Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 792.

Chương 83: Hòa Thượng Quảng Liên (1926 – 2009) Tu Viện Quảng Đức(Thủ Đức) – Tp. Hồ Chí Minh (Trang 477 - 482)

Hòa thượng Quảng Liên (1926 – 2009)
Tu viện Quảng Đức(Thủ Đức) – Tp. Hồ Chí Minh
Hòa thượng Pháp danh Quảng Liên, tự Bi Hoa, hiệu Trí Hải, thế danh Nguyễn Văn Chính, sinh năm 1926 tại Sông Cầu, Tỉnh Phú Yên, trong một gia đình túc nho, tiểu thương, giàu lòng kính tin Tam bảo.
Hòa thượng là con thứ 8 trong gia đình với  9 anh chị em được thân phụ là Cụ ông Nguyễn Văn Phân, Pháp danh Nhựt Minh và Thân mẫu là cụ bà Võ Thị Dưỡng, Pháp danh Nhựt Sanh.
Ấu  thời, Hòa thượng được song thân cho học ở trường tiểu học Quận, vốn sẵn tính thông minh, thiện nết, được thầy bạn thương yêu, ngài dốc lòng học tập mở rộng kiến thức. Sau một thời gian, ngài được gởi đi học trường Pháp Việt tỉnh lỵ Sông Cầu, đây là cơ duyên để thăng tiến tự thân, cũng chính thời gian này Hòa thượng tham gia Đồn Đồng Ấu Phật Tử, thường lui tới viếng thăm, tu học tại Tỉnh Hội Phật học Phú Yên, khuôn Tịnh Độ địa phương. Chí nguyện xuất trần thượng sĩ cũng bén rễ từ đây, khơi dậy trong ngài chủng tử thiện lành từ vô lượng kiếp.

Túc duyên sẵn có, năm 1940 tại chùa Vĩnh Long, Ngài được hội kiến với Cố Đại lão Hòa thượng thượng Vĩnh hạ Thọ, Hòa thượng được Ngài Vĩnh Thọ trao truyền Tam quy ngũ giới với Pháp danh là Quảng Liên và nhân cơ duyên hạnh ngộ này Hòa thượng đã  trình bày tâm nguyện xuất gia của mình được Ân sư hứa khả, nhưng song thân không cho phép nên sở nguyện của Ngài chưa được thành tựu. Trước tinh thần cầu đạo giải thốt, tâm nguyện tha thiết được trở thành trưởng tử Như Lai của Ngài, đến năm 1941 Hòa thượng Vĩnh Thọ hoan hỷ cử hành nghi thức thế phát cho Ngài, nhưng không cạo tóc để chờ sự cho phép của song thân. Và Hòa thượng được Bổn sư ban cho Pháp hiệu là Trí Hải, Tự là Bi Hoa.
Thế rồi thắng duyên lại đến, mùa trăng tròn giữa thu năm 1942, khi Chư Tăng Tỉnh Phú Yên do Ngài Quảng Đạt hướng dẫn vào nam tu học, thì Hòa thượng cũng chính thức xuống tóc và theo đồn khất sĩ lên đường thực hiện hạnh nguyện của mình. Với hình ảnh những chàng thanh niên hiếu học, sống thiện lành, phát tâm dấn thân cầu đạo giải thốt đã làm xúc động lòng người, Ông Tỉnh Trưởng, và Bố Chánh Tỉnh Phú Yên mở tiệc chia tay và cũng nói lên lòng quý mến. Dòng Tam Giang êm đềm trôi chảy mang theo tâm nguyện của ngài, ánh trăng giữa thu soi rọi con đường tìm chân lý mà Hòa thượng đã phát tâm lập nguyện từ thuở ấu thời nay thành tựu.
Bước vân du của Ngài từ Ga Chí Thạnh, đến Nha Trang, Phan Thiết, Sài Gòn và cuối cùng là Phật học đường Lưỡng Xuyên với 4 năm dày công tu học, hành trì. Trong thời gian này, Ngài được truyền Sa Di Giới.
Năm 1947, Ngài về trụ tại Chùa Phật Quang, Trà Ôn vài tháng sau đó về tu học tại Phật học đường Liên Hải – Chợ Lớn, Ngài phát tâm đảm nhiệm công việc phụ trách tài chánh, chăm lo kinh tế cho
Phật học viện. Đến giữa năm 1947, nhận thấy thời thế không yên nên Ngài cùng với Hòa thượng Trí Minh kết nghĩa, cùng nhau lên đường ra Huế học Bậc Cao Đẳng Phật học tại Báo Quốc – Huế.
Năm 1951, Phật giáo Việt Nam hồ mình cùng Phật giáo Thế giới, Ngài được Tổng Trị Sự Phật Giáo Việt Nam cử đại diện cho Hội Phật học Nam Việt cùng với 2 ngài Hòa thượng Minh Châu – Đại diện cho Hội Phật Giáo Trung Việt, Hòa thượng Quảng Độ – Đại diện cho Phật Giáo Bắc Việt đi du học tại Trường Phật Giáo Thế Giới Colombo – Tích Lan, Trường Đại học Quốc Gia KanDy, Tích Lan và Ngài tốt nghiệp Cử nhân năm 1956.
Cuối năm 1956, Hòa thượng nhận được học bổng của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ liên kết với Cơ quan văn hố Hoa Kỳ tiếp tục xuất ngoại học tại Đại học Yale, một trường Đại học danh tiếng của Mỹ Quốc. Đến năm 1960, Hòa thượng trình luận án tốt nghiệp chuyên ngành nghiên cứu về vấn đề kinh tế, xã hội, văn hố, . . . Đông Nam Á, và được công nhận học vị Tiến Sĩ.
Năm 1950, Ngài cùng với Cố Hòa thượng Thiện Hồ, Hòa thượng Quảng Minh, Ngài Huyền Dung, Ngài Trí Huệ thành lập Phật học đường Nam Việt, và Hòa thượng cùng với Cụ Chánh Trí – Mai Thọ Truyền, thành lập Hội Phật học Nam Việt, Ngài được cử làm Trưởng Ban Hoằng Pháp đầu tiên của Hội. Đến năm 1951, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt ra đời cũng ghi nhận công đức sáng lập của Hòa thượng. Đây là những hội Phật học đầu tiên tại Miền Nam được tổ chức quy cũ, thực hiện công cuộc Chấn Hưng Phật Giáo.
Sau khi Hòa thượng trở về Việt Nam tiếp tục công hạnh hoằng dương chánh pháp, với tinh thần “nhiêu ích hữu tình, lợi lạc quần sanh”, trong giai đoạn 1960 – 1975 ngài được mời giữ chức vụ Cố Vấn cho Ủy ban Văn hố Châu Á, Giáo sư Đại học Văn Khoa.
Năm 1963, Mùa Pháp Nạn của Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng tham gia Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật Giáo trong vai trò Ủy viên Dân Sự thực hiện nhiệm vụ tổ chức nam nữ thanh niên, Sinh viên, học sinh để tranh đấu chống lại bạo quyền nhà Ngô để bảo vệ Phật Pháp, Hòa thượng bị bắt từ đêm 20/08 đến ngày 24/10/1963 mới được về Chùa.
Cuối năm 1963, đầu năm 1964 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài giữ chức vụ Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Pháp Sự (Văn Hố – Giáo dục – Xã hội), ngài sáng lập và xây dựng hệ thống Trường Bồ Đề trên cả nước và giữ nhiệm vụ Hiệu Trưởng Giám Đốc Trung học Bồ Đề Sài Gòn – Chợ Lớn (nay là Trường Đồng Khởi)
Năm 1965, Hòa thượng đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tham dự Đại hội thành lập Giáo Hội Tăng Già Thế Giới tại Colombo (Tích Lan) và được cử làm Ủy viên Giáo dục Phật Giáo Thế Giới. Đến năm 1970 ngài tham dự Hội nghị thành lập Hiệp Hội Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Hàn Quốc, Hòa thượng được mời giữ chức vụ Ủy viên Giáo dục. Cùng năm đó, Hòa thượng dự Hội nghị Giáo sư tự do Thế giới tại Colombo (Tích Lan), và được nhận chứng chỉ Giáo sư Quốc tế.
Từ năm 1964 đến năm 1975 tròn một thập niên  ngài đóng góp nhiều cho sự nghiệp giáo dục trong nhiều vai trò như: Cố vấn Hội Việt Mỹ, Chủ tịch Hội đồng tư thục Việt Nam, Ủy viên Hội đồng cải tổ cập nhật hố chương trình giáo dục, Đại học Văn Khoa Sài Gòn, giáo thọ sư tại các giảng đường Phật học.
Sau ngày đất nước hồn tồn giải phóng, vì tuổi cao sức yếu ngài lui về an trú tại Tổ đình Tu viện Quảng Đức và tiếp tục công hạnh của mình bằng việc trước tác,
 biên phiên dịch Tam tạng kinh điển, hoằng truyền Giáo pháp Thích tôn, trong giai đoạn này Ngài được cung thỉnh Chứng minh Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, Chứng minh Ban Đại diện Phật giáo Quận Thủ Đức, Quận 2, Quận 9.
Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2003 là giai đoạn mà Ngài thực hiện những chuyến hành hương, chiêm bái, và Hoằng pháp tại các nước Châu Á, Châu Âu. Đây là thời điểm mà Pháp âm của Ngài đồng vọng trên khắp năm Châu.
Suốt hơn 70 năm tu học và hành đạo ngài đã thực hiện thành tựu công đức truyền trao giới pháp.
Năm 1962, Ngài về đất Thủ Đức khai sơn chùa Liên Hải làm nơi để tịnh tu.
Năm 1967 ngài khai sơn Tổ đình Tu viện Quảng Đức làm cơ sở đào tạo Tăng tài, hoằng dương Chánh pháp, trải qua nhiều giai đoạn trùng tu đến nay Tổ đình là ngôi Tam Bảo trang nghiêm, là thắng tích được Tăng, Ni, Phật tử trong ngồi nước biết đến.
Dù nhiều Phật sự, tuổi cao sức yếu nhưng ngài không bao giờ xao lãng việc trùng hưng các ngôi Tam bảo như: Trùng tu Chùa Quảng Đạt – Phú Yên, khai sơn Tịnh xá Quảng Liên, trùng tu các Tự viện trực thuộc Tổ đình. Đặc biệt là góp phần trùng tu, xây dựng chốn Tổ Trà Cú, Chùa Hoa Yên, Thắng tích Yên Tử.
Ngồi công việc trùng tu, ngài còn phiên dịch Tam Tạng Kinh điển là Phật sự mà suốt cuộc đời Ngài lưu tâm, thực hiện góp phần lưu truyền chánh pháp, với các tác phẩm: - Kinh Dược Sư, - Kinh Viên Giác, - Kinh Nhật Tụng (Nghĩa), - Kinh Vu Lan – Báo Hiếu, - Tu bát quan trai giới, - Đại Thừa Khởi Tín Luận, - Phật Giáo hiện đại, - Tư tưởng Phật giáo, - Bổn phận người Phật tử, - Hai bài thuyết pháp Phật giáo Anh Việt, - Phật Giáo và triết học Tây
Phương, - Sử cương triết học Ấn Độ, - Duy thức học, - Trung Quán Luận.
Ngồi ra hiện nay còn nhiều tác phẩm, nhiều công trình chưa xuất bản đã nói lên công hạnh của Ngài đối với Đạo Pháp – Dân tộc.
Theo định luật vô thường, thân tứ đại của Ngài theo ngày tháng cũng bị chi phối, pháp thể khiếm an vì bệnh duyên, tuổi cao sức yếu nhưng Hòa thượng vẫn an nhiên, hoan hỷ sách tấn thất chúng đệ tử tu học, tiếp tục con đường của Ngài.
Vào ngày 19 tháng 3 năm Kỷ Sửu Hòa thượng mộng thấy Trời Đế Thích cung thỉnh ngài thuyết pháp, sau đó ngày 20/3, Hòa thượng nhuốm bệnh và phải nhập viện vì tứ đại khiếm an. Sau thời gian điều trị, Hòa thượng nhận biết cơ duyên hóa độ nơi cõi Ta bà sắp mãn, Ngài dạy chúng đệ tử đưa ngài về Tu Viện để tịnh dưỡng.
Tối ngày 23/3 Hòa thượng phó chúc Phật sự, khuyến tấn tu trì đệ tử xuất gia. Sau đó ngài dạy thất chúng đồng nhiếp tâm niệm Phật, và kể từ lúc 00 giờ 00 ngày 24/3 ngài không dùng thuốc, không thở bằng bình oxy, nhiếp tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà cầu vãng sanh Tịnh Độ.
Thuận thế vô thường, Hòa thượng an nhiên thu thần thị tịch vào lúc 12  giờ 15 ngày 05 tháng 5 năm Kỷ Sửu (nhằm ngày 28 tháng 05 năm 2009), trụ thế 84 năm, hạ lạp 60 năm.
Môn đồ pháp quyến phụng soạn
 
 
 
*
/156
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »