Hòa thượng Thiện Siêu (1921 - 2001)
Chùa Từ Đàm và Thuyền Tôn – Huế
Ngài họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tự Trí Đức, hiệu Thiện Siêu. Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) trong một gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế.
Thân phụ là Cụ ông Võ Trọng Giáng Pháp danh Tâm Lương, thân mẫu là Cụ bà Dương Thị Viết Pháp danh Nguyên Điền. Ngài là con trưởng trong một gia đình có 5 anh em: 3 trai, 2 gái. Người em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ – Bảo Lộc.
Vốn có túc duyên với Phật pháp, năm 14 tuổi (1935), được sự đồng ý của song thân, Hòa thượng xin xuất gia. Ban đầu, Ngài được gởi vào tu ở chùa Quan Thánh (còn gọi là chùa Ông, gần chùa Diệu Đế – Huế) với thầy Mật Khế.
Thuở nhỏ, Ngài là người hiền lành, thông minh và hiếu thuận. Ngài được song thân cho học chữ Hán với các vị thâm nho nổi tiếng ở trong làng. Những sách Ngài đã được học qua thời bấy giờ như Tam tự kinh, Minh tâm bảo giám... và được Thầy yêu bạn mến. Ở chùa Quan Thánh được một thời gian ngắn, Ngài được lên học Phật pháp tại chùa Trúc Lâm, xã Thủy Xuân – Huế. Khi Hội An Nam Phật học mở trường để đào tạo Tăng tài, Ngài được tuyển chọn vào học lớp này, do Hòa thượng Giác Tiên chứng minh chủ trì, Hòa thượng Trí Độ làm Đốc giáo, Cư sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám và một số vị Cư sĩ trí thức có nhiệt tâm với đạo phụ giảng. Đồng học lớp này với Ngài có rất nhiều Hòa thượng, nay các Ngài còn lại rất ít, tuổi đã ngồi 80, như: Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Trí Quang, Hòa thượng Trí Nghiễm (đã viên tịch)... Trường được đặt tại chùa Báo Quốc. Đây là trường Phật học đầu tiên của Hội An Nam Phật học mở.
Gần 10 năm (1936-1945) theo học các lớp Sơ, Trung, Đại học Phật học, Hòa thượng đã Tốt nghiệp hạng ưu. Năm 28 tuổi (1949), được Hòa thượng Bổn sư là Đại lão Hòa thượng Giác Nhiên cho phép, Ngài thọ giới Cụ túc tại Giới đàn Báo Quốc – Huế (1949), do cố Đệ nhất Tăng thống Tịnh Khiết làm Đàn đầu Hòa thượng.
Đến năm 1944, do hồn cảnh chiến tranh nên Trường lại được chuyển lên Tòng lâm Kim Sơn, xã Lựu Bảo, ngoại ô kinh thành Huế. Đây là Tòng lâm duy nhất của Phật giáo Trung Phần lúc bấy giờ. Tại đây, Hòa thượng cùng với quý Hòa thượng Trí Quang, Trí Tịnh, Trí Nghiễm... vừa là Giảng sư của Hội, vừa phụ trách giảng dạy các lớp Sơ và Trung đẳng của Trường.
Năm 26 tuổi (1947), Ngài được Giáo hội cử làm Trú trì chùa Từ Đàm – Huế và giảng dạy cho Tăng Ni ở Phật học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Đức – Huế.
Năm 1951, Hòa thượng được mời tham gia phái đồn Phật giáo miền Trung dự Hội nghị Thống nhất Phật giáo ba miền tại chùa Từ Đàm – Huế.
Từ năm 1951-1955, Hòa thượng được bầu làm Chánh Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên. Chính trong thời gian này, Ngài đã ra quyết định hợp thức hóa nội qui thành lập các Khuôn hội Tịnh độ trong khắp tồn tỉnh.
Năm 1957, Tổng Trị sự Phật giáo Trung phần cử Ngài làm Đốc giáo Phật học đường Trung Việt tại chùa Hải Đức - Nha Trang.
Năm 1962, Ngài được mời ra Huế đảm trách chức vụ Hội trưởng Hội Phật học Thừa Thiên và tham gia giảng dạy cho Tăng Ni ở Phật học đường Báo Quốc, Ni viện Diệu Đức cũng như tham gia các Phật sự tại Tổng trị sự Phật giáo Trung phần và Giáo hội Tăng già tỉnh Thừa Thiên Huế.
Năm 1963, Ngài được bầu làm Hội trưởng Tỉnh hội Phật học Thừa Thiên.
Cũng trong năm 1963 này, khi chế độ Ngô Đình Diệm triệt hạ cờ Phật giáo và vụ thảm sát ở Đài phát thanh Huế xảy ra, Ngài đại diện cho Phật giáo Thừa Thiên, là một trong năm tập đồn Phật giáo miền Trung đóng tại chùa Từ Đàm – Huế, ký vào 5 điều Kiến nghị, phản đối chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Đêm 20.8.1963, Ngài bị bắt giam tại Ty Công an Thừa Thiên, cho đến khi chính quyền Diệm bị lật đổ, Ngài mới được trả tự do ngày 9 tháng 11 năm 1963.
Năm 1964-1974, Hòa thượng được mời làm Phó giám viện Phật học viện Báo Quốc, Phó đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Tỉnh Thừa Thiên, Phó Đại diện Phật giáo miền Vạn Hạnh; cùng quý Hòa thượng Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển và
Mật Nguyện... tham gia điều hành và giảng dạy lớp Cao đẳng Phật học chuyên khoa Liễu Quán tại chùa Linh Quang – Huế. Đây là lớp đào tạo Giảng sư Phật học của Phật giáo miền Vạn Hạnh. Đồng thời Hòa thượng còn được mời giảng dạy cho các Tòng lâm ở nhiều nơi khác như Đà Nẵng, Nha Trang, Tây Nguyên và Sài Gòn... Chính thời gian này, dù bộn bề công việc, nhưng Ngài đều hồn thành tốt các Phật sự được Giáo hội giao phó.
Năm 1965, Hòa thượng được mời làm Tuyên luật sư, khai đạo giới tử cho giới đàn Từ Hiếu – Huế. Năm 1968, Ngài khai đạo giới tử cho Giới đàn Phật học viện Hải Đức – Nha Trang. Năm 1970, Ngài lại được mời làm Tuyên luật sư, khai đạo giới tử cho Giới đàn Vĩnh Gia – Đà Nẵng.
Năm 1973, Hòa thượng được cử giữ chức vụ Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức – Nha Trang.
Năm 1973-1974, Đại hội Phật giáo Thống Nhất kỳ 4 họp tại chùa Ấn Quang, đã cử Ngài giữ chức Tổng Thư ký Viện Hóa đạo GHPGVNTN.
Năm 1979, Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài được môn phái cử giữ chức Trú trì Tổ đình Thuyền Tôn – Huế.
Năm 1980, Ngài làm Giáo thọ cho Giới đàn Thiện Hòa tại chùa Ấn Quang – Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1981, Ngài được cử làm Trưởng phái đồn, đại diện cho GHPGVNTN, dự Đại hội Thống nhất Phật giáo cả nước tại chùa Quán Sứ – Hà Nội. Trong Đại hội này, Ngài được cử giữ chức vu Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương GHPGVN.
Năm 1981-1984, Ngài được mời giảng dạy tại Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, đặt tại chùa Quán Sứ – Hà Nội.
Năm 1982-1988, Ngài được Giáo hội tỉnh Phú Khánh cung thỉnh làm Trưởng ban Trị sự tỉnh Phú Khánh liên tiếp hai nhiệm kỳ.
Năm 1984-1988, Giáo hội cung cử Ngài giữ chức Phó Hiệu trưởng và Giáo thọ cho Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, đặt tại Thiền viện Vạn Hạnh – Tp. Hồ Chí Minh.
Năm 1984, Ngài được cung cử vào chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Năm 1987, Hòa thượng khai đạo giới tử cho Giới đàn Báo Quốc - Huế.
Năm 1988, khi Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam được thành lập, Hòa thượng được suy cử làm Phó Viện trưởng.
Từ tháng 4 năm 1987, Ngài được bầu vào Đại biểu Quốc Hội liên tiếp 3 khóa: Khóa 8, 9 và khóa 10.
Năm 1991, Giáo hội cung cử Ngài làm Phó chủ tịch Hội đồng Phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam, đặc trách Hán tạng.
Năm 1993, Ngài được cung thỉnh làm Tuyên Luật sư, Yết-ma cho giới đàn Thiện Hòa tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Năm 1994, Hòa thượng lại được thỉnh làm Yết-ma tại Giới đàn Báo Quốc – Huế.
Năm 1994-2001, Giáo hội cung cử Ngài làm Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học (nay là Trường Trung cấp Phật học) Thừa Thiên Huế.
Năm 1997, Ngài được Giáo hội cung cử làm Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế cho đến ngày viên tịch.
Năm 1999, Hòa thượng được Ban trị sự Tỉnh Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên - Huế cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng Giới đàn Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân – Huế.
Năm 2000, Ngài đứng ra Đại trùng tu Tổ đình Thuyền Tôn –
Huế và tôn tạo ngoại thành tháp Tổ sư Liễu Quán đã hồn thành một cách trang nghiêm viên mãn.
Năm 2001, Ngài tham dự Lễ Tốt nghiệp Trung cấp Phật học và chính thức trao quyền Hiệu trưởng lại cho Ban Trị sự Phật giáo Tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Trung tuần tháng 9 năm 2001, Ngài chủ trì Lễ tốt nghiệp và Cấp phát văn bằng Cử nhân Phật học cho Tăng Ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, khóa I (1997-2001). Sau đó Ngài đã chỉ đạo cho Hội đồng Điều hành Học viện chiêu sinh khóa II (2001-2005); kết quả là gần 200 Tăng Ni sinh trúng tuyển. Trước khi đi xa, Ngài đã ra quyết định đề suất bổ sung nhân sự vào Hội đồng Điều hành và căn dặn quý vị trong Hội đồng Điều hành chuẩn bị khai giảng khóa II cho Tăng Ni sinh vào học. Lớp học được khai giảng hai hôm thì Ngài viên tịch. Cũng trong năm này, Ngài đã chứng minh Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Gia đình Phật tử Việt Nam, tổ chức tại Tổ đình Từ Đàm – Huế.
Suốt cả cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến khi viên tịch, Hòa thượng là một tấm gương sáng ngời về phạm hạnh và hoằng hóa cho Tăng, Ni, Phật tử noi theo.
Trong cuộc đời của Hòa thượng, điều tối quan trọng đối với Ngài là dành nhiều thì giờ cho việc phiên dịch, biên soạn và in ấn Kinh điển để giúp Tăng Ni, Phật tử có thêm tài liệu nghiên cứu, tu tập. Những công trình dịch thuật và biên soạn gồm có: Kinh Thủ Lăng Nghiêm (1940), dịch tiếp phần sau khi Cư sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám ra Bắc; Phát Bồ-đề tâm văn (1952); Kinh Kiến chánh (1953); Kinh 42 chương (1958); Kinh Trường A-hàm (lược dịch - 1959); Kinh Pháp cú (1962); Tân Duy thức luận (1962); Đại cương Luận Câu-xá (1978); Luận Thành duy thức (1995); Luận Đại trí độ
(5 tập, 1997-2001); Trung luận (2001); Nghi thức tụng niệm (đồng soạn, 1958); Nghi thức thọ Bồ-tát giới tại gia (1958); Luận Câu-xá (1987); Vô ngã là Niết-bàn (1990); Tỏa ánh từ quang (1992); Lối vào Nhân minh học (1995); Cương yếu Giới luật (1996); Chữ Hiếu trong đạo Phật (đồng soạn, 1997); Ngũ uẩn vô ngã (1997); Kinh Pháp hoa giữa các kinh điển Đại thừa (1997); Trí Đức văn lục (9 tập, 1994-2001); và nhiều bài biên khảo đăng tải ở các Tạp chí từ 1940-2001, như: Viên âm (1940); Phật giáo Việt Nam (1960); Liên hoa (1961); Giác ngộ (1982); Tập văn - Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN (1985-2001). Ngồi ra, Ngài còn hiệu đính cho công trình dịch thuật Đại tạng kinh Việt Nam của Giáo hội, phần Hán tạng như: Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tạp A-hàm... Các bộ trên đã được in thành sách và xuất bản.
Năm 1981, Hòa thượng tham gia phái đồn Phật giáo Việt Nam dự hội nghị Tôn giáo vì Hòa bình chống chiến tranh hạt nhân tại Moscow.
Tháng 9 năm 1985, Ngài làm Trưởng đồn đại biểu GHPGVN thăm hai nước Liên Xô và Mông Cổ. Năm 1989, Ngài làm Đại diện GHPGVN tham dự Hội nghị Hòa Bình Châu Á, tổ chức tại Mông Cổ.
Năm 1994, Ngài làm Trưởng phái đồn Chiêm bái Phật tích tại Ấn độ. Năm 1995, Hòa thượng là thành viên của phái đồn Quốc hội Việt Nam do chủ tịch Nông Đức Mạnh dẫn đầu đi thăm một số nước Đông Âu và Nghị viện Châu Âu.
Năm 1998, Hòa thượng là Thành viên của phái đồn Phật giáo Việt Nam sang thăm và dự Lễ Khánh thành tháp Hòa Bình tại Đài Loan. Năm 1999, Ngài làm Trưởng phái đồn Phật giáo Việt Nam sang thăm hữu nghị Phật giáo Trung Quốc.
Hòa thượng đã truyền thọ Ngũ giới, Thập thiện và Bồ-tát giới tại gia cho hàng ngàn Phật tử khắp ba miền đất nước. Ngài đã độ rất nhiều đệ tử xuất gia. Nhiều vị đã và đang phục vụ cho Giáo hội ở cấp Trung ương cũng như các tỉnh thành khắp cả nước. Nổi bật nhất là ở các ngành Giáo dục, Văn hóa, Từ thiện xã hội và Y tế.
Hòa thượng đã cùng Hội đồng Điều hành Học viện chỉ đạo tiến hành xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế (nguyên là chùa Hồng Đức do Ni trưởng Thích Nữ Diệu Không dâng cúng cho Giáo Hội để làm nơi đào tạo Tăng tài). Cơ sở vật chất của Học viện khang trang như hiện nay, một phần là do uy tín và công sức lớn lao của Ngài.
Với những công đức mà Hòa thượng đã đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc, vào năm 2000, Chính phủ Việt Nam trao tặng Hòa thượng Huân chương Độc lập hạng nhì; vào năm 2001, GHPGVN đã tuyên dương Công đức Hòa thượng .
Tháng 4 năm Canh Thìn (2001), Ngài phát bệnh. Môn đồ và đệ tử đã thỉnh Ngài vào chữa trị ở bệnh viện Chợ Rẫy – Thành phố Hồ Chí Minh gần 9 tháng. Sau đó, Ngài được thỉnh ra Huế để chữa trị tại bệnh viện Trung ương.
Tháng 9 năm 2001, bệnh cũ tái phát nặng. Mặc dù đã được Ban Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế cùng các Giáo sư, Bác sĩ, Y sĩ và môn đồ tận tình chăm sóc, nhưng báo thân đã mãn, Ngài đã an nhiên thu thần thị tịch vào lúc 16 giờ 30 ngày 03 tháng 10 năm 2001 (nhằm ngày 17 tháng 8 năm Tân Tỵ) tại Tổ đình Từ Đàm - Huế. Ngài trụ thế 80 tuổi đời, 52 Hạ lạp
*
1.
ĐIẾU VĂN
(của Hội Đồng Chứng Minh và Hội Đồng Trị Sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam)
(Đọc trước giờ Cung nghinh Kim quan Cố Trưởng lão Hòa thượng thượng Thiện hạ Siêu thăng thượng giá, lúc 8 giờ ngày 10 tháng 10 năm 2001, tức 23.8 Tân Tỵ)
- Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX, X.
- Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Trưởng Ban Giáo dục Tăng, Ni Trung ương,
Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế,
Trú trì Tổ đình Từ Đàm và Thuyền Tôn – Huế.
Nam-mô Bổn sư Thích - ca Mâu-ni Phật
Trước khi cử hành lễ cung tống Kim quan Hòa thượng nhập Bảo Tháp, nơi an nghỉ ngàn thu của trần thế, chúng tôi xin được thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tỉnh hội Phật giáo Tỉnh Thừa Thiên Huế và Tăng Ni, Phật tử Việt Nam có đôi lời tưởng niệm.
Kính bạch Giác linh Hòa thượng,
Đèn thiền Liễu Quán còn soi bóng
Nguồn nước sông Hương vẫn xuôi dòng
Pháp thân chiếu diệu còn lồng lộng
Thuyền Tôn chốn Tổ ấm gia phong
Giáo hội kính ghi gương đức hạnh
Từ Đàm còn mãi bóng chân nhân.
Nhớ Giác linh xưa, từ nơi chơn tánh hiện thân Đại sĩ, Võ gia phong thọ mạng một đời, xứ Thần kinh trăm năm trác tích, giữa
phàm trần không nhiễm hồng trần. Nước Hương giang thao thao dòng tiểu sử, núi Ngự Bình gió quyện mây lành, làng Hương Thủy sáng ngời Tâm Phật. Năm 14 tuổi, Hòa thượng đã xuất gia. Chùa Báo Quốc quyết chí tu hành, đến Thuyền Tôn kế thừa Tổ ấn, thượng hoằng Phật đạo hạ hóa chúng sinh, bỏ ngồi ngàn dặm lòng tham dục, để lẽ huyền vi mãi ở trong.
Trên bước đường trở về bản thể, thuận lý chơn như, chùa Báo Quốc cầu thọ Tam đàn, Ngài Trừng Thủy đàn đầu Hòa thượng, giới thể châu viên, Tam Tôn kế vị. Trí Đức trang nghiêm như nhật nguyệt, tâm từ vòi vọi tợ hư không, địa linh nhân kiệt muôn đời nêu chí cả.
Cố Hòa thượng đã thắp sáng đèn Thiền Liễu Quán, tục Phật huệ đăng, nối dõi dòng thánh. Chùa Trúc Lâm, Báo Quốc, Hòa thượng đã nghiên tầm nghĩa lý, đêm ngày nấu sử sôi kinh, thấu lẽ huyền vi, đạo tâm trác thế; trí tuệ khai thông, tâm hoa khai phát, suối nghĩa rạt rào. Kể từ đấy: "Hương thiền gió lòng tỏa ngàn phương, trăng sáng năm xưa ngập dặm đường, hương lòng quyện tỏa từ độ ấy, mãi mãi ngàn sau vẫn ngát hương".
Bằng tinh thần phụng sự Đạo pháp, kế vãng khai lai, báo Phật ân đức, hơn 50 năm đóng vai long tượng trong Phật Pháp, mô phạm chốn rừng Thiền, Hòa thượng đã nỗ lực hoằng dương Chánh Pháp, mở Phật học đường, các trường Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam để đào tạo Tăng tài, kế thừa Đạo mạch, làm cho Tổ ấn trùng quang, Đạo vàng xáng lạng, xứng danh con nhà họ Thích ngàn đời. Quả thật, giữ gìn Tổ ấn tông phong, tốt đời đẹp đạo giữa lòng nhân gian.
Từ cương vị Chánh Hội trưởng Tỉnh hội Phật học Thừa Thiên vào những năm 1950; Phó đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam
miền Vạn Hạnh, cho đến Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Trưởng Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, trong năm thập niên qua, Hòa thượng đã thể hiện trọn vẹn tinh thần đại hùng đại lưc, đại từ bi, hộ quốc an dân, đẹp đời tốt đạo; gióng trống lôi âm vang rền tiếng Pháp, nêu cao gương uy mãnh giữa rừng tà. Hòa thượng đã vận dụng tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, truyền trì đạo mạch, phát huy chân lý đạo nhà một cách trong sáng và tích cực qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử. Với đức tính vị tha vô ngã, nhiếp hóa mọi người, Hòa thượng đã làm cho những Tăng Ni, Phật tử hữu duyên phát khởi tín tâm, tu hành tinh tấn, vững bền đạo nghiệp, tiến bước trên đường giải thóat. Quả thật, công ai đổ xuống đất này, cho hoa Đạo pháp ngày ngày thêm tươi.
Với tinh thần Giới đức trang nghiêm, thanh tịnh, thân giáo, khẩu giáo, ý giáo viên dung, Hòa thượng đã hiện thân của Giới luật, là thọ mạng của Phật pháp, là người khai thông giới thân huệ mạng cho nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử. Hòa thượng đã đăng đàn thí giới, khắp chốn Tòng lâm, trường hương, khóa hạ xứ Thần kinh cho đến Phú Khánh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sài thành một thuở. Qua đó, từng lớp, từng đàn giới tử, giới thể châu viên trang nghiêm dòng diệu thể, trở thành pháp khí Đại thừa truyền trì mạng mạch Phật Pháp, trưởng tử của Như Lai, lợi lạc hữu tình, vẹn tròn nhân Phật, tốt đạo đẹp đời. Quả thật, lời Thầy ý Tổ còn đây, Hoa nghiêm suối ngọc dựng xây đạo tràng.
Bằng tinh thần hòa hợp đồn kết, thống nhất Phật giáo cao độ, Hòa thượng đã thể hiện được nguyện vọng Thống nhất Phật giáo của Tăng Ni, Phật tử cả nước; Hòa thượng đã tiếp nối dòng sinh mạng năm 2000 lịch sử của Phật giáo Việt Nam, xây dựng thành công ngôi nhà Thống nhất Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo
Tỉnh Phú Khánh, Thừa Thiên Huế Cố Đô văn vật ngàn đời. Qua đó, Hòa thượng đã không ngừng làm cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, trang nghiêm, hưng thịnh, huy hồng trong lòng dân tộc, để rồi hoa Đạo pháp nở rộ trong vườn hoa xã hội và Đạo đời mãi mãi dung thông.
Thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau, là những người thừa hưởng sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt Nam, là thừa hưởng gia tài quý báu của Hòa thượng đã đóng góp một phần công đức rất lớn trong sự nghiệp xây dựng, phát triển Phật giáo Việt Nam, trong tinh thần Hòa hợp Dân tộc, xây dựng Hòa bình, Thống nhất Tổ quốc theo phương châm hoạt động của Giáo hội: "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội" mà Hòa thượng đã thể hiện bằng sự sống và bằng hành động, bằng ý chí của mình. Quả thật, hạnh nguyện sáng soi gương kim cổ, chí cả rạng ngời với núi sông.
Bằng hạnh nguyện khứ lai vô ngại, tự tại tùy duyên làm Phật sự như không hoa, độ chúng sanh như huyễn hóa, vô tâm hành sự, như Hòa thượng đã từng huấn thị: "Sắc tướng vốn không, mượn cảnh huyễn độ người mê muội; tử sanh nào có, nương thuyền từ vớt kẻ trầm luân". Hạnh nguyện Hòa thượng thật tuyệt vời và vô tướng, vô tâm như người xưa đã nói: "Nước chảy theo khe nào cố ý, khói tỏa bay cao vẫn vô tâm".
Hôm nay Hòa thượng đã thuận lý vô thường, trở về với chân như pháp giới, để lại một sự trống vắng vô cùng cho Giáo hội, một sự mất mát to lớn này, chúng tôi và Tăng Ni, Phật tử Việt Nam không sao tìm lại được trong kiếp người hữu hạn. Than ôi, "người xưa nay đã còn đâu, chỉ còn mây bạc lòng sầu tiếc thương; ra vào lòng dạ vấn vương, sông Hương núi Ngự sương sa phủ mờ". Song công đức và đạo hạnh của Hòa thượng vẫn còn sống mãi trong tâm tư và ký ức của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Nhất là đèn Thiền còn tỏa sáng,
đuốc Tuệ tiếp tục rạng soi, Chư tôn Giáo phẩm và tồn thể Tăng Ni trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam mãi mãi nguyện đồn kết một lòng trong tình Linh sơn cốt nhục, nghĩa Thiên thai trong sáng đời đời. Tất cả chúng tôi là những người bạn đồng hành, đồng sự còn lại, nguyện kề vai sát cánh bên nhau, nối tiếp sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp, lợi lạc chúng sanh, duy trì và phát triển ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng trang nghiêm, vững mạnh huy hồng, góp phần thực hiện hữu hiệu phương châm hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam "Đạo pháp, dân tộc, chủ nghĩa xã hội" mà Hòa thượng còn bỏ dở, để gọi là thể hiện mối tâm giao tình pháp lữ muôn đời trong Chánh pháp.
Giờ đây, trong thế giới Niết-bàn vô tung bất diệt, nơi đất Tổ xứ thần kinh, trong Bảo tháp trang nghiêm, thân tứ đại Hòa thượng hãy miên viễn nằm đấy cho ngàn thu vang bóng: Với pháp thân lồng lộng hư không, sẽ sống mãi trong lòng pháp lữ, trong tư duy cùng pháp giới chân như.
Xin bái biệt Hòa thượng.
TƯỞNG NIỆM
TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
(1921 – 2001)
Hòa thượng họ Võ, thế danh Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật, tự Trí Đức, hiệu Thiện Siêu, Đại sư đời thứ 43 dòng Lâm tế.
Sinh tại làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế trong một gia đình Nho phong tin Phật; xuất gia tuổi từ rất sớm, kiên trì giới luật, dốc chí tu học Phật pháp, Hòa thượng là một trong những học Tăng ưu tú về mặt trí tuệ cũng như đức hạnh, được Giáo thọ sư đốc giáo lúc bấy giờ ban cho tự hiệu là Trí Đức, Bích Phong Hòa thượng có tặng bài kệ khen rằng :
Chẳng tự chẳng tha,
không ly không tức.
chứng được là ai ?
ấy là Trí Đức.
Kể từ phong trào chấn hưng Phật giáo đến nay, từ Bắc vào Nam, Hòa thượng luôn diễn xướng Pháp âm trên giảng tòa các Đạo tràng Pháp hội, là ngôi sao không bao giờ tắt trong các Phật học đường, Phật học viện, Viện nghiên cứu, là chỗ trụ tâm yên ổn cho bao thế hệ Tăng Ni sinh khắp các miền đất nước.
Trước tác, phiên dịch, diễn giảng, đào tạo và giáo dục Tăng tín đồ, lợi lạc chúng sinh là cứu cánh cuộc hành trình hóa đạo của Hòa thượng.
Báo thân viên mãn, Hòa thượng thị tịch năm 53 hạ lạp.
Vô sắc bấy giờ trời nhỏ lệ,
Đêm nao rừng Hạc tịch vô thanh,
Quảy dép lên đường về xứ Phật,
Ân sư thùy phạm nguyện viên thành.
Chúng con môn đồ pháp quyến, lớp lớp Tăng Ni học chúng đệ tử được ân pháp nhũ, nhất tâm đồng niệm đảnh lễ.
Nam mô Tự Lâm tế chính tông Tứ thập tam thế húy thượng Tâm hạ Phật, tự Trí Đức, hiệu Thiện Siêu, Trú trì Từ Đàm Thuyền Tôn Tổ đình nhị tự.
Ngữa mong Giác linh Hòa thượng thùy từ gia hộ cho đạo nghiệp chúng con.
Cố đô Thuận Hố, năm Quý Mùi, tiết Trọng Thu tháng 8 ngày tốt
Môn đồ pháp quyến, học chúng, Phật tử đồng tưởng niệm
3.
Thầy tôi trong cõi gió trăng
Gs.Cao Huy Thuần
Từ bao giờ Thầy là Thầy của tôi? Lúc nhỏ, tôi đâu dám bước chân vào chùa Từ Đàm to lớn thế? Chùa của tôi lúc đó là Kim Tiên, nơi tôi thường theo mẹ tôi đến thắp hương trên mộ những người thân. Lên Kim Tiên phải đi qua Từ Đàm, nhưng đó là thế giới của “các bác”, của “giảng đường”, của “Ban Trị sự”, không phải thế giới của tôi, đứa bé đi chùa chỉ cốt làm vừa lòng mẹ. Bỗng nhiên tôi nhảy vọt một bước từ bờ bên này qua bờ bên kia. Chưa là “bác”, tôi bỗng thấy mình được ngồi hầu trà các bậc Thầy lớn ở Từ Đàm, lại còn được ngồi cùng bàn trai tăng, ăn ké dĩa hột bùi mà sau này tôi mới biết là món ăn quý của các thầy ở Huế, dù chỉ là trái cây ướp muối. Buổi tối, trời nóng, tôi được ngồi góp chuyện với các bậc trưởng thượng ngồi sân, ngồi khá gần để “dạ” và “thưa” nhưng khá xa để không dám hưởng làn gió mát cực lạc từ cánh quạt của chú tiểu đứng hầu sau lưng.
Như vậy Thầy là thầy của tôi tử thuở Từ Đàm là trái tim của Phật giáo hồi sinh? Chắc cũng chưa phải, bởi vì Thầy tôi hiền hòa, ít nói, mà thời thế lúc đó đòi hỏi một cặp mày quắc thước, một giọng nói sang sảng. Thành phố lúc đó ào ào tiếng quân đi, ngựa hý; Thầy tôi như người ngồi vót tre giữa đường: có ai từng thấy người ngồi chẻ lạt mở miệng nói chuyện phiếm bao giờ đâu? Người chẻ lạt rành nghề nhắm mắt vuốt tre cũng được, nhưng bao giờ cũng chăm chú như để hết tâm can vào đường dao. Lúc đó, tôi thích nghe tiếng ngựa hý hơn là ngồi nhìn đường đao của Thầy tôi chứ ! Vậy từ bao giờ Thầy là thầy của tôi?
Ngự lãnh thanh phong phất diện vấn thùy năng tác Phật
Bình tiền khô mộc đãi nhân tri ngộ vị khai hoa
Câu đối đó đâu phải dành riêng cho tôi!
Gió lành đỉnh Ngự phơ phất trên mặt hỏi ai hay làm Phật
Cây khô truớc núi chờ người tri ngộ để nở hoa
Thầy tôi nở hoa cho bao nhiêu người tri ngộ, riêng gì mình tôi! Vả chăng, đêm qua cây hãy còn khô trước Ngự Bình, mới ngủ qua đêm hoa đã trắng đầu núi. Hoa trắng lúc nào vậy? Lúc nào Thầy là thầy của tôi? Nửa đêm hay đầu sáng?
Thầy tôi viết rất nhiều, chữ nghĩa đầy bụng, nhưng ít nói chữ. Lần nào về nước tôi cũng ước mong được học thêm vài chữ, nhưng chưa bao giờ được đọc chung một trang sách với Thầy tôi. Thầy ít nói, trò cũng lây tánh Thầy. Nhưng hễ Thầy tôi nói chữ nào là tôi ghim chữ nấy kỹ lắm. Có lần ngồi ăn bên cạnh Thầy, tự nhiên Thầy nhắc đến một ông tác giả nào đó bên Mỹ viết cả trăm trang sách để chỉ trích Phật giáo chủ trương diệt ngã. Tôi có đọc lống thống đâu đấy rồi chẳng để ý làm gì mất công. Nghe Thầy nhắc, tôi chợt lúng túng, chưa biết trả lời thế nào, ngồi chờ Thầy nhai xong miếng cơm. Xong, Thầy gác đũa, nói: “có ngã đâu mà diệt?” Tôi vỡ lẽ, thấy mình sao mà dốt thế, loay hoay làm gì cho mệt ! Tôi thường học với Thầy tôi những chuyện như thế. Nhưng có gì là chữ nghĩa bác học đâu !
Huống hồ Thầy tôi ăn nói rất bình dân. Sự thực, Thầy không nói “có ngã đâu mà diệt?”. Thầy nói: “ngã mô mà diệt?” Chuyện triết lý mà cứ nghe như chuyện trái bí trái bầu. Chữ “mô”, tuy vậy vẫn còn văn minh; Thầy tôi còn dùng nhiều chữ đặc sệt nhà quê hơn nữa. Có lần tôi hỏi: Thì giờ đâu mà Thầy dịch cả bộ luận Đại Trí Độ mấy ngàn trang như vậy? Thầy nói: “rảnh khi mô mần khi
nấy”. Rảnh lúc nào làm lúc đó. Chữ làm, nghe đã diễu rồi, giống như khi có ai đến nhà chơi giữa bữa cơm, chủ nhà mời: ăn chưa, làm một chén nhé! Từ làm đến mần, không những quê mà còn nghịch. Dịch mấy ngàn trang chữ Hán mà dỡn như vịt lội dưới ao.
Những chữ địa phương bình dân, quê mùa như vậy, Thầy tôi đưa luôn vào văn chương. Giữa chùa Từ Đàm văn học, khách vào giảng đường gặp ngay hai câu đối:
Một chút giận, hai chút tham, lận đận cả đời ri cũng khổ
Trăm điều lành, nghìn điều nhịn, thong dong tấc dạ rứa mà vui
Đưa tôi vào đạo Phật như thế với nụ cười tủm tỉm, Thầy tôi đâu cần mở trang sách nào dạy tôi? Vậy từ bao giờ Thầy là thầy của tôi? Từ khi tôi bước chân vào giảng đường chùa Tử Đàm?
Có hai lần trong đời tôi được đứng sau lưng Thầy tôi để hướng về Phật. Lần thứ nhất là khi Thầy đến nhà thắp hương cho thân phụ tôi. Thầy quỳ xuống niệm hương rất lâu, lâu như một tiếng chuông ngân, ngân mãi, ngân xa, xa mãi, không bao giờ dứt. Tôi thương Thầy tôi nên cùng đi theo Thầy trong tiếng chuông, đi mãi, đi xa, xa mãi, như không dừng. Lần thứ hai, tôi đứng sau lưng Thầy niệm Phật trước khi bắt đầu giảng bài ở Học Viện. Tôi thương Thầy tôi nên cùng đi theo Thầy trong tiếng nam mô, theo mãi, theo xa, xa mãi, chỉ còn nghe gió thoảng trên mái hiên trống.
Tục đoạn khởi thần chung thức đắc tiêm trần bấp trước nhãn
Vinh khô thành mộng huyễn giác lai thế giới tổng duy tâm
Mở tiếng chuông, khi dứt nối một mảy bụi trần không dính mắt. Hiểu được cảnh mộng huyễn tươi khô rõ ràng tam giới chỉ do tâm. Đố ai thấy một hạt bụi nào vướng trong tiếng chuông ngân. Tôi nói thấy, chứ không nói nghe, bởi vì lắng nghe theo chuông ngân, rõ ràng ta thấy tiếng chuông đi xa. Đó là cái thấy mà tôi
không dùng với mắt, và tôi biết chắc rằng ai cũng có thể thấy như vậy, chỉ cần đi theo tiếng chuông và đừng nghĩ gì khác. Và cũng vậy, ai cũng có thể đi theo hình ảnh một cành cây khô mùa đông, một cành cây tươi mùa xuân, đi theo mãi, đi xa nữa, đi tận cùng vào bên trong từng thớ vỏ, đường gân. Trong cành khô đó, bao nhiêu xao động, bao nhiêu giọt sữa, giọt nhựa, giọt mầm, ai bảo nó khô? Trong cành tươi kia, kìa, một chiếc lá run rẩy, một cánh hoa úa màu, ai bảo nó tươi? Trong vài ngày, trong vài tuần, màu xanh sẽ nhú ra trên cành khô: nó khô bao giờ? Trong vài đêm, trong vài sáng, cành tươi kia sẽ không còn chiếc lá, vẫn nó đấy nhưng đâu là tươi? Với con mắt bên ngồi, ai cũng nói tươi khô. Đứng sau lưng Thầy tôi, đi theo tiếng chuông với con mắt bên trong, tươi khô chỗ nào? Đang tươi là khô, đang khô là tươi, Thầy tôi bảo tươi khô chỉ là một, không khác. Giá thử có ai cho mình viên thuốc thần, chui vào chăn ấm đánh một giấc chẵn một mùa đông, khi chui ra khỏi chăn, chắc chắn nhánh hoa lê vẫn điểm ba cánh trắng bên cửa sổ trong hây hẩy gió xuân. Có bao giờ hoa khô, có bao giờ hoa tươi?
Thầy tôi triết lý viễn vông chăng? Đâu có! Khi tôi đi theo được tiếng chuông, tiếng Nam-mô, đi theo cái tươi đang khô, cái khô đang tươi, tôi không còn thấy tôi. Không phải lúc nào tôi cũng thành công đâu nhé! Nhưng đứng sau lưng Thầy tôi thì tôi không thấy tôi. Những lúc như thế, tôi nhẹ nhàng lắm, có chuyện gì bực cũng quên. Thầy tôi bảo: ai quên được mình trong một phút, phút đó là Niết bàn, Vô ngã là Niết bàn. Thầy tôi nói thêm: mình là người thường, cho nên trong một ngày mình chỉ được một phút, vài phút Niết bàn, còn đức Phật, Ngài không biết có Ngài nên Ngài Niết bàn không cùng không tận. Triết lý gì đâu, an vui đấy thôi ! Có lẽ cành cây tươi kia cũng biết thế chăng? Có lẽ nó biết nó là mặt trời, nó là nhựa đất, nó là hơi sương, nó là tia nắng, nó là giọt mưa,
nó là tất cả những yếu tố đó họp lại chứ tự nó chẳng có cái gì là nó cả, cho nên nó mới óng ả mùa xuân như thế. Nó Niết bàn đấy! Mai mốt, lá rụng, hoa rơi, cây trụi, cành khô. Để làm gì? Để quên mình, để cho mình, đễ mất mình, để cành khô mới có chỗ đón tuyết tặng áo bông. Nó lại Niết bàn! Từ bao giờ Thầy là Thầy của tôi? Từ khi tôi học được Niết bàn trong vụn vặt đời sống thường ngày chăng?
Nhưng con người không phải là đóa hoa nên tôi lại phải triết lý vặt với Thầy tôi. Đóa hoa nó chỉ nở, chỉ phô sắc thắm. Nó không nói tôi nở, tôi phô sắc thắm. Chuyện của nó làm là nở. Chuyện của giọt sương là long lanh. Chuyện của gió là thổi. Chuyện của tia nắng là chiếu. Con người thì không thế. Thở thì nói là tôi thở. Nghe thì nói là tôi nghe. Tôi thấy. Tôi nhìn đóa hoa. Cái “tôi” nào nhìn đóa hoa vậy? Cái “tôi” nào mà khi vui thì thấy hoa dường như biết cười, khi buồn thì thấy hoa như môi ai héo? Một “tôi” hay hai “tôi”? Tôi bây giờ phất phơ đầu bạc với tôi mấy chục năm trước tóc bềnh bồng vãng lai trước trường Đồng Khánh là hai “tôi” hay một? Một làm sao được, vì ôi thôi dâu biển quá chừng. Nhưng ai phán đốn vậy? Cái “tôi” nào phán đốn rằng “tôi” này khác với “tôi” kia?
Xuân Diệu có một câu thơ mà tôi thích từ trẻ:
Bâng khuâng chiều ngẩn ngơ chiều
Lòng không sao cả hiu hiu sẽ buồn
Có lẽ ý rủa câu thơ chỉ muốn diễn tả nỗi buồn man mác, nhẹ nhàng, vô cớ, thứ buồn lãng mạn mélancolique đặc biệt trong thơ văn Pháp thế kỷ 19 mà Xuân Diệu chịu ảnh hưởng đậm đà. Có lẽ chỉ thế thôi, nhưng câu thơ quá đẹp về ngôn ngữ và âm điệu nên tôi muốn lồng trong đó một ý nghĩ rất chủ quan. Ai “bâng khuâng”, ai “ngẩn ngơ”? Thi sĩ ưa nhân cách hóa sự vật nên có thể giải thích chính buổi chiều bâng khuâng, buổi chiều ngẩn ngơ: buổi chiều
ngẩn ngơ chính buổi chiều. Giải thích như vậy thì buổi chiều có tâm hồn, buổi chiều nhìn chính mình, nhìn tâm hồn mình. Nhưng giải thích như vậy e thi vị hóa câu thơ nhiều quá. Kẻ “bâng khuâng” và “ngẩn ngơ” là người, là con người nhìn buổi chiều. “Bâng khuâng” và “ngẩn ngơ” như thế sao lại nói “lòng không sao cả”? Tôi cũng biết câu thơ có thể chỉ nói lên một tâm trạng thường tình thôi: lòng không có chuyện gì buồn, nhưng buổi chiều bâng khuâng khiến buồn buồn. Nhưng tôi vẫn muốn tra khảo câu thơ; Lòng ai không sao cả? Ai hiu hiu sẽ buồn? Hai “tôi” hay một? Một “tôi” phơn phớt bên ngồi, một “tôi” để lay động bên trong?
Tôi ưa ca hát nên muốn mượn một câu hát để nói thêm về câu thơ. Câu hát của Trịnh Công Sơn mà tôi thường nghêu ngao khi nhớ đến thơ Xuân Diệu:
Lòng thật bình yên mà sao buồn thế
Giật mình nhìn tôi ngồi hát bao giờ
Câu hát đầu gợi ý câu thơ thứ hai: lòng thật bình yên mà buồn. Nhưng câu hát thứ hai thì làm rõ ý tôi muốn nói. Ai giật mình? Ai nhìn? Ai nhìn chính tôi? Nói rằng tôi giật mình nhìn tôi thì cũng được thôi. Nhưng tôi nghe câu hát có ý nghĩa cao hơn thế. Có hai “tôi”, trong đó. Một “tôi” giật mình, nhìn. Một “tôi” đang ngồi hát nghêu ngao bị “tôi” kia bất chợt nhìn. Cái “tôi” ngồi hát đã ngồi đó hát từ bao giờ, có mặt ở đó như từ muôn kiếp trước. Cái “tôi” kia, trong chớp nhống, giật mình khám phá ra.
Có lẽ tôi phải mượn chuyện thiền để Xuân Diệu ở đâu đó đừng trách tôi chẻ sợi tóc làm tư. Thiền sư Thoại Nham có thói quen nói chuyện với mình. Ông gọi ông như ta gọi vợ con: “Thoại Nham ơi!”. Rồi ông tự trả lời: “ơi!”. Thỉnh thoảng lại gọi: “Thoại “Nham đấy hả?” Lại tự trả lời: “ừ!”. Mái chùa của ông bé như vỏ
nghêu, vậy mà thỉnh thoảng ông cứ sợ lạc. Mỗi lần cảm thấy lạc như thế, ông lại gọi: “Thoại Nham!” Và lại ơi: “Ừ, đây rồi!”. Hai người trả lời nhau chăng, hay là một? Một phơn phớt bên ngồi, một thăm thẳm bên trong?
Kim địa tòng lâm cô nguyệt quang hàm không tức sắc
Sơn đầu bảo sát quần loan thúy tỏa cổ do kim
(Chùa thiền nơi đất báu, trăng côi tỏa ánh vàng, không tức sắc
Cửa Phật ở đầu non, núi cụm trùm màu biếc, cổ như kim)
Trăng soi bóng mình trong nước, vầng trăng trong nước có hay không có? Hai vầng trăng hay một vầng trăng? Màu biếc của núi nay giống xưa, vậy màu biếc đó là một hay hai? Những câu đối của Thầy tôi là những bài thơ thiền xinh như con bướm vừa chui ra khỏi kén. Cổ như kim, xưa giống như nay là một hứng lớn trong văn học thiền. “Xưa giống như nay, nay giống như xưa”, là giống cái gì? Có cái gì cứ ở đấy, mãi hồi vậy? Mãi hồi như từ thuở mới sinh ra, từ khi núi là núi? Núi màu lục kia cũng có cái “tôi”, thăm thẳm của nó chăng? Nếu nó biết nói, chắc thỉnh thoảng trong ngày nó cũng gọi nó đôi lần. “Núi ơi!” Ai thử gọi đi, nó “ơi” cho mà xem. Không chừng nó biết hơn ai hết cái “tôi” thăm thẳm trong tiếng “ơi” mà chúng ta gọi là “khuôn mặt muôn thuở”, là “bản lai diện mục”, là “Phật tính”, là “chân như”, là “không”. Thoại Nham gọi như thế để đừng lạc mất chính mình. Mỗi lần Thoại Nham thấy mình là hai với Phật tính thì Thoại Nham khổ lắm, mà hễ thấy mình là một với Phật tính thì nhẹ nhàng, vui vẻ, thong dong, bình yên, Niết bàn. Nhưng làm sao Thoại Nham trở thành một với cái núi màu lục nay giống xưa của ông? Chỉ thế thôi: quên đi, mất đi, bớt đi, vơi đi cái “tôi”, cái danh gọi Thoại Nham hão huyền, bèo bọt, để nghe tiếng “ơi” vọng ra từ chốn rỗng không của muôn đời.
Từ chốn rỗng không... Thầy tôi viết mấy ngàn trang sách chắc cũng chỉ muốn dẫn tôi đến chỗ đó mà thôi, cái chỗ có ông tiều phu thất học nghe một câu kinh mà ngộ đạo: “Ưng vô sở trụ...” . Đừng để tâm đậu vào một chỗ nào cả. Tôi đố ai khởi lên một ý gì mà không có cái “tôi” trong đó. Dù một ý nghĩ không có chữ “tôi”, cái “tôi” vẫn nằm ở trung tâm điểm. “Hôm qua, cô Hồng Nhung hát hay quá” là: “tôi” nghe, “tôi” thích, “tôi” thấy hay. Đừng để tâm đậu vào chữ “tôi”, lòng đã bớt xao động rồi, nhưng ông tiều phu Huệ Năng hiểu sâu hơn thế ngay khi nghe câu kinh. ông hiểu: đừng để tâm đậu vào một ý niệm nào cả. Thường ta nói: đừng bận tâm thì an vui. Nhưng làm thế nào để đừng “bận tâm”? Đừng suy nghĩ? Có giây phút nào ta ngừng suy nghĩ đâu? Cắt đứt tư tưởng? Thử cắt đứt đi ! Ý này dứt thì ý kia nối, mãi mãi không ngừng, dẫn tâm đi lang thang. Cách hay nhất là cứ để cho nó đi, nhưng đừng vướng vào nó, nhìn nó đi, biết nó đi, nó đi đâu mình theo dõi nó, đừng để nó lừa. Thế là mình làm chủ nó. Từ ngày tôi đau mắt, tôi cứ chơi cái trò đó với nó. Tôi đau mắt phải, mỗi ngày phải điểm thuốc hai ba lần, mỗi lần cách nhau mười lăm phút. Rồi thỉnh thoảng con mắt trái cũng đau, lại phải điểm thuốc khác, ba bốn thứ thuốc không được lẫn lộn. Ban đầu, sợ nhầm mắt, tôi phải bịt mắt trái. Nhưng sau tôi nghĩ: tại sao không nhân dịp này giỡn với tâm mình chơi. Thế là tôi bắt chước Thoại Nham. Tay cầm bình thuốc, mặt ngửa lên trời, tôi gọi: “Mắt phải ơi !” Tôi “ơi!”. Giọt thuốc rơi đúng bóc vào mắt phải. Mỗi ngày tôi vui chơi với Thoại Nham như thế. Nhưng hễ tôi bận rộn một việc gì đấy, soạn bài, xem đá bóng, giận vợ con, là cái giận, cái lo, cái hồi hộp, cái suy tư nó dẫn tôi đi và tôi quên tuốt Thoại Nham thân mến của tôi cho đến khi giật mình nghe giọt thuốc rơi phóc vào mắt trái.
Thầy tôi nghe tôi giảng giải “Ưng vô sở trụ...” như thế này chắc sẽ lắc đầu ngao ngán. Nhưng riêng tôi, mỗi ngày tôi sống hai ba lần
cái giây phút đó, lúc tôi cầm bình thuốc, ngửa mặt lên trời, hai ngón tay sẵn sàng ấn vào bình. Lúc đó, tôi biết tôi đang giận, đang hồi hộp, đang lo, đang nghĩ đến đứa con đi chơi khuya chưa về, đang bực mình vì ấm nước vừa sôi tràn lan trên bếp, tôi biết hết, nhưng mặt tôi đã ngửa, tôi nhìn chúng như nhìn mây trôi qua và tôi gọi: “Thoại Nham!”. Rõ ràng tôi nghe tiếng “ơi !” từ trong thăm thẳm của giọt nước rơi vào mắt. Tiếng “ơi !” từ trong rỗng không.
Chắc tôi lại phải mượn chuyện thiền để thưa với Thầy tôi rằng tôi càng ngày càng tin chắc, tin rõ, tin như thấy trước mắt cái chỗ rỗng không đó. Chuyện như thế này: ông sư già Câu Chi có cái thói quen lạ lùng là mỗi khi ai hỏi ông về Phật, ông giơ ngón tay trỏ lên trời, không nói gì cả. “Bạch sư cụ, chân lý cao nhất mà Phật dạy là gì ạ?” Giơ ngón tay. “Bạch sư cụ, Phật với chúng sinh có khác gì nhau không ạ?” Giơ ngón tay. Chẳng ai hiểu gì cả, nhưng ai cũng làm bộ hiểu, vì một ông thiền sư tăm tiếng như thế chắc chắn nhất cử nhất động ắt phải có ý nghĩa sâu xa. ông sư già đi đâu, ngồi đâu, cũng có một chú tiểu theo hầu đàng sau. Chú tiểu thấy thầy chỉ cần đưa ngón tay lên trời mà thiên hạ phục sát đất, nên học thầy nhanh lắm, ai hỏi chuyện đạo chú cứ việc đưa ngón tay lên trời. “Chú tiểu ơi, chú sắp thành Phật chưa?” Giơ ngón tay. “Chú tiểu ơi, nam mô là gì vậy chú?” Giơ ngón tay. Chú giơ ngón tay một hồi như thế thành quen, bây giờ đi đứng sau lưng thầy, có ai hỏi thầy chuyện Phật, thầy giơ ngón tay mà trò ở đàng sau cũng giơ ngón tay. Thế thì một hôm, thầy vô tình xoay lưng bỗng thấy trò giơ ngón tay, bèn hỏi trò: “Chú hiểu đạo thật hả?” Trò thưa: “Dạ thật”. Thầy hỏi: “Phật là gì?” Trò giơ ngón tay. Thầy chụp ngón tay, sẵn cây dao bên cạnh chặt trọn. Trò đau quá, vừa chạy vừa ré. Thầy bắt lại, hỏi dồn: “Phật là gì?” Quen thói mất rồi, trò giơ ngón tay. Nhưng ngón tay không có đó nữa. Chú tiểu ngộ.
Khi chú tiểu giơ ngón tay, chú ý thức rằng ngón tay của chú có thật trong thế giới hiện tượng. Mà đúng là có thật chứ ! Khi chú tiểu giơ ngón tay đã bị đứt rồi, ngón tay không có trong thế giới đó nữa, nhưng trong tâm chú tiểu, chú thấy rõ ràng ngón tay rỗng không mà chú đang giơ. Trong khoảnh khắc, chú học chữ không, chú học chữ có, và chú dạy cho tôi cái biết từ trong rỗng không. Tôi có thể tưởng tượng ra một rỗng không như thế trong tâm một người ngồi thiền đắc đạo khi vị đó đạt đến mức không để tâm đậu vào một ý niệm gì cả. Chắc tôi sợ ngồi thiền trong kiếp trước nên kiếp này tôi phải mang cái nghiệp đau mắt. Nhưng biết đâu có ngày tôi điểm mắt mà ngộ đạo như ai, có ngày tôi thấy trong giọt thuốc kia mông mênh một cõi trống không trong đó vầng trăng hiện ra trong vắt?
Cái trống rỗng đó, và niềm an vui trong đó, đố ai nói được nên lời. Cho nên Thầy tôi phải mượn đến thơ:
Tánh lặng đất trờt chung một cõi
Tâm không trăng gió trải muôn phương
Có lần tôi đưa hai câu đối đó cho vợ tôi đọc. Vợ tôi đùa: Thầy biết rõ anh hơn ai hết. Rồi giải thích: Thầy nói: nếu tâm anh không trăng gió nguyệt hoa thì tha hồ hạnh phúc. Hay quá ! Thầy tôi thấy rõ ruột gan của tôi từ bao giờ vậy? Từ bao giờ Thầy là thầy của tôi? Bao nhiêu lần tôi nghe Thầy tôi than: dịch kinh chữ Hán thiệt mệt với chữ “không” và chữ “vô”. Giá như Thầy viết: “vô tâm trăng gió trải muôn phương” thì học trò của Thầy thốt khỏi cái oan Thị Kính rồi ? Nhưng “vô tâm” làm sao hay bằng “tâm không” để nói cái tâm trong vắt, trên đó không có gì vướng mắc. Trong triết lý thiền, cái tâm trong vắt đó, cái “tâm không” đó, biết hết thảy mọi sự mọi vật, biết đúng đắn sự vật như là sự vật giống như tấm gương trong đó hiện ra trung thực mọi hình ảnh bởi vì tự mình là rỗng không. Thoại Nham ơi, từ đâu nữa, từ trong rỗng không đấy chứ đâu Thầy tôi đã là Thầy tôi tự bao giờ.
*