Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 792.

Chương 44: Hòa Thượng Minh Tánh (1923 – 1995) Chùa Thiên Khánh – Long An (Trang 260 - 268)

 
Hòa thượng Minh Tánh (1923 – 1995)
Chùa Thiên Khánh – Long An
Hòa thượng Thích Minh Tánh, thế danh Từ Phước Thành, huý thượng Nguyên hạ Chơn, hiệu Minh Tánh. Sinh ngày 24-07 năm Giáp Tý (1923) tại xã Minh Hương huyện Nghĩa Thành tỉnh Quảng Ngãi. Thân phụ là cụ ông Từ Thanh Huy, thân mẫu là bà Lê Thị Bông, Ngài là con thứ 9 trong gia đình có 9 anh chị em (3 anh trai, 4 chị gái, 1 em trai).
Gia đình có truyền thống nhiều đời kính tin Tam Bảo và có lòng yêu nước nồng nàn.
Năm lên 7 tuổi đã được theo chân Thân phụ đến học đạo, công quả tại chùa Từ Quang, kinh đô Huế.
Năm 17 tuổi (1940), được Hòa thượng Tâm Thông hiệu Quảng Nhuận Trụ trì Tổ đình chùa Từ Quang, thuộc dòng Lâm tế chánh tông. đời thừ 43 tiếp độ cho thế phát xuất gia tại chùa Linh Quang - Đà Lạt.
Sau khi chính thức xuất gia Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho vào tu học tại Phật học đường Tây Thiên và Phật học đường Báo Quốc - kinh đô Huế, đây là hai Phật học đường danh tiếng miền Trung thời bấy giờ.
Suốt 8 năm tu học tài đức song tồn, Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho phép thọ tam Đàn tại Đàn giới "Hộ Quốc Đàn" được tổ chức tại Phật học đường Báo Quốc do Hòa thượng Tường Vân (Tịnh Khiết) làm đàn đầu vào năm 1948, khi ấy Ngài vừa tròn 25 tuổi.
Sau khi tốt nghiệp Phật học đường Báo Quốc, giới pháp đã thọ đủ, Ngài bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp.
Từ năm 1948 - 1959 được bổ nhiệm làm Giảng sư giảng dạy tại các Phật học đường ở Trung phần, làm Trụ trì chùa Tỉnh hội Bình Thuận, Trụ trì chùa Tổ Linh Quang, Thành Phố Đà Lạt - Lâm Đồng.
Năm 1964 sau khi Pháp nạn 1963 chấm dứt, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời, Hòa thượng được Tăng Ni Phật tử suy cử làm Chánh Đại diện Phật giáo tỉnh Long An liên tục nhiều nhiệm kỳ, Ngài luôn được sự tín nhiệm của Tăng Ni, Phật tử.
Năm 1981, Phật giáo ba miền được thống nhất các Hệ phái thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng cùng quí vị Giáo phẩm vận động thống nhất Phật giáo Tỉnh Long An. Đến năm 1983, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Long An được thành lập, Ngài được suy cử làm Phó ban Trị sự Thường trực .
Năm 1990, Phó ban Thường trực kiêm Ủy viên Tăng sự nhiệm kỳ III Tỉnh hội Phật giáo Long An.
Năm 1992 Trường Cơ bản Phật học Long An được thành lập, Ngài được Tăng Ni thỉnh cầu làm Hiệu trưởng khóa đầu tiên.
Năm 1993 Ngài tiếp tục suy cử làm Phó ban Thường trực và Ủy viên Tăng sự nhiệm kỳ IV (1994 - 1998) Tỉnh hội Phật giáo Long An .
Suốt 72 năm trụ thế, 55 năm sống đời phạm hạnh hưởng 47 hạ lạp. Hòa thượng Thích Minh Tánh luôn thể hiện tấm gương sáng của bậc chân tu Phật giáo thanh bần lạc đạo, từ bi nhẫn nhục, chăm lo nhắc nhở đàn hậu tấn. Nhưng như đóa hoa vô thường đã cống hiến sắc hương tô đẹp cho đời, đem an lạc cho mọi lồi rồi lại trở về tứ đại giả không, Ngài lâm trọng bịnh và thâu thần tịch diệt vào lúc ll giờ 30 ngày 02-10-1995 (09-8-ất Hợi). Nhục thân của Ngài được nhập Bảo Tháp trong khu Tháp Mộ chùa Thiên Khánh (phường 4, Thị xã Tân An, Long An), như để mãi gia trì niệm lực cho trường Cơ bản Phật học Long An, cho sự nghiệp đào tạo Tăng Ni tài đức của Phật giáo tỉnh Long An.
 
 
*
Hòa thượng Kế Châu (1922 – 1996)
 Chùa Thập Tháp – Bình Định

Hòa thượng Kế Châu, Pháp danh Không Tín, Pháp tự Giải Thâm. Ngài họ Nguyễn, sinh năm Nhâm Tuất (1922) tại thôn Nhạn Tháp, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, trong một gia đình nho phong y học và thấm nhuần Phật giáo. Song thân Ngài là Phật tử thuần thành. Anh là Hòa thượng Trí Diệu, học hạnh kiêm tồn, trụ trì và tịch tại chùa Phước Long, Tây Sơn, Bình Định.
Ngài tư chất thông minh, nội ngoại điển đều am hiểu, y học và võ thuật đều có học qua. Ngài sớm hiểu được đạo qua kinh diển, nhận chân được lẽ vô thường của cuộc đời, và phát ý chí xuất trần vững mạnh.
Năm 14 tuổi (1936), được phép song đường, ngài xin thế phát xuất gia với Quốc sư Phước Huệ tại Tổ đình Thập Tháp Di Đà, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, được Quốc sư ban Pháp danh là Không Tín.

Hòa thượng Kế Châu bấy giờ là thị giả cho Hòa thượng Quốc sư Phước Huệ, nên thường hay theo Ngài đi nghe giảng khắp nơi. Đặc biệt là từ khoảng 1932 đến năm 1940, Hòa thượng thường hay dự học Phật pháp ở Đại học đường Tây Thiên – Huế do Hòa thượng Quốc sư giảng. Trong lớp này còn có quý Hòa thượng Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Nguyện, Mật Hiển….
Hòa thượng vốn sẵn tính thông minh nên khi nghe Quốc sư lên lớp giảng những bộ kinh đại thừa, Ngài liền liễu ngộ ngay. Ngồi ra, Ngài còn nghiên cứu thêm những bộ kinh của Nho giáo như Tứ Thư, Ngũ Kinh, thi văn, điển cổ của văn học Trung Quốc. Ngài còn là nhà thơ, nhà thư pháp. Chữ của Ngài rất đẹp và Ngài còn là người rành về chữ chân, thảo,  lệ, triện của các thời đại cổ Trung Hoa, ít người theo kịp.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Ngài được phép đăng đàn thọ Đại giới tại giới đàn chùa Hưng Khánh do Hòa thượng Chí Bảo làm Đường đầu truyền giới. Ở giới đàn này, Ngài là Vĩ Sa-di.
Năm Quý Mùi (1943), sau khi thọ giới, Ngài được Hòa thượng Bổn sư là Quốc sư Phước Huệ truyền pháp phái Sơn môn, Ngài đắc pháp với pháp tự Giải Thâm, hiệu là Kế Châu.
Năm Đinh Hợi (1947),  với khả năng xuất chúng, Ngài được mời vào Giảng sư đồn của Phật học đường Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bình Định.
Năm Canh Dần (1950), Ngài được cung thỉnh trụ trì chùa Bảo Sơn, xã Mỹ Thành, huyện Phú Mỹ, tại đây, Ngài kiết thất tu hành, hóa độ đông đảo quần chúng, và vận động tái thiết ngôi chùa trở nên trang nghiêm tú lệ hơn xưa.
Năm Mậu Tuất (1958), Ngài được Chư tôn đức cử làm Giám đốc Phật học đường thuộc Giáo hội Tăng già Bình Định.
Cùng thời gian này, Ngài khai sơn chùa Bảo châu, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, sau đó Ngài giao lại cho đệ tử trụ trì.
Năm Quý Mão (1963), Ngài tham gia phong trào chống chính sách kỳ thị tôn giáo, đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm và được mời vào Ban lãnh đạo Phật giáo Bình Định.
Năm Ất Tỵ (1965), khi Hòa thượng Thích Huê Chiếu, trụ trì Tổ đình Thập Tháp – pháp huynh của Ngài viên tịch, Chư tôn đức trong Sơn môn đã suy cử Ngài kế thừa trụ trì Tổ đình. Từ đấy, Ngài bắt đầu ra sức chỉnh trang mọi mặt, đưa Tổ đình trở thành một chốn thiền môn sinh hoạt có quy củ nghiêm tịnh.
Cùng trong năm này, Ngài được Tăng Ni, Phật tử tín nhiệm suy cử làm Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Bình Định. Và từ đây đến cuối đời, Ngài là vị lãnh đạo đứng đầu của Phật giáo Bình Định, hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tỉnh nhà chuyên tâm tu học.
Năm Đinh Mùi (1967), Tổ đình Thập Tháp Di Đà dưới sự hướng dẫn của Ngài mỗi lúc càng thêm khởi sắc. Vì thế Ngài bắt tay xây dựng lại khu Đông đường làm nơi tiếp khách thập phương về chiêm bái Tổ đình và làm nơi Giảng dạy cho Tăng chúng khắp nơi quy tụ về học tập.
Năm Mậu Thân (1968), để kế vãng khai lai, tục Phật huệ mạng, Ngài tổ chức khai Đại giới đàn tại chùa Long Khánh, thành phố Quy Nhơn, mà Ngài được thỉnh làm Chánh Chủ đàn trong giới đàn này.
Năm Kỷ Dậu (1969), Ngài đứng ra trùng tu khu vườn tháp Tổ, theo thời gian và do chiến tranh đã dần bị hư hoại. Sau đó, Ngài cho xây dựng tường rào bao bọc tồn bộ khuôn viên Tổ đình cho thêm phần khang trang nghiêm tịnh.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài thành lập Phật học viện Phước Huệ chuyên khoa Trung đẳng Phật học tại Tổ đình Thập Tháp, do Ngài làm Giám viện. Tăng chúng các nơi trong và ngồi tỉnh tựu về tu học hơn 100 vị. Ban Giáo thọ gồm chư vị : Hòa thượng Giác Tánh, Tâm Hồn, Giác ngộ, Bửu Quang, chư Thượng tọa : Đồng Từ; Tâm Hiện. Trường hoạt động cho đến năm 1975 thì giải tán.
Năm Nhâm Tuất (1982), sau khi Phật giáo cả nước thống nhất về một mối, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngài được tồn thể Tăng Ni, Phật tử suy cử vào chức Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Nghĩa Bình.
Năm Đinh Mão (1987), tại Đại hội Đại biểu Phật giáo tồn quốc lần thứ II, Ngài được Đại hội suy cử làm ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm Kỷ Tỵ (1989), Ngài cùng chư tôn đức tỉnh nhà tổ chức Đại giới đàn Nguyên Thiều tại chùa Long Khánh, Quy Nhơn. Ngài được cung thỉnh làm Đàn chủ giới đàn này.
Năm Giáp Tuất (1994), Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng trong Đại giới đàn Phước Huệ, tổ chức tại chùa Long Khánh, Quy Nhơn.
Trong suốt quảng đời hành đạo, Ngài đã có công khai sơn những ngôi chùa : Thừa Ân ở Pleiku, Viên Thông ở Tây Sơn - Bình Định; Bảo Hoa ở An Nhơn – Bình Định; Bảo Lâm, Bảo Quang, Bảo Giác ở Long Khánh - Đồng Nai.
Ngồi việc hoằng dương Phật pháp, đào tạo Tăng tài. Ngài còn là một thi nhân, một văn sĩ được nhiều người mến mộ. Thi pháp, liễn đối của Ngài hiện diện khắp nơi tại các tự viện trong và ngồi tỉnh. Các văn nhân, thi sĩ nổi danh đều tìm đến luận bàn văn chương thi phú với Ngài.
Ngài còn để lại cho đời những tác phẩm:
1.Bách Thành Yên Thủy của Phật Quốc Thiền sư (dịch và tác thơ), 2. Thập Mục Ngưu Đồ Tụng (dịch và tác thơ), 3. Long Bích thi tập I và II, 4. Kim Cang Nghĩa mạch (dịch), 5. Kim Cang Trực Sớ (dịch), 6. Di Đà Giảng Thoại (dịch).
Năm Ất Hợi (1995), Ngài mở cuộc đại trùng tu Tổ đình Thập Tháp. Công việc đang tiến hành dở dang thì Ngài sau một cơn bệnh nhẹ, đã thu thần thị tịch vào ngày mùng 5 tháng Chạp năm Ất Hợi, nhằm ngày 24 tháng 1 năm 1996, trụ thế 75 năm, với 55 Hạ lạp.
 
*
Tưởng niệm
Hòa thượng Huyền Quang có tặng Hòa thượng Kế Châu một bài như sau :
            十塔髺珠和尚恵存
            元韶遠裔正當君
            奕葉相承氣象春
     圓頂藏珠真法器
            方袍帯碧寔家珍
            松關昔日招時士
            寳刹今朝轉法輪
            福慧傳燈光祖印
            叢林面目是其人
            元韶監院玄光親紀
        
          Thập Tháp Kế Châu Hòa thượng huệ tồn
            Nguyên Thiều viễn duệ chính đương quân,
            Dịch diệp tương thừa khí tượng xuân.
            Viên đỉnh tàng châu chân pháp khí,
            Phương bào đới bích thật gia trân.
            Tùng quan tích nhật chiêu thời sĩ,
            Báo sát kim triêu chuyển pháp luân.
            Phước Huệ truyền đăng quang tổ ấn,
            Tòng lâm diện mục thị kỳ nhân.
            Nguyên Thiều Giám viện Huyền Quang thân kỷ
 
Nguyên Hồng dịch :
            Kính tặng Hòa thượng Kế Châu chùa Thập Tháp
            Nguyên Thiều hậu duệ chính ngài đây,
            Dịch diệp tương thừa khí tượng thay.
            Ngọc báu giữ gìn trên búi tóc,
            Vàng kim bọc lấy áo vuông này.
            Thiền môn ngày trước thôi không khép,
            Bảo sát giờ đây bánh pháp quay.
            Phước Huệ đèn thiền ai tỏ rạng,
            Tòng lâm diện mục đó là thầy.
     Giám viện Nguyên Thiều, Huyền Quang thân ghi    
 
 
 
*
/156
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »