Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 792.

Chương 81: Hòa Thượng Huyền Quang (1920 - 2008) Tu Viện Nguyên Thiều – Bình Định (Trang 466 - 471)

Hòa  thượng Huyền Quang (1920 - 2008)
Tu viện Nguyên Thiều – Bình Định

Hòa thượng Huyền Quang thế danh là Lê Đình Nhàn, sinh ngày 19-9-1920 (tức ngày mồng 8 tháng 8 năm Canh Thân), quê thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thân phụ là cụ ông Lê Vỵ pháp danh Như Hương, thân mẫu là cụ bà Ngô Thị Tư pháp danh Như Tâm cùng ở làng Háo Đức.
Ngài vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống Nho học. Ông nội và thân phụ của Ngài cũng là người Nho gia nổi tiếng trong vùng. Nhờ vậy, từ lúc còn bé Ngài đã theo Ông nội và thân phụ học chữ Nho, tuổi còn nhỏ nhưng học đâu nhớ đó và Ngài được nổi tiếng là thông minh có trí nhớ siêu việt.
Năm 1934, vì thấy tư chất thông minh của Hồ thượng, cụ thân sinh cho Ngài đến chùa Vĩnh Khánh học thuốc Đông y với Hòa thượng Chơn Đạo, hiệu Chí Tâm, là một vị Đông y nổi tiếng. Hòa thượng thấy Ngài có khả năng chữ Nho giỏi lại viết chữ đẹp, thông tuệ khác thường nên không dạy nghề thuốc lại dạy Kinh Luật, rồi

cho Ngài xuất gia quy y Tam Bảo.
Năm 1935, Ngài đầu giáo với Hòa thượng Chơn Đạo và được Hòa thượng ban Pháp danh là Như An, Pháp tự Giải Hòa, và cho thọ Sa-di giới tại Đại giới đàn năm 1935 và Ngài đậu thủ khoa trong tập chúng; cũng trong năm này, Bổn sư của Ngài viên tịch (ngày 30-9-1935).
Năm 1937, Ngài đầu giáo với Hòa thượng Chơn Giám, hiệu Trí Hải, trụ trì chùa Bích Liên làm Bổn sư và được phú Pháp hiệu Huyền Quang, Pháp danh Ngọc Tân, Pháp tự Tịnh Bạch. Ngài được Bổn sư cho thọ giới Cụ túc tại Giới đàn chùa Hưng Khánh thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, do Hòa thượng Chơn Hương, hiệu Chí Bảo làm Đường đầu. Lúc này Ngài chưa đủ tuổi để thọ giới nhưng vì tư chất thông minh đặc biệt nên ban kiến đàn đã cho đặc cách miễn tuổi để Ngài được thọ Cụ túc giới và Bồ-tát giới. Kỳ khảo hạch giới tử lần này Ngài cũng đứng đầu trong chúng (đậu thủ khoa). Bắt đầu từ đó Ngài lấy pháp hiệu Thích Huyền Quang làm danh xưng phổ thông.
Từ năm 1938-1945, Ngài theo học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên, tỉnh Trà Vinh. Sau khi học xong, Ngài ra Huế tiếp tục học với Hòa thượng Trí Độ tại Phật Học Đường Chùa Báo Quốc, đồng học với Ngài có quý Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Hòa, Thiện Siêu, Trí Quang, Thiện Minh, v.v… Vào mùa hè năm 1945, Ngài về quê nghỉ hè, định sau rằm tháng 7 ra học lại, nhưng bị kẹt chiến tranh, lúc đó Nhật đổ bộ đe dọa tại Sa Huỳnh, nên không đi được. Vậy là chuyến ra Huế học của Ngài bị hỗn lại.
Tháng 8-1945 Ngài tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp và thành lập Phật giáo Cứu Quốc Liên khu 5, giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký.
Năm 1955, Ngài hướng dẫn đồn Tăng sinh Bình Định vào Phật học đường Chùa Long Sơn, Nha Trang, gồm 12 vị đó là quý Hòa thượng Đồng Thiện, Đổng Minh, Đổng Quán, Đồng Từ, Tâm Hiện, Liễu Không, Nguyên Trạch, Đổng Tánh, Từ Hạnh, Thiện Nhơn, Thiện Duyên và Tâm Lâm. Cũng từ năm 1955 đến 1957, Ngài được thỉnh cứ làm Giám đốc Phật học đường này thay thế vị tiền nhiệm là ngài Thích Định Tuệ.  Do sự phát triển, từ năm 1957, Phật học đường Long Sơn - Nha Trang và Phật học đường Báo Quốc - Huế hợp nhất thành Phật Học Viện Trung phần Hải Đức - Nha Trang, nơi đào tạo Tăng tài cho cả nước.
Năm 1958, cùng với chư Tăng Bình Định, Ngài khai sơn Tu viện Nguyên Thiều và thành lập Phật học viện Nguyên Thiều. Từ đó, Ngài giữ vai trò Giám Viện cho đến cuối đời.
Năm 1962, Ngài làm phó Hội Trưởng Hội Phật Học Trung Phần kiêm Hội Trưởng Hội Phật giáo Thừa Thiên, Huế.
Năm 1963, Ngài tham gia cuộc vận động cho quyền bình đẳng tôn giáo dưới chế độ của tổng thống Ngô Đình Diệm và đòi hỏi yêu sách xóa bỏ Dụ số 10 (Dụ số 10 quy Phật giáo là một hiệp hội như thế tục). Lúc bấy giờ Ủy ban Liên Phái Bảo Vệ Phật giáo ra đời, lãnh đạo tối cao của cuộc vận động này là Đức Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, Hòa thượng Thích Tâm Châu làm Chủ Tịch, Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh làm phó chủ tịch và Ngài làm Tổng Thư Ký kiêm trưởng khối soạn tài liệu đấu tranh phổ biến ra tồn quốc. Chính quyền của tổng thống Ngô Đình Diệm vì muốn dập tắt cuộc vận động nên đã tấn công vào các chùa chiền và bắt hầu hết Tăng, Ni trong đêm ngày 20-08-1963. Ngài cũng bị bắt trong biến cố này, mãi đến ngày 01-11-1963 Ngài mới được thả tự do.
Ngày 31-12-1963 đến ngày 04-01-1964 Đại Hội Phật giáo tồn quốc tổ chức tại thành phố Sài Gòn, qua đại hội này GHPGVNTN ra
đời. Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Tổng Thư Ký Viện Hóa Đạo kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ.
Năm 1964: Ngài đến thủ đô Thái Lan để thăm viếng và tiếp xúc một số Chùa Việt Nam nhân chuyến hành hương các thánh tích, thắng cảnh của Phật giáo Thái Lan.
Năm 1970: Ngài đại diện Viện Hóa Đạo tham dự Đại Hội Các Tôn Giáo Thế Giới vì hòa bình lần thứ nhất tại Nhật Bản.
Năm 1971: Ngài hành hương Ấn Độ, chiêm bái các Phật tích.
Năm 1972: Ngài tham dự Đại hội Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới tại Genève, Thụy Sỹ.
Năm 1973: Ngài đi Thái Lan gặp đại diện GHPGVNTN hải ngoại để bàn các việc tái thiết Việt Nam sau khi hòa bình.
Đại hội kỳ 6 của GHPGVNTN, tổ chức vào ngày 27-12-1974, Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo.
Từ năm 1975-2008, Ngài đã nhiều lần gởi thư cho các cấp Chính quyền Trung ương nêu lên quan điểm của Ngài đòi phục hồi GHPGVNTN nhưng chưa được giải quyết.
Năm 1983-1995, Ngài chí thành đọc tồn bộ Đại Tạng Kinh, tính trước sau trong vòng 16 năm, vì trước đó, lúc còn ở Sài Gòn, Ngài đã bắt đầu đọc và nghiên cứu Đại Tạng Kinh. Năm 1994, trong thời gian ở Chùa Quang Phước, huyện Nghĩa Hành, Ngài đã soạn hồn tất bộ Pháp Sự Khoa Nghi và dịch một số kinh khác nữa.
Tại Tu viện Nguyên Thiều thời gian cuối đời, tuy tuổi già sức yếu nhưng lúc nào Ngài cũng thao thức cho tiền đồ Phật giáo, nên Ngài đã vận động Chư Sơn thành lập ban trích lục Đại Tạng Kinh để làm công tác phiên dịch và dự định xây một trường Đại học Phật giáo tại Tu viện Nguyên Thiều, nhưng vì điều kiện hòan cảnh
nên trong thời điểm này bản nguyện của Ngài không thực hiện được.
Ngày 29 tháng 9 năm 2006, Ngài bị suy tim, nên chư Tăng tại Tu Viện Nguyên Thiều đã đưa Ngài vào bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn để chữa bệnh.  Ngày 16 tháng 10 năm 2006, bệnh tình có phần thuyên giảm, nên Ngài xuất viện. Chư Tăng đã đưa Ngài về an tịnh tại Chùa Giác Hoa.  Không bao lâu sau đó Ngài đã trở về lại Tu viện Nguyên Thiều.
Kể từ sau khi trở về lại Tu viện Nguyên Thiều, mỗi ngày hai thời, Ngài lên tháp chuông của Tu viện để thỉnh chung cầu nguyện quốc thái dân an và chúng sinh tỉnh ngộ.
Ngày 27 tháng 5 năm 2008, vì bệnh tim tái phát, lại trong phổi có nước, nên Ngài đã được đưa vào Bệnh viện Đa Khoa Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, để điều trị.  Dù chư tôn đức Tăng, Ni của Viện Hóa Đạo và Tu viện Nguyên Thiều, cũng như  các bác sĩ tại bệnh viện đã hết lòng chăm sóc và chữa trị, nhưng như cỗ xe đã già cỗi, thân tứ đại suy kiệt vì tuổi đời đã cao, bệnh hoạn thường xuyên, cho nên sức khỏe của Ngài không thể bình phục. 
Biết trước không tránh khỏi cơn vô thường, Ngài đã tỏ ý muốn về lại Tu Viện Nguyên Thiều để an tịnh. Chư Tăng cùng môn đồ pháp quyến đã cung đón Ngài về lại Tu viện Nguyên Thiều. 
Đến 1 giờ 15 phút chiều ngày 5 tháng 7 năm 2008, Ngài đã an nhiên thâu thầu thị tịch tại Phương Trượng Tu viện Nguyên Thiều. Ngài trụ thế 88 năm và 71 Hoằng pháp
Dù bận rộn Phật sự của Giáo hội, Ngài vẫn không quên thường xuyên thực hiện hai tâm nguyện mà Ngài xem là trọng đại trong sự nghiệp hoằng truyền chánh pháp để cứu khổ sinh dân.  Đó là mở trường lớp để dạy dỗ Tăng, Ni hầu ươm mầm tương lai cho đạo
pháp, và phiên dịch trước tác Kinh Luật Luận và giáo nghĩa Phật học để truyền bá giáo lý thậm thâm vi diệu của đức Thế Tôn.
Chính vì tâm nguyện đó, mà Ngài đã tinh cần tụng đọc tồn bộ Đại Tạng Kinh trong suốt mười mấy năm. Đồng thời Ngài đã phiên dịch và trước tác nhiều tác phẩm như:
- Thiền Môn Chánh Độ, - Sư tăng và Thế nhơn,
- Nghi cúng chư Tổ và Chư vị Cao Tăng, - Đạo Tràng Công Văn Tân Soạn, - Thiếu Thất Lục Môn, - Phật Pháp Hàm Thụ, -  Pháp Sự Khoa Nghi, -  Nghi Thức Cúng Giao Thừa, -  Phật Pháp Áp Dụng Trong Đời Sống Hằng ngày, v,v…

 
 
 
*
/156
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »