Giảng sư Thanh Thùy (1922 – 1996)
Tịnh thất Liên Hoa – Sài gòn
Giảng sư tên thật là Phạm Văn Tuân, sinh năm 1992 tại thôn An Ninh, xã Hải Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Giảng sư sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho phong tín Phật. Lúc nhỏ Giảng sư xuất gia ở chùa Quế Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, cầu Pháp với Tổ.
Năm 1934, Giảng sư được thọ Sa di tại Giới đàn chùa Đông An do Sư tổ Quảng Lâm làm đàn đầu.
Do tư chất thông minh, nên Sư tổ cho vào học tại Báo Quốc – Huế năm 1942. cùng lớp vào học tại Huế có 5 vị, trong đó có Hòa thượng Tâm Thông. Sau khi mãn khóa, Giảng sư xin ở lại trong Nam và Y chỉ với Hòa thượng Giác Nhiên chùa Thuyền Tôn. Giảng sư được Hòa thượng Bổn sư cho thọ Đại giới tại giới đàn Hộ Quốc tại Huế.
Năm 1949, ở chùa Báo Quốc, Giảng sư được Hòa thượng Bổn
sư cho Pháp danh Tâm Thùy, hiệu Thiện Sanh, tự Thanh Thùy. Trong giới đàn này. Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu Hòa thượng, Hòa thượng Giác Nhiên làm Yết ma và Hòa thượng Viên Quang làm Giáo thọ. Thất chứng gồm: Hòa thượng Giác Nguyên đệ nhất, Hòa thượng Chơn Thiệt đệ nhị, Hòa thượng Giác Hạnh đệ tam, Hòa thượng Tinh Phổ đệ tứ , Hòa thượng Mật Hiển đệ ngũ, Hòa thượng Từ Tướng đẹ lục, Hòa thượng Quảng Nhuận đệ thất. Ban Dẫn thỉnh gồm: Hòa thượng Chánh Kiến, Diệ Hoằng, Quang Minh và Thiên Hòa.
Trong những năm sau đó, Giảng sư được Hội Phật giáo Trung phần thỉnh làm Giảng sư cho Hội. Có thể nói, Giảng sư là một trong những Giảng sư ưu trí nhất, có tài ăn nói lưu lốt nên được nhiều Bổn đạo yêu mến.
Một thời gian sau, Giảng sư vào Sài gòn, lập chùa Liên Hoa tại quận Bình Thạnh làm Phật sự tại đây. Sau năm 1975, do tuổi cao, sức yếu, Giảng sư đã viên tịch vào ngày 16.2.1996. hưởng thọ 75 tuổi.
Khi nghe tin Đại lão Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Giảng sư gởi tâm thư xin điếu như sau:
1
Thành phố Huế, ngày 22 tháng 3 năm 1979
KÍNH NIỆM
Kính dâng cố Tăng Thống, cố Tôn sư Pháp húy Thính Giác Nhiên.
Kính bạch cố Tăng Thống, cố Tôn sư
Mùa đông năm Mậu ngọ, con được tin thầy ngọa cảm, con vô cùng lo sợ, nên hằng ngày con vẫn dốc tâm cầu nguyện, mong đức Như lai phù hộ, độ trì thầy sớm được bình phục, khang thái. Con tuy cách xa thầy, nhưng rất yên tâm, vì tin chắc rằng các bậc Huynh sư và các chư Tăng ở Thành phố Huế và các miền phụ cận luôn luôn gần gũi thầy để săn sóc. Nhưng đầu mùa xuân năm nay, một tin làm cho con bàng hoàng: Thầy đã viên tịch! Hung tin truyền đi, các chư Tăng Ni, Phật tử khắp nơi đều bồi hồi xúc động, nói riêng và là cái tang chung của toàn thể tín đồ trong và ngoài nước.
Chua sót thay! Thầy ra đi vĩnh viễn để cho con bao nhiêu suy tư, khúc mắc. Cin vô cùng ân hận trông khi thấy thầy không được khỏe mà con không được gần gũi để thăm viếng, săn sóc thuốc men, cơm cháo. Trước khi thầy viên tịch, con không được nghe thầy truyền dạy một điều, và nhìn nhục thân thầy lần cuối cùng. Đau đớn hơn nữa, con không được vinh dự dự lễ tiễn tống thầy. Sỡ dĩ những thiếu sót ấy, con không thể tránh được, vì phương tiện di chuyển đường dài hàng ngàn cây số quá khó khăn, mà thời gian thì vô cùng ngắn ngủi.
Nhớ lại hồi con thọ pháp, thầy đã chẳng nề hà thời giờ quý báu, sứ lực, trí óc . Biết bao năm trời, thầy đã dìu dắc con, hướng dẫn tinh thần con, hy vọng con trở nên một môn đệ khá, ngõ hầu cs thể giúp thầy trong việc phụng sự Phật pháp. Thầy là một bậc tôn sư khả kính, một người cha hiền của con, thế mà con chưa đèn ơn được trong muôn một. con xin cuối đầu chịu tội.
Hôm ay nhân tuần tứ cửu, con đốt nén hương thành, quỳ quỳ trước linh đài than thở. Bái xin Tôn sư chúng giám.
Nam mô Ma ha Tỳ khiêu Bồ tát giới
Cố Tăng thống Pháp hý Thích Giác Nhiên
Giác linh thuyền tọa hạ
Tát đại chứng minh
2.
Thành phố Huế , ngày 23 tháng 3 năm 1979
ĐIẾU VĂN
Kính dâng cố Tăng Thống, cố Tôn sư Pháp húy Thích Giác Nhiên Kính bạch cố Tăng Thống, cố Tôn sư.
Than ôi:
- Hương thủy sóng lừng
Thiên sơn đá sập
- Cây cỏ âu sầu.
Lá hoa héo hắt.
-Máy huyền vi giây phút khôn lường.
Vòng sanh tử ấy ai khéo đặt.
-Vẫn biết trăm năm thân gửi, con Tạo trò đùa.
Chỉ vì một mối cảm tình riêng, lòng quê réo rắt.
Nhớ Tôn sư xưa:
-Nết đất hiền hòa.
Tính trời chân thật.
- Quê hương trìu mến, giải Triệu Phong nung đúc chí anh tài. Chính quán thân yêu, miền Ái Tử luyện rèn lòng bất khuất.
- Hàng môn Phiệt đã mấy đời khoa bảng, dòng dõi thêm rực rỡ huy hoàng.
Nếp nho phong trải mấy độ thi thư, gia thế nức vẻ vang, xán lạn.
- Buổi niêu thiếu, khinh thường thi cử, xếp bút nghiêng, ngưỡng mộ cảnh thiền môn.
Thời Nguyễn Vương, coi vẻ công danh, biệt nghiêm mẫu, quy y nơi cửa Phật.
- Cơm nhạt ngựa, lòng hằng mong mỏi, muối dưa cùng năm tháng yên vui.
Cháo kèo nhà, dạ vẫn ước ao, kinh kệ suốt ngày, đêm thân mật.
*
- Đức khổ hạnh, đếm những mùa hạ lại, nhặt từng manh lá úa, vẫn kiên trì học hỏi thấu đài sen.
Nét chăm chuyên, tính bao độ thu về, tưới những luống rau tươi, càng nhẫn nại luyện tu tròn Phật pháp.
-Đêm đêm niệm Nam mô.
Ngày ngày tay lần hạt.
- Sách uyên nguyên thông tam quyển, danh vang lừng siêu nguyệt, siêu quần.
Phép mầu nhiệm thuộc ngàn pho, tiếng nổi dậy tuệ tâm, tuệ giác.
- Đức độ thầy kể sao cho siết: Nào điềm đạm, nào vui tươi, nào trang nghiêm, nào hỷ xả, nói ra vô số hằng hà.
Công ơn thầy biết chi cân: Như núi cao, như suối ngọt, như rừng thẳm, như sông dài, nghĩ thật dạt dào, bát ngát.
- Hàng Phật tử thấm nhuần lời giảng dạy: “Tam quy, Ngũ giới”, lòng lâng lâng, việc thiện chóng gia tăng.
Lớp chúng sanh hoan hỷ cách khuyên răn: “Nhân quả, Luân hồi”, óc thanh thoát, thói hư dần dập tắt.
- Gặp hồng thủy, nhà trôi vật nát chẳng quản công, đi phả khuyến, giúp đồng bào thoát khổ cực, lầm than
Dấp hỏa tai, trẻ đói,người đau, cố gắng sức, tặng đạo quả, đưa đại chúng khỏi màn trời chiếu đất.
- Giúp Giáo hội lập Cô Nhi viện, xây Bảo tháp, sửa Tổ đình thành tráng lệ, nguy nga.
Đỡ các Chi xây Niệm Phật đường, lập Hội đoàn, xây trường học nên khang trang sầm uất.
- Tân giáo bạn, mặt mừng, tay bắt, nghĩa kim lan như bóng với hình.
Giáo phái bạn, gắn bó keo sơn, tình đồng đạo đồng lao cộng tác.
- Kính trên, nhường dưới, khi đàm luận, lúc chuyện trò, vẫn nụ cười cố hữu, hân hoan.
Công nọ, việc kia, lúc ủy thác, khi cậy nhờ, thường tươi vui chu toàn, ngăn nắp.
- Nhủ quần chúng chống xâm lăng, gìn giữ nước, để độc lập, để tự do, để hạn phúc dội muôn nhà.
Khuyên tín đồ đừng mê tín, bảo tồn chùa, cho Tăng Ni, cho quần lê, cho phật tử trọn đạo pháp.
- Nhớ lại hai mùa pháo nạn, chiếc thuyền từ đang nghiên ngã giữa phong ba.
Mừng rằng mười hướng tĩnh tâm, vững lái thầy lướt nhẹ qua cơn bão táp.
- Khi phó hội, khi cúng dàng, khi thuyết pháp, bầu khung gian vọng lại tiếng:Từ bi.
Ngày Vu lan, ngày Phật đản, ngày Nguyên tiêu, nơi phật cảnh vang lên lời: Bồ tát.
- Ánh đạo vàng rực rỡ, chuông đổ hồi, hồng lạp, hoa đăng.
Ngôi Tăng thống suy tôn, thầy xứng bậc tặng phong, đền đáp.
*
- Những tưởng mười tuần bốn lẻ, thẻ rùa mong vút mãi dâng cao. Nghĩ rằng tám chục có thừa, tuổi đạo đoán như là còn thấp.
- Ngoài ngàn dặm, buổi trưa ban sớm, khẩu cầu thầy còn mãi sống lâu.
Sau năm năm, cảnh cũ, người xưa, con có dịp được về chiêm bái.
- Năm Mậu ngọ giữa mùa đông lạnh, hay tin thầy ngọc thể bất an.
Đường Thừa Thiên cách trở khó khăn, không tới viếng con đành sơ suất.
- Tin nhạn nhắn về ba, bốn bận, khi đau, khi đỡ, vẫn mừng thầy vẫn chưa can.
Tiếng gà eo óc một,hai hồi, lúc tỉnh, lúc mê, nhện trước mắt, con mừng dã tật.
- Bệnh tuy mệt, thầy thường hỏi đến, dẫu xa xăm mà dạ luống bồn chồn.
Lòng quặn đau con nghĩ tới thầy, vì cách trở mà tình không đền đáp.
- Án sách, trạnh niềm khi thăm dạ, tưởng tượng vẻ cười, tiếng nói, hai hàng tầm tã đòi cơn.
Bên thềm, chợt tỉnh lúc trung tiêu, nhớ về dạ hiếu, lòng trung, chín khúc bâng khuân ngây ngất.
- Trên tổ đường chắc gương còn sáng, nghĩa tôn sư mong được báo đền.
Bỗng miền Tây đua hội làng tiên, tin thanh trước thềm réo rắt.
- Trận gió thoảng qua.
Bóng đèn vụt tắt!
- Thuyền Bát nhã buồm xuôi hải giác, nước trôi, sóng vỗ, lênh láng thủy triều dâng bãi cát, ngó đăm đăm: Biển cả sắc xanh rờn!
Xe Luân hồi bánh chuyển thiên thai, gió thoảng, mây bay, chan hòa quan diệu tỏa lùm cây, nhìn chăm chú: Trời cao màu tím ngắt!
Ôi than ôi!
- Công trình khó nhọc. cha sanh người mà thầy dạy nên người.
Phật tử hắt hiu, trước sầm uất mà nay thành u uất.
Thôi từ đây
- Cánh hạc mịt mùng.
Vó câu bằn bặt.
- Biết lấy ai cắt nghĩa: Thị sinh.
Biết lấy ai giải câu: Diệt pháp.
- Con vẫn nhớ: Vô thường là định luật, nhưng bàng hoàng xúc động phất chia ly.
Con không quên: Tịch diệt ấy niềm vui, sao vẫn thấy nhớ thương người đã khuất.
*
Đau đớn nhẽ, Tăng thống viễn du!
Xót xa thay, Quang Châu vừa mất!
Gió Nha Trang, Trúc Lâm rì rào, hiu hắt, gởi về đây ngàn vạn trái tim đau.
Chuông Túy Vân, Bảo Quốc rền rĩ, âu sầu, dâng lên đó muôn vàn lời chua sót.
- Nến Tây Thiên, Từ Đàm chập chờn, ủ dột, nhớ trưởng sư đi mãi chắc không về.
Hương Thuyền Tôn, Từ Hiếu nghi ngút u trầm, buồn Phật tự một vì sao vụt tắt.
- Thiên Mụ mõ rã rời.
Ngự bình chim dáo dác.
- Hàng Phật tử cúi đầu, hoen mắt lệ, cac Tăng Ni không tránh khỉ bàng hoàng.
Những tín đồ trầm lặng, ướt khăn tang, khắp dân chúng gợn buồn lên ánh mắt.
- Mà chướng nghiệp vẫn còn nhiều, chúng con bất rất, ưu phiền, vì chưa thông đạo pháp.
- Ngắmdi ảnh, lệ sầu chan chứa, đồng kính dâng:” TRỰC VÃNG TÂY PHƯƠNG”
Trông linh đàn, hương tỏa âm u, đồng bái chúc:” HOA KHAI KIẾN PHẬT”.
- Mong hội Long hoa Ân sư giáng hạ, độ ngàn năm quốc thái dân an.
Giúp nước Việt Nam dân tộc vươn lên, hưởng vạn kỷ hùng cường, thông nhất.
Hỡi ôi!
Gió tuôn đàn hạnh
Sầu phủ cố đô
Thiên sơn núi sập
Hương thủy sóng dồ.
Nam mô Ma ha Tỳ khiêu Bồ tát giới
Cố Tăng thống Pháp húy Thích Giác Nhiên
Giác linh thuyền tọa hạ
Tát đại chứng minh
Khấp bái.
*