Nẵng. Ngài đã hồn thành nhiều tâm nguyện, vượt qua hơn 50 năm trên cương vị lãnh đạo thực hiện các công tác Phật sự, Ngài không từ gian nguy khó nhọc, ở đâu có nhu cầu Phật sự là có Ngài hiện diện. Ngài rất quan tâm đến các đơn vị chùa cơ sở, thăm viếng các Đạo hữu Phật tử tuổi già sức yếu để sách tấn họ tu học. Đối với các Huynh trưởng Đồn sinh Gia đình Phật tử, Ngài rất thương mến, động viên tu học làm tốt đạo đẹp đời. Với hạnh nguyện lớn lao ấy, Ngài xứng đáng với bài kệ phó pháp mà Hòa thượng Bổn sư đã trao cho:
Nguyên văn :
源 福 相 承 了 道 宗
善 哉 光 體 契 心 容
達 明 妙 旨 超 真 妄
傳 燈 妙 法 照 乾 坤
Phiên Âm : Nguyên phước tương thừa liễu đạo tông
Thiện lai Quang Thể khế tâm dung
Đạt Minh diệu chỉ siêu chơn tế
Tục diệm truyền đăng phổ chiếu đồng.
Tạm dịch: Nguyên Phước nối dòng rõ tâm tôn
Lành thay Quang Thể hợp tông môn
Đạt Minh diệu chỉ, siêu chân vọng
Truyền đăng diệu pháp chiếu càn khôn.
Thừa hưởng và thấm nhuần nguồn mạch Đạo phong của chư Tổ, Ngài đã nỗ lực tham gia các công tác Phật sự mà Ngài còn canh cánh bên lòng việc trao truyền yếu chỉ của tông môn. Đệ tử xuất gia của Ngài có khoảng 30 vị Tăng và Ni. Các vị cũng đã tiếp bước Bổn sư, tích cực phát huy sự nghiệp “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” trong phạm vi tỉnh nhà và các tỉnh khác.
Ngồi ngôi chùa Thọ Quang do Ngài khai sơn, phần lớn các chùa cơ sở, Niệm Phật đường trong thành phố Đà Nẵng đều được xây dựng dưới sự chứng minh của Ngài. Đối với các Phật sự chung như tạo tượng, đúc chuông thì từ thành thị đến thôn quê, Hòa thượng đều đến chú nguyện, động viên, tạo niềm phấn khởi cho Phật giáo tại cơ sở.
Từ năm Nhâm Ngọ (2002), sức khỏe của Hòa thượng yếu đi rõ rệt, tưởng chừng như không thể qua khỏi. Nhưng rồi, Hòa thượng
khỏe lại, dẫu không còn mạnh như trước. Đầu năm Ất Dậu (2005), biết trước sức khỏe mình không còn nhiều, Hòa thượng trở về Huế lần cuối cùng, nhân dịp kỵ Tổ Phước Hậu và kỵ cố Hòa thượng Thích Trí Thủ, Ngài đi đảnh lễ, thăm viếng các Tổ đình, Bảo tháp và chư Tôn Thiền đức.
Sau khi trở lại Đà Nẵng, ngày 30 tháng 3 năm Ất Dậu, Hòa thượng phát bệnh nặng. Ban Trị sự Thành hội và môn đồ Pháp quyến đưa Ngài vào bệnh viện chữa trị. Mặc cho cơn bệnh tiếp tục phát tác, Ngài vẫn an nhiên và thường xuyên thăm hỏi các Phật sự. Chiều ngày 10 tháng 5 năm Ất Dậu, khi Sư đệ là Hồ thượng Thích Quang Nhuận từ Huế vào thăm, mặc dầu bệnh nặng Ngài vẫn bảo thị giả đỡ dậy. Cảm động trước cử chỉ này, Hòa thượng thưa: “Hòa thượng có chuyện gì căn dặn không?” Ngài lắc đầu, rồi nói hòa lẫn trong hơi thở: “tôi chỉ lo cho tiền đồ Đạo Pháp và Dân Tộc”. Đọc được nỗi lòng của Ngài, Hồ thượng Thích Quang Nhuận liền thưa một việc đáng mừng: “Ôn yên tâm, hiện nay tại Huế, chư Tăng đã hòa hiệp Bố-tát chung tại chùa Linh Quang rồi, sắp tới sẽ Tự tứ, Trai tăng rất lớn tại chùa Từ Đàm.” Ngài chắp tay tỏ vẻ hoan hỷ và nở nụ cười trên môi.
Trong suốt những ngày cuối cùng, mặc dù được Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Đà Nẵng, môn đồ Pháp quyến và các Y, Bác sĩ tận tình chăm sóc, nhưng sức khỏe đã kiệt, hạnh nguyện đã mãn, Ngài an nhiên thu thần thị tịch vào lúc 8 giờ ngày mồng 3 tháng 6 năm Ất Dậu (nhằm ngày 08/07/2005) tại chùa Thọ Quang – Đà Nẵng. Ngài trụ thế 83 tuổi đời, 56 tuổi đạo.
*
1.
TƯỞNG NIỆM
(của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tuyên đọc trong lễ Truy niệm Giác linh cố Trưởng lão Hòa thượng trước khi thỉnh kim quan nhập bảo tháp)
Trước khi cử hành lễ cung tống kim quan Hòa thượng nhập bảo tháp, nơi an nghỉ nghìn thu của trần thế, chúng tôi xin được thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Tăng Ni Phật tử Việt Nam có đôi lời tưởng niệm.
… Từ vùng đất địa linh nhân kiệt, lịch sử hào hùng, nước sông Hàn thao thao dòng diệu sử, đất Quảng Đà gió quyện mây từ, chan hòa Phước Trí, Hòa thượng đã hiện thân đại sĩ, giữa phàm trần không nhiễm hồng trần, tuổi ấu niên đã xuất gia tầm đạo, chùa An Hải xả tục cầu chân, bỏ ngồi ngàn dặm lòng tham dục, để lẽ huyền vi còn mãi trong tâm. Năm 27 tuổi đăng đàn thọ giới, ngôi Tam bảo tam tôn kế vị, giới thân huệ mạng trang nghiêm, thuận lý chân thường, xuôi dòng bản thể.
Cố Hòa thượng đã thắp sáng đèn thiền Liễu Quán, tục Phật huệ đăng, nối dõi dòng thánh, chùa Báo Quốc nghiên tầm nghĩa lý, đêm ngày nấu sử sôi kinh, thấu lẽ huyền vi, đạo tâm trác thế; trí tuệ khai thông, tâm hoa khai phát, suối nghĩa rạt rào. Quả thật “Hương thiền gió lộng tỏa ngàn phương, Trăng sáng năm xưa ngập dặm đường, Hương lòng quyện tỏa từ độ ấy, Mãi mãi ngàn sau vẫn ngát hương”.
Từ cương vị Giảng sư Hội Phật giáo Trung phần, Phó Ban đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Đà Nẵng rồi đến Chánh Đại diện Tỉnh Giáo hội Quảng Nam Đà Nẵng, Trưởng Ban trị sự Phật giáo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng và thành phố Đà Nẵng cho đến Ủy viên Hội đồng Trị sự, thành viên Hội đồng
Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhất là trong phong trào Phật giáo cứu quốc, Hòa thượng đã thể hiện trọn vẹn tinh thần, Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ bi, Hộ quốc An dân, Đẹp đời Tốt đạo; gióng trống lôi âm, vang rền tiếng Pháp, nêu cao gương uy mãnh giữa rừng tà. Hòa thượng đã tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, truyền trì đạo mạch, phát huy chân lý Đạo nhà một cách trong sáng và tích cực qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử.
Bằng tinh thần phụng sự Đạo pháp, kế vãng khai lai, báo Phật ân đức, gần 60 năm đóng vai long tượng trong Phật pháp, mô phạm chốn rừng thiền, Hòa thượng đã nỗ lực hoằng dương Chánh pháp, mở trường Phật học, đào tạo Tăng tài, kế thừa đạo mạch, làm cho tổ ấn trùng quang, đạo vàng xán lạn, xứng danh con nhà họ Thích ngàn đời.
Với đức tính vị tha vô ngã, nhiếp hóa mọi người, Hòa thượng đã làm cho những Tăng Ni, Phật tử hữu duyên phát khởi tín tâm, tu hành tinh tấn, vững bền đạo nghiệp, tiến bước trên đường giải thốt. Quả thật: Công Ngài đổ xuống đất này, Cho hoa Đạo pháp ngày ngày thêm tươi”.
Với tinh thần giới đức trang nghiêm, thanh tịnh, thân giáo, khẩu giáo, ý giáo thâm nghiêm, Hòa thượng đã hiện thân của giới luật, là thọ mạng của Phật pháp, đã khai thông Giới Thân Huệ mạng cho nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử. Qua đó, từng lớp, từng đàn giới tử, giới thể châu viên trang nghiêm dòng diệu thể, trở thành pháp khí Đại thừa truyền trì mạng mạch Phật pháp, Trưởng tử của Như Lai, tiến tu giải thốt, lợi lạc hữu tình, tốt đời đẹp đạo.
Bằng tinh thần hòa hợp đồn kết, thống nhất Phật giáo cao độ, Hòa thượng đã thể hiện nguyện vọng thống nhất Phật giáo của Tăng Ni, Phật tử cả nước, đã tiếp nối dòng sinh mệnh 2000 năm
lịch sử của Phật giáo Việt Nam, xây dựng thành công ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng qua đó Hòa thượng đã không ngừng đóng góp cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam, Tỉnh Thành hội Phật giáo Quảng Nam - Đà Nẵng, Thành phố Đà Nẵng ngày càng phát triển vững mạnh trang nghiêm, hưng thịnh trong lòng dân tộc, để rồi hoa đạo pháp nở rộ trong vườn hoa xã hội và đạo đời mãi mãi dung thông.
Thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau là những người thừa hưởng sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt Nam, là thừa hưởng gia tài quý báu của Hòa thượng đã đóng góp một phần công đức rất lớn trong sự nghiệp xây dựng, phát triển Phật giáo Việt Nam mà Hòa thượng đã thể hiện bằng sự sống, bằng hành động và ý chí của mình gần một thế kỷ qua.
Bằng hạnh nguyện khứ lai vô ngại, tự tại tùy duyên, làm Phật sự như không hoa, độ chúng sanh như huyễn hóa, vô tâm hành sự. Hạnh nguyện Hòa thượng thật tuyệt vời mà vô tướng vô tâm, quả thật: “Sắc tướng vốn không, mượn cảnh huyễn độ người như huyễn. Tử sanh nào có, nương thuyền từ độ kẻ trong mê”. Do đó, Hòa thượng đã thuận lý vô thường, trở về thế giới Niết bàn vô tung bất diệt lúc 08 giờ 00 ngày mồng 3 tháng 6 năm Ất Dậu (nhằm ngày 08.07.2005) tại chùa Thọ Quang, thành phố Đà Nẵng, trụ thế 84 năm, hạ lạp 57 năm.
Hôm nay, trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt này, cố Hòa thượng hóa duyên đã mãn; trong pháp giới vô biên, Hòa thượng đã ngao du tự tại, vận thần thông đoạn ngự cửu liên đài, xả báo thân chứng nhập pháp thân, siêu tịnh độ không rời uế độ.
Giờ đây trước Giác linh Hòa thượng, chúng tôi trong Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, Thành hội Phật giáo Thành phố Đà
Nẵng, là những người bạn đồng hành, đồng sự pháp Đại thừa trong Chánh pháp, xin nguyện lòng hợp lực cùng nhau, chung lưng đấu cật, quyết thực hiện hồn tất đoạn đường Phật sự mà Hòa thượng còn bỏ dở, đồng thời tiếp tục xây dựng và phát triển ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Đà Nẵng ngày càng hưng thịnh, trang nghiêm vững mạnh trong lòng dân tộc.
Giờ đây, nơi thế giới Niết bàn vô tung bất diệt, Giác linh Hòa thượng hãy ngao du tự tại, nơi bảo tháp trú xứ Thọ Quang, Nhục thân Hòa thượng hãy an nghỉ để nghìn thu in bóng mảnh hình hài lồng lộng tự hư không, sẽ sống mãi trong lòng pháp lữ, trong tư duy cùng pháp giới vô biên.
Xin bái biệt Hòa thượng !
2.
ĐIẾU VĂN
(của Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Đà Nẵng)
Kính bạch Giác linh Hòa thượng Thành viên Hội đồng Chứng minh, Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo thành phố Đà Nẵng, Trú trì chùa Thọ Quang.
Trong giờ phút trang nghiêm trọng thể, trước linh đài tỏa ngát khói hương, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Đà Nẵng vô cùng xúc động, từ hôm Hòa thượng ngã bệnh, Tăng Ni Phật tử, môn đồ Pháp lữ đều nóng lòng lo lắng, mong tin từng phút, từng giây về bệnh tình và sức khỏe của Hòa thượng. Trong tâm ai nấy đều chí thành cầu nguyện cho Hòa thượng sớm bình phục; nhưng mọi hy vọng đều trở thành vô vọng, Hòa thượng đã an nhiên viên tịch làm Ban Trị sự, Tăng Ni Phật tử Đà Nẵng mặc dù biết sanh, lão, bệnh, tử là
quy luật của đời người vẫn không làm sao nén được cái cảm giác kính nhớ đau thương. Phong cách, giọng nói của Hòa thượng tất cả đều vang vọng quanh đây, các văn bản, lời kêu gọi Tăng Ni Phật tử trong nước và đang sinh sống ở nước ngồi nỗ lực tham gia đóng góp công sức cho việc đại trùng tu chùa Pháp Lâm nhanh chóng sớm hồn thành, thế mà Hòa thượng đã đến nước Như Lai, vào nhà Từ phụ an nghỉ ngàn thu để lại trong lòng Giáo hội, trong lòng Tăng Ni Phật tử Đà Nẵng một khoảng trống vắng lớn lao.
… Sự vắng bóng của Hòa thượng là một tổn thất lớn cho Giáo hội, vì lòng yêu nước, yêu đạo, yêu hòa bình, suốt đời tích cực hoạt động xây dựng, củng cố. Với 84 năm thọ trần, 73 năm tu học hành đạo, gần như cả đời Hòa thượng cống hiến cho quần sanh, vì đạo pháp hiển vinh, tổ quốc hòa bình, dân sinh an lạc. Hạnh của Hòa thượng như vậy nên Ngài quyết đi theo con đường của đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni để cứu nhân độ thế.
Cuộc đời Hòa thượng sống trải qua ba thời kỳ, ba chế độ, nhưng đối với Ngài chỉ có một mục đích, một hồi bão mà thôi. Mục đích ấy là cứu độ chúng sanh, quên mình vì nghĩa cả. Hồi bão ấy là Phật giáo trường sinh phát triển, Tổ quốc hòa bình, Dân tộc độc lập, tự do, hạnh phúc. Thực tế Hòa thượng sớm kết duyên lành với ngôi Tam bảo cũng chỉ bởi:
Bỏ ngồi ngàn dặm lòng tham ái,
Để lẽ huyền vi còn mãi trong tâm
Cuộc đời sắc sắc không không
Chỉ còn lưu lại tấm lòng từ bi.
Trên bước đường chân lý, khi nhân duyên hội đủ luật Phật định kỳ, Hòa thượng đã được Bổn sư cho thọ Tam đàn Cụ túc tại Giới đàn Hộ Quốc ở Tổ đình Báo Quốc, Huế năm 1949 do Đại lão
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đường đầu, lúc đó Hòa thượng được 27 tuổi đời.
Kể từ đó, bằng hạnh duyên cao cả, hiền hòa hỷ xả, nhiếp hóa mọi người, đạo hạnh trang nghiêm, giới đức thanh tịnh, như ngọc lưu ly trong sáng, thân giáo, khẩu giáo, ý giáo viên dung tự thân tác tắc, xuôi dòng bản thể, thuận lý chân như, làm lẽ sống muôn đời cho đạo pháp, cho Tăng Ni tứ chúng, đối với những ai được Ngài tiếp hóa, đều phát khởi tín tâm tịnh tiến tu hành mong cầu giải thốt.
Với tinh thần tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, năm 1958 Hòa thượng đã cùng với chư Tôn đức trong Tỉnh hội Tăng già thành lập Phật học viện Phổ đà, tiền thân của Trường Trung cấp Phật học Đà Nẵng ngày nay để khai hạ đạo tràng, mở thông trí tuệ, đào tạo được nhiều thế hệ Tăng Ni Phật tử trở thành pháp khí đại thừa, làm lợi ích cho Đạo pháp và Dân tộc. Công đức thật cao như núi, rộng như biển không thể nào kể xiết. Thật là:
Đem thân phụng sự cõi trần
Trần duyên mãi một Pháp thân sáng ngời.
Qua ý nguyện vì dân vì nước, vì tổ quốc hòa bình độc lập, tự do, Hòa thượng đã thể hiện trọn vẹn tinh thần yêu nước nồng nàn, đồn kết dân tộc, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hòa bình hạnh phúc, đạo đời hòa quyện dung thông theo phương châm “Đạo pháp – Dân tộc”.
Với uy tín thanh trong và lòng trung thành nghĩa cả, Hòa thượng đã vận động các hệ phái Phật giáo ở địa phương sáp nhập vào ngôi nhà chung Gia đình Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng thống nhất Phật giáo Việt Nam suốt hai ngàn năm lịch sử truyền thừa, để từ đó ngày càng phát triển trang
nghiêm trong lòng dân tộc. Hòa thượng đã tạo nên sự vững bền gắn bó trong khối đại đồn kết tồn dân để chung sức chung lòng xây dựng quê hương.
Nhưng hỡi ơi ! Những tưởng trên con đường thực hành Phật sự, Hòa thượng sẽ còn thác tích lâu hơn để làm lợi lạc hữu tình, làm bóng cây đại thụ che mát cho Tăng Ni Phật tử thành phố quê nhà, tiếp tục chèo lái con thuyền Thành hội Phật giáo Đà Nẵng đến bờ bến hiển vinh.
Hòa thượng đã cống hiện trọn đời cho Đạo cho Đời, cuộc sống của Hòa thượng phải chăng là một sự đền ơn đáp nghĩa, một tấm gương sáng, một bài học vô cùng quý giá để cho hậu thế noi theo. Giờ này Hòa thượng được an nghỉ, công việc Phật sự còn lại, Ban Trị sự, Tăng Ni Phật tử Đà Nẵng xin nguyện quyết tâm ra sức thực hiện hồn thành như ý nguyện của Hòa thượng.
Nguyện cầu Giác linh Hòa thượng cao đăng Phật quốc.
*