Ni trưởng Như Thanh (1911 – 1999)
Chùa Huê Lâm – Tp.Hồ Chí Minh
Sư trưởng, Pháp danh Như Thanh (Đàm Thanh), húy Hồng Ẩn, tự Diệu Tánh. Thế danh là Nguyễn Thị Thao, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1911 (Tân Hợi) tại làng Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, là đệ tử Sư tổ Pháp Ấn chùa Phước Tường (Thủ Đức), thuộc dòng Thiền Lâm tế Gia phổ, đời thứ 40. Thân phụ là tri huyện Nguyễn Minh Giác, Pháp danh Hồng Ngộ và thân mẫu là cụ bà Đỗ Thị Gần, Pháp danh Hồng Tín. Sư trưởng là người con thứ tám trong một gia đình có mười anh chị em.
Thiếu thời, Sư trưởng học vỡ lòng bằng chữ Hán, sau học văn hóa chương trình Pháp do thân phụ truyền dạy.
Năm 1932 (tuổi 22), Sư trưởng xin phép phụ thân xuất gia với Hòa thượng Pháp Ấn chùa Phước Tường (Thủ Đức), Hòa thượng thâu nhận và cho thế phát xuất gia, đặt Pháp danh là Hồng Ẩn.
Năm 1935 (25 tuổi), Sư trưởng cùng quý Sư cụ Diệu Tịnh, Diệu Tấn, Diệu Thuận xây dựng chùa Ni, hiệu Từ Hóa tại làng Tân
Sơn Nhì, tỉnh Gia Định, nay là Hải Ấn Tự. Cũng trong năm đó, Sư trưởng vâng lệnh Sư tổ Pháp Ấn về lãnh chùa Hội Sơn, xã Long Bình, quận Thủ Đức, và đã hóa độ một số Ni chúng ở địa phương.
Năm 1938 (28 tuổi), Sư trưởng cùng Sư cụ Diệu Hường ra Huế tham học Phật pháp. Dịp này, Sư cụ Diệu Không mời Sư trưởng ở lại chùa Diệu Đức và thọ học với Hòa thượng Mật Hiển. Hơn một năm, Sư trưởng học được những bộ Kinh quý như Lăng Nghiêm Trực Chỉ, Bát Nhã... được Hòa thượng khen ngợi là người thông minh xuất chúng.
Năm 1939 (29 tuổi), Sư trưởng từ giã cố đô Huế một mình ra Hà Nội tìm học và nghiên cứu Luật tạng. Muốn học và nghiên cứu Luật tạng, trước tiên phải thọ Đại giới, vì thế sau khi đến Hà Nội, Sư trưởng đã mau chóng tìm Luật sư cầu giới Tỳ-kheo-ni. Nhân duyên đã đến, người được thọ Đại giới tại chùa Phúc Loại, tỉnh Hà Đông, được ban Pháp hiệu Đàm Thanh. Trong Đàn giới này, Hòa thượng Tâm An chùa Phúc Loại, tỉnh Hà Đông làm Hòa thượng Đàn đầu.
Năm 1940 (29 tuổi), Sư trưởng đến cầu học bộ Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Lược Ký với cụ Tổ trụ trì chùa Trấn Quốc miền Bắc. Học xong bộ Luật Tứ Phần, Sư trưởng đến cầu học bộ Luật Tỳ Kheo Ni Sao với cụ Tổ trụ trì chùa Bằng Sở, Hà Đông. Học xong hai bộ Luật Ni căn bản, Sư trưởng bắt đầu cuộc hành trình chiêm bái các Phật tích tại miền Bắc. Khi đến núi Yên Tử trước thánh tích Trúc Lâm Tam Tổ với cảnh trí thanh tĩnh u nhàn, hương thiền phảng phất đó đây, Sư trưởng đã quyết định lưu chân tại chùa Giải Oan ba tháng.
Năm 1941 (31 tuổi), sau khi chu du tham học khắp nơi với hồi bão tự lợi lợi tha, Sư trưởng tự thấy cần phải ra gánh vác Phật sự, dìu dắt Ni chúng.
Cuối năm đó, Sư trưởng thu xếp về Nam, trên đường về, Sư trưởng được biết Quốc sư Phước Huệ - Viện chủ chùa Thập Tháp (Bình Định) là vị cao Tăng nổi tiếng, bác thông Kinh Luận bậc nhất thời bấy giờ. Không bỏ lỡ cơ hội, Sư trưởng liền ghé lại Bình Định, đến chùa Thập Tháp cầu học bộ Kinh Lăng Già Tâm Ấn với Sư tổ Phước Huệ. trong suốt năm tháng. Đây là bộ giáo điển Đại thừa nhưng nhờ thiên tư mẫn tiệp, Sư trưởng lãnh hội thâm nghĩa rất nhanh.
Đầu năm 1942 (32 tuổi), Sư trưởng về đến miền Nam, trở lại chùa Hội Sơn (Thủ Đức). Việc đầu tiên là mở lớp dạy Luật cho quý Ni sư, Sư cô. Tại đây, chư Ni từ các nơi như Nha Trang, Mỹ Tho, Sài Gòn đều về tham học trong ba tháng Hạ. Cùng mùa An cư năm ấy, Sư cụ Diệu Tấn trụ trì chùa Kim Sơn (Phú Nhuận) khai Hạ an cư, mời Sư trưởng làm Thiền chủ và giảng dạy giáo lý cho chư Ni, Ni chúng tụ về An cư có hơn 80 vị.
Năm 1943 (33 tuổi), Sư trưởng và Sư cụ Diệu Tấn hướng dẫn chư Ni như Huyền Huệ, Viên Huy... đến cầu học Kinh Kim Cang Chư Gia với sư Tổ chùa Phước Tường .
Năm 1944, chùa Bình Quang, Phan Thiết khai Đại giới đàn bên Ni và thỉnh Sư trưởng và Sư bà Diệu Ấn làm Giới sư Ni. Tại chùa Hội Sơn, trong mùa Hạ này có quý Sư bà Diệu Huệ (chùa Tâm Ấn, Bình Định), Sư bà Tâm Đăng (chùa Linh Sơn, Nha Trang), Sư bà Huyền Huệ (chùa Hải Ấn, Bà Quẹo), cùng chư Ni miền Trung, miền Nam tụ về đông đủ, tất cả đã thỉnh Sư trưởng dạy bộ Luật Tứ Phần Tỳ Kheo Ni Lược Ký trong ba tháng.
Năm 1945, ông bà tri huyện Nguyễn Kỳ Sắc cung thỉnh Sư trưởng về trụ tại chùa Huê Lâm
Năm 1947 (37 tuổi), Sư trưởng mở Phật học Ni viện tại chùa Huê Lâm.
Năm 1948 (38 tuổi), Sư trưởng nhận thấy cần áp dụng sở tu, sở học của mình trong tiến trình hành đạo, bèn lần lượt tìm nơi mở trường đào tạo Ni lưu. Bước đầu trường được mở tại chùa Linh Sơn (Quận 8), chùa Giác Thiên (Vĩnh Long), sau đó đến chùa Tân Hiệp (Mỹ Tho).
Năm 1952 (42 tuổi), Sư trưởng xây cất trường Tiểu học Kiều Đàm tại chùa Huê Lâm để dạy bổ túc văn hóa cho chư Ni .
Năm 1956 (46 tuổi), khi Giáo hội Tăng già Nam Việt thành lập, Sư trưởng bày tỏ ý nguyện thống nhất Ni bộ và được chư Tôn đức trong Giáo hội ủng hộ. Sư trưởng đã đích thân đến khắp các chùa Ni trải dài trên hai miền Nam, Trung đất nước không kể ngày đêm lao nhọc để vận động chư Ni hợp nhất thành một đồn thể - mở đầu cho thời kỳ thống nhất Ni bộ.
Ngày 06 và 07 tháng 10 năm 1956, tất cả chư Ni tựu về chùa Huê Lâm và đã thành lập Ban lãnh đạo Ni bộ lâm thời. Trong kỳ Đại hội này, Ni trưởng đã được đề cử Trưởng ban Quản trị Ni bộ Nam Việt, lãnh đạo Ni chúng.
Cuối năm 1956, Giáo hội Tăng già Nam Việt giao chùa Dược Sư cho Ni bộ Nam Việt quản lý. Sư trưởng và tồn thể Ban quản trị vâng lời chư Tăng đứng ra lãnh trách nhiệm quản lý chùa Dược Sư - trụ sở Ni bộ cũng được dời về đây.
Năm 1957 (47 tuổi), Sư trưởng cùng quý Ni trưởng trong Ban quản trị Ni bộ Nam Việt xét thấy cần có một trụ xứ khang trang rộng rãi để đặt trụ sở Ni bộ, thuận tiện cho việc hội họp sinh hoạt. Do đó, Sư trưởng đích thân kêu gọi quý Ni trưởng trong Ban chấp hành đứng vào Ban kiến lập để vận động tài chánh xây dựng chùa Từ Nghiêm làm Tổ đình Ni giới và trụ sở Ni bộ Nam Việt.
Năm 1962, ngôi chùa hồn thành khang trang. Sau lễ khánh thành, Sư trưởng và quý Ni trưởng trong Ban quản trị Ni bộ đã mở Phật học viện tại chùa Từ Nghiêm để đào tạo Ni tài.
Năm 1964, Sư trưởng hướng dẫn chư Ni nhập thất tĩnh tu tại chùa Từ Nghiêm hầu củng cố thêm đạo lực và công hạnh trước khi ra phụng sự Chánh pháp.
Năm 1972, Giáo hội giao chức Vụ trưởng Ni bộ Bắc tông cho Sư trưởng. Về sau, các vị thừa kế chức vụ này đều tôn Sư trưởng làm Cố vấn tối cao. Vào năm này, chỉ Sư trưởng là người có uy tín nhất mới có thể đứng ra triệu tập Đại hội Ni bộ khống đại (từ vĩ tuyến 17 trở vào) tại chùa Từ Nghiêm vào hạ tuần tháng 12.
Đến 1975, sau ngày đất nước thống nhất, Sư trưởng vẫn ở chùa Huê Lâm tiếp tục nghiên cứu, phiên dịch Kinh điển và xây dựng các công trình Phật giáo. Lúc này, Ni bộ không còn chính thức hoạt động nhưng Sư trưởng - với tư cách là người lãnh đạo Ni giới vẫn đầy đủ uy tín, đức độ. Một bằng chứng hiển nhiên là những nghi lễ, quy điều mà Ni bộ đã đưa ra, các chùa Ni vẫn luôn tuân thủ hành trì. Thế mới biết niềm tin yêu và sự kính trọng của Ni giới đối với Sư trưởng chẳng phải một thời.
Năm 1981, Sư trưởng đã được mời tham dự Đại hội Thống nhất Phật giáo nhưng do tứ đại bất an nên Sư trưởng ủy thác cho Ni trưởng Diệu Đức chùa Kiều Đàm ở Long Thành thay mặt.
Năm 1987, Đại hội Phật giáo Việt Nam lần hai tổ chức tại Hà Nội, Sư trưởng đã tham dự với tư cách Đại biểu danh dự.
Trong giáo pháp Phật, Luật tạng là một trong ba tạng Thánh giáo có công năng đưa hành giả từ phàm phu lên Thánh vị tới đích giải thốt an vui. Đạo Phật đề cao tinh thần nghiêm minh giới luật. Giới luật được coi là kỷ cương trong Phật pháp, là mạng mạch
Tăng-già. Nơi nào giới luật được hoằng truyền nơi đó Phật pháp hưng thịnh. Trước khi nhập Niết-bàn, Phật dạy: “Dĩ Ba-la-đề-mộc-xoa vi sư”, “Tỳ-ni tạng trụ Phật pháp diệc trụ”. Đệ tử Phật nương nơi giới luật làm thầy, hành trì giới luật Phật pháp sẽ trường tồn trên thế gian này. Sư trưởng là bậc uyên thâm tinh tường giới pháp, là bậc nghiêm minh giới luật, điều này được thể hiện qua đạo phong phẩm hạnh của Người. Vì thế trong các Giới đàn từ năm 1946 đến năm 1998, Hội đồng Ni bộ Bắc tông cung thỉnh Sư trưởng làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới cho giới tử Ni: Tổng cộng 16 Giới đàn.
Suốt 60 năm liên tục, Sư trưởng đã trước tác và phiên dịch nhiều tác phẩm quan trọng nhằm xiển dương Chánh pháp. Sau đây là những tác phẩm còn lưu giữ tại Tổ đình Huê Lâm: Trước tác soạn thuật : 12 tác phẩm, 7 dịch phẩm, 8 thi phẩm. Chủ biên các Tập san 1 - Tập san Nhân Cách - Ni chúng Huê Lâm ấn tống năm 1966. 2 - Tập san Hoa Đàm - Tòng Lâm Ni Bộ xuất bản năm 1973.
1) Chùa Hội Sơn, 2) Chùa Huê Lâm I, 3) Chùa Từ Nghiêm, 4) Chùa Phổ Đà, 5) Chùa Hải Vân, 6) Chùa Quy Sơn, 7) Chùa Huê Lâm II, 8) Quan Âm Phật Đài, 9) Quan Âm Bảo Điện, 10) Pháp Hoa Tịnh Viện
Sau một thời gian dài hoằng pháp lợi sinh, tiếp Ni độ chúng, thân tứ đại của Ni trưởng đã mòn mõi theo năm tháng như chiếc xe đã mục nát, thuận thế vô thường, Ni trưởng đã xã thân mộng huyễn về với cõi Phật. Ni trưởng Trụ thế 88 tuổi đời, Pháp lạp 60 tuổi đạo.
*