Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 792.

Chương 23: Hồ Thượng Giới Nghiêm (1921 - 1984) Chùa Phật Bửu – Tp.Hồ Chí Minh (Trang 153 - 157)

Hồ thượng Giới Nghiêm (1921 - 1984)
Chùa Phật Bửu – Tp.Hồ Chí Minh

Hòa thượng Giới Nghiêm (Thitasĩla Mahãthera), thế danh Nguyễn Đình Trấn, sinh ngày 5/5/1921 tại làng Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngài xuất thân trong một gia đình có truyền thống đạo đức lâu đời, tại một quê hương nghèo khổ, nhưng lại phát tích rất nhiều tu sĩ và Cao Tăng thuộc cả hai truyền thừa Nam Bắc tông. Chỉ riêng trong gia đình, bác của Ngài - Hòa thương Thích Phước Duyên và chú của Ngài đều là bậc xuất gia. Còn vị thân sinh Hòa thượng Thích Quang Diệu (Nguyên Đình Tải) sau nửa cuộc đời lập gia đình với mẹ của Ngài là cụ bà Huỳnh Thị Thành, cũng xuất gia sống đời phạm hạnh.
Lớn lên trong truyền thống gia đình như vậy, nên năm 9 tuổi, Ngài đã tìm đến một ngôi chùa hẻo lánh, nổi tiếng nhiều thú dữ, ma thiêng nước độc, thuộc địa phận làng Bãng Iãng để tu học. Ngài thọ giới Sa-di ở đây.

Đến năm 1940, vì quê nhà chiến tranh loạn lạc, sự tu hành bị trở ngại, Ngài đã vào Đà Nẵng xin ở chùa Phổ Đà, sau đó thọ Đại Giới đàn Tỳ-kheo, thuộc hệ phái Bắc truyền.
Bấy giờ, Phâït giáo Nam tông (Theravãda) bắt đầu du nhập vào Việt Nam, nhờ vậy Ngài có cơ hội nghiên cứu giáo lý của hệ phái này.
Duyên may đã đến. Năm 1944, Ngài được thiện hữu trí thức giới thiệu và giúp đỡ sang du học tại Phnôm-pênh, Campuchia.
Năm 1947, Hòa thượng Niếp-Tích truyền giới Tỳ-kheo (Bhikkhu) theo truyền thống Phật giáo Nam Tông (Theravãda) cho Ngài. Ngài lại còn được kỳ duyên học đạo với Đức Vua Sãi Campuchia, là Trưởng lão Hòa thượng Chuon-Natch.
Do nhu cầu trí tuệ, hiếu học, hiếu tu. từ Campuchia, Ngài tiếp tục sang Thái Lan và Miến Điện để tầm sư học đạo. Rời Pháp học, Ngài quay sang Pháp hành, và ở tại Miến Điện, Ngài được học thiền Tứ niệm xứ với Hòa thượng Thiền sư Mahasĩ Sayãdaw.
Thế là sau hơn mười năm bôn ba xứ người tầm cầu học đạo, Ngài hồi hương với chí nguyện, mang giáo lý Nguyên Thủy rất cũ xưa mà cũng rất mới mẻ về Việt Nam để quảng bá, hoằng truyền sâu rộng trong mọi tầng lớp tín đồ.
Tại Sài Gòn - Gia Định, năm 1957, Ngài cùng với các vị trưởng lão cao Tăng, thạc đức khác, như: Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Bửu Chơn, Hòa thượng Thiện Luật, Hòa thượng Tối Thắng, Hòa thượng Giác Quang, Hòa thượng Kim Quang, pháp sư Thông-Kham vận động thành lập Giáo hội Tăng-già Phật giáo Nguyên Thủy (Theravăda) Việt Nam.
Năm 1963, trong lúc tranh đấu chống chế độ độc tài gia đình trị của Ngô triều, Ngài bị bắt ở Sơn Trà - Đà Nẵng.
Sau khi gia đình họ Ngô sụp đổ, Ngài được bầu làm Tăng thống Giáo hội Tăng-già Nguyên Thủy Việt Nam liên tiếp trong bốn nhiệm kỳ từ năm 1964 đến năm 1974.
Năm 1966, Hòa thượng phát động phong trào chống chế độ lao tù tại các nhà giam Mỹ Thị. Đà Nẵng và Gành Ráng, Qui Nhơn.
Năm 1975, Ngài tham gia vào Ban liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh, giữ chức vụ Phó Chủ tịch.
Năm 1979, Ngài tái đắc cử Tăng thống Giáo hội Tăng-già Nguyên Thủy Việt Nam. Cũng trong năm này, Ngài được thỉnh tham gia phái đồn cấp lãnh đạo Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam, đi Campuchia để làm thầy tế độ cho các sư sãi ở quốc độ này đã bị Pôn-Pốt, Iêng-xa-ri bắt hồn tục.
Từ đó, Phật Giáo Campuchia được hồi sinh và thắt chặt tình đồn kết Việt Nam - Campuchia.
Năm 1980, Ban vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, Ngài tham gia vào tổ chức này với tư cách là Phó Trưởng ban.
Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, thống nhất Phật giáo Nam Bắc, thống nhất các hệ phái; Ngài được thỉnh vào Hội đồng Chứng minh và được đề cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ngồi ra, Ngài còn tham dự nhiều Hội nghị Quốc tế về Phật giáo, đặc biệt là Hội nghị kết tập Tam Tạng lần thứ sáu tại Rangoon, thủ đô nước Myanmar.
Trong suốt hơn năm mươi năm xuất gia hành đạo, hoằng pháp và phục vụ xã hội, Ngài đã để lại cho hậu thế nhiều công đức và nhiều công trình Phật sự to lớn.
Ngài đã mở một Phật học viện Sơ cấp tại chùa Tam Bảo, Đà Nẵng. Và tại ngôi Chùa Tháp tôn nghiêm hùng vĩ này, nhiều khóa thiền đã được khai giảng để hướng dẫn cho các hành giả là Chư Tăng, Tu Nữ và các hàng Phật tử.
Tại Núi Lớn, Vũng Tàu, Ngài khai sơn một rừng thiền giữa thiên nhiên khoảng khốt, rợp bóng mát cây xanh, dành cho những hành giả chuyên tu Tứ niệm xứ. Nơi đây gồm có hàng trăm cốc liêu rải rác giữa các sườn đồi, dưới những tàn cổ thụ lâu đời; là nơi mà Chư Tăng, Tu Nữ, Phật tử mười phương thường vân tập về vào mỗi độ an cư để theo học những khóa thiền ba tháng hoặc bảy tháng. Tại Tam Bảo thiền viện này, có rất nhiều hành giả đạt kết quả pháp hành tốt đẹp, khả dĩ làm hành trang tư lương cho mình suốt cuộc đời tu tập.
Ở thành phố Hồ Chí Minh, quận Tân Bình, Ngài mở Phật học viện Trung đẳng tại chùa Phật Bảo, nơi Ngài làm Viện chủ và tu sĩ Thiện Giới làm Giám đốc Phật học viện. Nơi đây đã đào tạo nhiều Tăng tài cho Hệ phái Nam tông.
Sau năm 1975, Ngài tiếp tục mở nhiều khóa thiền tại chùa Phật Bảo; và thường hay lui tới các chùa để nhắc nhở, khuyến hóa, sách tấn tứ chúng môn đồ tinh tấn tu niệm.
Ngồi ra, đệ tử xuất gia của Ngài, rất đông, một số du học ở nước ngồi, đã thành tài, đang hoằng pháp ở Mỹ và ở Pháp, như Hòa thượng Tiến sĩ Pháp Nhẫn, Thượng tọa Tịnh Đức, Thượng tọa Chơn Trí, Thượng tọa Đức Minh... Ở trong nước hiện nay, nhiều đệ tử do Ngài tế độ hoặc hướng dẫn đã trở nên những bậc trưởng lão cho tứ chúng y chỉ, hoặc đạo cao đức trọng, hoặc tài đức uyên thâm, hoặc thâm niên cao hạ... như Hòa thượng Hộ Nhẫn ở Huế, cố Hòa thượng Pháp Tri ở Sài Gòn, Thượng tọa Viên Minh ở Bửu Long, Thượng tọa Tâm Hỷ, Thượng tọa Hộ Chơn...
Về sự nghiệp xây dựng chùa chiền: từ miền Nam đến Cao nguyên, rồi ra miền Trung, đâu đâu cũng có bàn tay và dấu chân của Ngài trong sứ mạng khai sáng Giáo Pháp chơn truyền của Đức Từ Phụ.
Ngài đã xây dựng hoặc đứng ra chủ trì xây dựng tất cả mười sáu ngôi chùa sau đây:
Định Quang Tự ở Giạ Lê; Tăng Quang Tự ở Gia Hội (Huế). Tam Bảo Tự, tổ đình Phật giáo Nam tông miền Trung (Đà Nẵng). Nam Quang Tự (Hội An). Tăng Bảo Tự (Quảng Ngãi). Huệ Quang Tự (Qui Nhơn) Phước Quang Tự (Bình Định) Như Ý Tự (Nha Trang). Bình Long Tự (Phan Thiết). Bửu Sơn Tự; Pháp Quân Tự (Đà Lạt). Pháp Bảo Tự (Mỹ Tho). Phước Sơn Tự (Biên Hòa). Tam Bảo Thiền Viện (Bà Rịa - Vũng Tàu). Phật Bảo Tự (TP. Hồ Chí Minh); Diệu Quang Tự (TP. Hồ Chí Minh, Dành cho Tu nữ).
Sự nghiệp phiên dịch kinh điển của Ngài, gồm có:
Những tác phẩm đã xuất bản : - Hạnh phúc kinh. - Tiểu sử Phật Thích Ca. - Giải về kiếp. - Thiền Tứ niệm xứ. - Giải về bạn. - Mi Tiên Vấn Đáp (Quyển I). - Mi Tiên Vấn Đáp (Quyển II). - Mi Tiên Vấn Đáp (Quyển III)
Sắp xuất bản : - Pháp đồn kết. - Giải thốt giáo. - Giải về cõi trời. - Phật bổn sanh. - Giải về lửa. - Dạ-xoa hỏi Phật. - Nhà của tâm. - Vô ấn tượng pháp. - Kinh Ổ mối. - Vi diệu pháp vấn đáp. - Ba mươi bảy pháp trợ bồ-đề. - Pháp số giảng giải. - Vi diệu pháp vắn tắt. - Tam Tạng, quyển 1, 2, 3, 4. - Tam Tạng, quyển 40, 4 1.
Năm 1984, sau một cơn lâm trọng bệnh, Ngài đã an nhiên thị tịch lúc 10h30' ngày 13 tháng 7 năm Giáp Tý, tức ngày 9/8/1984 tại chùa Phật Bảo, hưởng thọ 63 tuổi, 44 hạ lạp.
/156
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »