Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 792.

Chương 4: Tiết 2 : Chư Tôn Thiền Đức Phật Giáo Thuận Hóa Trong Giai Đoạn Này (Tiếp Theo Tập 1). Hòa Thượng Viên Quang ( 1895-1976) Chùa Châu Lâm-Huế (Trang 33 - 41)

Tiết 2:
Chư tôn Thiền đức
Phật giáo Thuận hóa giai đoạn này
 (Tiếp theo tập 1)
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa  - Tập 2

Hòa thượng Viên Quang (1895 - 1976)
Chùa Châu Lâm – Huế
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Hữu Duy, sinh ngày 20 tháng 11 năm Ất Mùi niên hiệu Thành Thái (1895), nguyên quán thôn Đa Nghi, Tổng An Nhơn, huyện Phong Điền, tỉnh Quảng Trị. Năm 15 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia tại chùa Tường Vân, thờ Hòa thượng Tịnh Nhãn làm thầy, được Bổn sư cho Pháp danh Tâm Ấn. Sau đó lại phú cho kệ Đắc Pháp Đại sư:
     心  印  圓  明  悟  道  先
    參  禪  了  達  透  真  源

    拈  花  付  汝  如  來  藏              
    續  焰  玄  燈  萬  古  傳。

Phiên âm:           Tâm ấn viên minh ngộ đạo tiên,

     Tham thiền liễu đạt thấu chân nguyên.
     Niêm hoa phó nhữ như lai tạng,
     Tục diệm huyền đăng vạn cổ truyền.

Nguyên Hồng dịch:

      Tâm ấn viên minh ngộ đạo thiền
     Tư duy thấu triệt lý chân nguyên
     Cành hoa phú pháp Như Lai tạng
     Nối ngọn đèn tâm vạn cổ truyền.

Sau khi Bổn sư viên tịch, Ngài xin y chỉ với Pháp thúc là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết; sau đó Ngài vào chùa Thiên Hưng học với Hòa thượng Huệ Pháp. Năm Giáp Tý (1924) Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn Từ Hiếu, Pháp tự là Vĩnh Thừa, Pháp hiệu là Viên Quang. Năm Đinh Mão (1927) Ngài vào chùa Thập Tháp theo học với Hòa thượng Phước Huệ. Năm Quí Dậu (1933) Ngài trở về Thuận Hóa, đến Ấp Cư Sĩ, làng Dương Xuân lập thảo am, đặt tên là Pháp Uyển Châu Lâm, nay là chùa Châu Lâm ở phía phải đường lên chùa Từ Hiếu; cách Nam Giao độ 01 km. Năm Đinh Sửu (1937), Ngài được cử làm Trú trì Quốc tự Thánh Duyên. Năm Mậu Dần (1938), Ngài được thỉnh làm đệ tam Tôn chứng tại giới đàn chùa Đại Bi tỉnh Thanh Hóa. Năm Canh Thìn, Bảo Đại thứ 15 (1940), chùa Châu Lâm được vua "Sắc tứ". Năm Tân Tị (1941), Ngài được mời làm Tăng cang chùa Diệu Đế. Năm Nhâm Ngọ (1942) Ngài được Sơn Môn mời làm Trú trì chùa Từ Đàm. Đến năm Giáp Thân (1944), Ngài trở về chùa Châu Lâm giảng kinh và tiếp Tăng độ chúng. Năm 1953, Ngài được mời làm Giáo thọ tại giới đàn Báo Quốc.

Vào buổi sáng ngày 14 tháng giêng năm Bính Thìn (1976), Ngài viên tịch. Thọ 81 tuổi đời và 60 hạ lạp.
 
*
Tưởng niệm
1.
Văn Tưởng niệm của Cư sĩ Võ Như Nguyện :
Đạo hữu thâm tín, thường hay lên chùa đàm đạo, ông chính là Viện trưởng viện Hán môn ở Huế Võ Như Nguyện. Đồng thời, đạo hữu này có ghi lại lược trạng về Hòa thượng như sau :
“Sư vốn người họ Nguyễn, sinh thời Thành Thái năm Ất Mùi (1895), người làng Đa Nghi phủ Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Năm lên 15 sư Lễ Đại sư Tịnh Nhãn chùa Tường Vân thế phát với Pháp danh Tâm Ấn tự Vĩnh Thừa chuyên cần học tập và làm việc rất được thầy ưa thích. Sau khi Đại sư tịch, ngài đã nương Hòa thượng Huệ Pháp chùa Thiên Hưng tu học giáo quán. Năm Giáp Tý (1924) chùa Từ Hiếu khai Giới đàn ngài được Bổn sư cho thọ Cụ túc rồi tìm vào chùa Thiên Hưng tham học, đến năm Đinh Mão (1927) ngài vào Bình Định chùa Thập Tháp Di Đà lễ Hòa thượng Phước Huệ liên tục trong 5 năm học về Giáo lý Hạnh quả và đã được nhiều phần thâm nhập. Năm Quý Dậu (1933) ngài trở về lại Thuận Hóa kiến lập thảo am ở sơn phần Dương Xuân đặt tên Châu Lâm viện. Năm Đinh Sửu (1937) ngài được sung Trú trì quốc tự Thánh Duyên, năm sau (1938) tỉnh Thanh Hóa khai giới đàn ngài được thỉnh  đệ tam tôn chứng, năm Canh Thìn (1940) Châu Lâm viện được vua ban Sắc tứ Châu Lâm tự. Năm Tân Tỵ (1941) lại được sung vào Tăng Cang quốc tự Diệu Đế. Năm Nhâm Ngọ (1942) phong trào phát triển Phật giáo, sư lại được thỉnh làm Trú trì chùa Từ Đàm một tâm điểm của Phật học. Năm Giáp Thân (1944)
) ngài lại trở về chùa Châu Lâm giảng kinh niệm Phật đệ tử tín đồ quy y ngày càng đông mỗi năm lên đến số nghìn. Năm Nhâm Thìn (1952), chùa Báo Quốc khai đại giới đàn ngài được sung chức Hòa thượng Giáo thọ; năm Canh Tý (1960) chùa Châu Lâm Đại trùng tu chánh điện, xây thêm thiền đường, tháp Khả thê vân trì, cảnh trí đẹp đẽ nghiểm nhiên đã trở thành chốn Phạm vũ nơi thanh tu của bậc đại sư và để ngày sau chúng đệ tử luôn nhớ mãi đấng khai sơn tổ đức.
Đại sư là bậc tinh nghiêm giới luật, tông và giáo đều tinh thông, luôn nhàn tịnh ít nói, có lúc ngâm vịnh thì tỏ ra là bậc xuất thần; thường khuyên mọi người niệm Phật và ngồi ra còn tán thán các bậc chí sĩ hiền nhân trong đời, cũng như từ gốc căn bản trí phát sinh trí hậu đắc vậy. Còn thơ văn của ngài giàu tính bi nhưng lại kèm dũng khí, nên ngưỡng mong Hòa thượng trao truyền giáo giới thường khuyên thực hành tham bái để được lên chốn cao xa vậy.
Ngày Trọng Hạ Phật lịch 2507 năm Quý Mão (1963) Lễ Phật Đản.
Ưu-bà-tắt Võ Như Nguyện, Pháp danh Nguyên Chí
2.
Văn bia tưởng niệm của Hòa thượng Trí Siêu:
Sau khi Hòa thượng viên tịch, Hòa thượng Trí Siêu có viết Bài Minh ca ngợi công đức của Ngài và chúng tôi xin trích nguyên văn như sau :
Nước Việt Nam ta, từ khi được tắm gội những con sóng lớn của mưa pháp, được bước theo dấu chân của bậc Đại Thánh mà chứng chân, thì đời đời vẫn không thiếu người tiếp ngọn đèn tâm huệ mạng của Phật, nối hạt trí của chân thân Pháp, để dẫn dắt hậu sinh,
giáo hố bốn chúng. Hòa thượng Tâm Ấn Vĩnh Thừa ngày nay chính là một người trong số đó.
Hòa thượng họ Nguyễn, người thôn Đa Nghi, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, sinh năm Ất Mùi (1895) niên hiệu Thành Thái thứ mười. Thuở ấu thời Hòa thượng thông minh trác tuyệt, đến khi trưởng thành thì vào kinh đô Phú Xuân, đến thế phát với Đại sư Tịnh Nhãn chùa Tường Vân, được ban Pháp danh Tâm Ấn, đạo hiệu Vĩnh Thừa. Chẳng bao lâu Bổn sư thị tịch, Hòa thượng Y chỉ Đại sư Hụê Pháp chùa Thiên Hưng, thọ Cụ túc ở giới đàn Từ Hiếu, rồi vẫn tiếp tục học trong suốt bốn năm. Năm Đinh Mão (1927) Hòa thượng lại vào tham thỉnh Đại sư Phước Huệ chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định. Giữa năm Quý Dậu (1933) niên hiệu Bảo Đại, Hòa thượng trở về Phú Xuân, dừng bước ở núi Dương Xuân, kiến lập thảo Am, để tiện việc tu trì. Năm 45 tuổi, Trú trì Quốc tự Thánh Duyên. Năm sau Hòa thượng lại làm Đệ tam Tôn Chứng giới đàn ở Thanh Hố. Cũng vào năm đó, thảo Am của Ngài được Vua ban tấm biển Sắc Tứ Châu Lâm tự, lại kiêm nhiệm Tăng Cang Quốc tự Diệu Đế và Trú trì chùa Từ Đàm là nơi học Phật vào thời đó. Không lâu đã đến 60 tuổi, Hòa thượng trở về chùa cũ, giảng học, tham thiền; ít năm sau lại được mời làm Giáo thọ Hòa thượng giới đàn chùa Báo Quốc vào năm Nhâm Thìn (1952). Đến năm Canh Tý (1960), Hòa thượng trùng tu Đại Hùng BẢo Điện và tái thiết Thiền đường chùa Châu Lâm. Lúc đó đã 70 tuổi, nhưng vẫn liên tiếp được thỉnh làm Yết-ma Hòa thượng giới đàn Từ Hiếu ở Thuận Hố và giới đàn Vĩnh Gia ở Quảng Nam. Tháng giêng năm Bính Thìn (1976), vào ngày trước tết Nguyên Tiêu, Hòa thượng an nhiên thị tịch, lịch nghiệm thế trần đúng tám mươi ba năm.
Hòa thượng một đời tu học gian khổ. Sau khi thọ Cụ túc Ngài du hố khắp nơi để tham vấn Thiền đức, dạy dỗ chúng Tăng không hề 
mệt mỏi. Những vị thành tài chẳng phải là ít, các bậc cao tăng như Đại sư Thiên Hồ, Thiên Ân, không dưới bao người, lại được trưởng thành trong cái thanh cao của Phạn điển; thật không hỗ danh là bậc truyền thừa của Tăng-già Việt Nam; mỗi khi thị hiện thì đạo trường xán lạn, ngát toả danh thơm. Ngồi ra, Hòa thượng còn là bậc kỳ tài trong thi ca Quốc ngữ, đề tài phong phú, ngôn từ trác tuyệt.
Siêu tôi vốn nghe danh Hòa thượng mà chưa hề diện kiến. Nay đệ tử của Ngài lập tháp để lễ Ân sư. Tháp vừa xây xong, tìm đến Siêu tôi, thỉnh làm bài từ. Siêu tôi chẳng quản bút mực hoang sơ, xin làm bài minh răng:
            Mai Lĩnh cao vút     
            Thạch hãn phấn chấn

            Khí thiêng hội tụ     
            Un đúc thành người

            Tuổi xuân mộ Phật  
            Chí hướng siêu trần

            Giới hạnh nghiêm cẩn       
             Ngọc ban chúng dân

            Dựng nghiệp Dương Xuân 
             Chỉ Đạo là quý

            Này huyễn này hố   
             Là thực là chân

            Già xả báo thân      
            Thần cư Lạc Quốc

            Một đời tịch chiếu   
            Bảy chúng hàm ơn
.
Phật lịch 2544, ngày 15 tháng 6 Canh Thìn (2000)
Thiện thệ tử Thích Trí Siêu bái soạn.
 
3.
Trích một số bài thơ của Hòa thượng
 
1. Vịnh con mèo
Chú mĩu bình sinh tính đảo điên
Làm cho nhà bếp mãi ưu phiền
Tài năng luốn léo xoong tôm luộc
Trí xảo mưu mô đĩa cá chiên
Sớm tối toan rình ba chú mối[1]
Ngày đêm hăm dọa mấy ông thiêng[2]
Oai vang thế lực ngồi ngang chủ
Sẩy bước sa chân chó ngoạp liền.
 
 
4. Đề tặng Thầy Quang Phú (Đạo Quang)
Tâm tính chất trực dáng kẻ tu
Đường đường tăng tướng chẳng phàm ngu
Tương lai đạo pháp lo gìn giữ
Xuất hướng siêu trần chiếc áo nu[3]
 
5. Đề tặng thầy Thiên Ân[4]
Tuệ đức song hành chí trượng phu
Xa thầy hương nước mấy xuân thu
Châu lâm rừng thẳm còn ghi nhớ
Đất lạ quê người giữ áo nu.
 

[1] Chú mối: con rắn mối, các đại gia
[2]  Ông thiêng: con chuột, các Thầy tu
 [3] áo nữ: áo nâu của thầy tu
[4] Hòa thượng Thiên Ân người truyền Phật giáo đầu tiên ở Mỹ

6. Vịnh ông Táo
Chụm miệng ba ông nói chuyện chi
Thân hình lem luốt lọ đen sì
Trên đầu lửa cháy đành trơ vậy
Dưới đít tro nung chẳng sợ chi
Gió thổi nhà xiêu không nhúc nhích
Mưa sa nước sẩy cứ ngồi lì
Ham ăn lủi thủi trong khung bếp
Tháng chạp hăm ba tống cổ đi.
 
7. Mất tiền
Tết nhất năm nay quá lạnh lùng
Bạc tiền vơ hết để rương không
Lồng đèn lỏng dỏng treo vài ngọn
Bánh tét lưa thưa nấu nửa thùng
 
8. Tết đau bệnh cúm
Tết nhất năm nay chẳng thấy vui
Cúm đi cúm lại mỏi hai cùi
Ngày thì đắp chiếu nằm co rút
Đêm lại sương mù lạnh nứt mui.
 
 
9. Tặng thầy Trí Quang sau khi tuyệt thực
Tuyệt thực trăm ngày sống giỏi ghê
Gandi Ấn Độ sánh đâu tề
Tây âu hào kiệt còn kiêng nể
Nam á anh hùng chẳng dám chê
Ý chí vững bền như ngọc thạch
Tinh thần sáng suốt tợ pha lê
Hy sinh tranh đấu cho nền đạo
Chuộng nước yêu dân khắp bốn bề.
 
10. Bác đội Thăng bị bắt
May tui chút nữa xúc lên xe
Đau đớn Tâm Thăng bị khẻ què
Thân thể ngay đơ không nhúc nhích
Tay chân bủn rủn chẳng ngo ngoe
Bệnh lành trở lại giam lao xá
Phóng thích lui ra viếng bạn bè
Cầu trời khấn Phật mau sức khỏe
Châu Lâm vãng cảnh tiệc xôi chè.
 
11. Cảnh Thu Ất Mão
Ngắm cảnh trời thu luống đoạn trường
Thiết tha lắm nỗi cảnh tang thương
Rừng thiền vắng vẻ Tăng lui gót
Cửa Phật trang nghiêm quỷ châïn đường
Đuốc tuệ không người soi ánh sáng
Hoa sen ít kẻ biết mùi hương
Đến đời mạt pháp đành như vậy
Sợ nỗi tương lai khó được thường.
 
12. Tuổi 82
Tuổi tác năm nay đã tám hai
Mừng cuộc chiến tranh khỏi kéo dài
Phản lực phi cơ bay về Mỹ
Độc lập hồn tồn chẳng sợ ai
 
 
 
*

 
/156
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »