Hòa thượng Giác Ngộ (1924 – 2010)
Chùa Bửu Thắng - Pleiku
Hòa thượng Giác Ngộ thế danh là Nguyễn Hộ, sinh ngày 08-04-1924 (năm Ất Sửu), tại thôn Thiết Đính, thị trấn Bồng Sơn, huyện Hồi Nhơn, tỉnh Bình Định. Hòa thượng là con trai thứ ba trong gia đình có bốn người con (hai chị và một em trai). Thân phụ của Hòa thượng là cụ Nguyễn Bình (tự Hồng) sinh năm 1882, và bà Lê Thị Kế sinh năm 1886.
Thân phụ và thân mẫu Hòa thượng đều là Phật tử thuần thành, lại là gia đình Nho giáo thuần lương, nên Hòa thượng được giáo dục trên tinh thần giáo lý Phật Đà, sớm hình thành nơi Hòa thượng những đức tính bi dũng Xuất trần thượng sĩ. Nhà Hòa thượng ở gần chùa Phước Sơn, nên thuở ấu thời Hòa thượng thường được song thân đưa đến chùa viếng thăm, tụng kinh, lễ Phật tại ngôi chùa này. Với tư chất thông minh sẵn có, ngay từ nhỏ Hòa thượng đã thuộc các kinh Nhật tụng và những nghi thức thiền môn. Thời gian này Hòa thượng cũng theo học các lớp phổ thông.
Vốn có túc duyên từ nhiều đời, lại được giáo dục trong môi trường tốt, chí xuất trần đã sẵn, năm lên 14 tuổi Hòa thượng phát tâm Bồ đề, lập chí nguyện xuất gia. Hòa thượng xin song thân xuất gia tu học tại chùa Phước Sơn huyện Hồi Nhơn tỉnh Bình Định. Bổn sư đầu tiên độ Hòa thượng lúc ấy là Hòa thượng Như Phước, tự Giải Mộng, hiệu Tường Quang Trụ trì chùa Phước Sơn, Hòa thượng qui y với Pháp danh là Thị Hớn.
Năm 1943, lúc 19 tuổi, sau năm năm tu học, thì được Hòa thượng Tường Quang cho thọ giới Sa Di tại giới đàn Tổ đình Thiên Đức, Tuy Phước, Bình Định do Hòa thượng Huệ Chiếu làm Đường Đầu.
Vốn bẩm tính thông minh, lại có một đạo phong uy nghiêm ngay từ khi còn nhỏ tuổi, nên Hòa thượng được Hòa thượng Tường Quang rất thương mến. Nhận thấy khả năng thông tuệ của Hòa thượng sẽ tiến xa hơn, cao hơn trên đường tu học, nên Hòa thượng khuyên Hòa thượng vào Tuy Phước, Bình Định, nơi có nhiều bậc Long Tượng trong tòng lâm Phật pháp để cầu sự thọ giáo, tu học.
Ba năm sau, năm Hòa thượng 21 tuổi, vâng theo lời chỉ dạy của Hòa thượng Tường Quang, Hòa thượng đảnh lễ vị Hòa thượng ân sư khả kính, từ giã chùa Phước Sơn thân thương, và khăn gói lên đường vào miền đất Tổ Tuy Phước, Bình Định để tầm sư học đạo.
Năm 1946, với túc duyên sư đồ từ trước, Hòa thượng đã đến tổ đình Thiên Đức, xã Phước Hưng, Tuy Phước, Bình Định, cầu Hòa thượng Huệ Chiếu làm Bổn sư. Hòa thượng Huệ Chiếu hoan hỷ nhận Hòa thượng làm đệ tử, và ban cho Pháp danh là Nguyên Uyên tự Chí Đạt, hiệu Giác Ngộ.
Năm 1952, Hòa thượng thọ giới Tỳ-kheo và Bồ-tát tại Đại giới đàn Tổ đình Thiên Bình, Xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Đại Giới Đàn này, Hòa thượng Huệ Chiếu làm Đường
Đầu, Hòa thượng Tâm Đạt, Viện chủ Tổ đình Thiên Bình làm Hố chủ và Giáo thọ, Hòa thượng Phúc Hộ làm Yết-ma A-xà-lê… Tại Đại giới đàn này, Hòa thượng được chọn làm Thủ Sa-di, lúc bấy giờ Hòa thượng vừa tròn 28 tuổi.
Năm 1953, Hòa thượng được Giáo hội phật giáo tỉnh Bình Định bầu làm Chánh thư kí Phật giáo trong Mặt trận Liên Việt, và làm Uỷ viên Mặt trận Liên việt, kiêm nhiệm chức vụ Hội đồng Nhân Dân xã Phước Hưng, lo các mặt hoạt động đạo đức trong sinh hoạt của cộng đồng Phật tử và nhân dân. Nhưng trọng tâm của Hòa thượng là hướng dẫn tín đồ tu học theo chánh pháp.
Năm 1954, với nhu cầu Phật sự, cộng đồng Phật tử chùa Thiên Trúc cung thỉnh Hòa thượng Trụ trì chùa Thiên Trúc, thôn Bình Lâm, xã Phước Hồ, Tuy Phước, Bình Định. Trong thời gian này, Hòa thượng hướng dẫn Phật tử tu học, đồng thời đào tạo Tăng chúng xuất gia.
Trụ trì chùa Thiên Trúc được hai năm, năm 1957, Hòa thượng giao chùa cho đệ tử là Quảng Cố trông nôm để lên đường ra Huế tham gia các lớp nghiên cứu Phật học tại Học viện Báo Quốc. Viện trưởng học viện Báo Quốc lúc bấy giờ là Hòa thượng Trí Thủ.
Sau bốn năm nghiên cứu, tu học tại Học viện Báo Quốc, năm 1961, Hòa thượng trở về chùa Thiên Trúc tiếp tục sứ mệnh tiếp Tăng độ chúng, hướng dẫn mọi người tu học. Đến năm 1963, Ban Tăng sự tỉnh hội Phật giáo Bình Định mời Hòa thượng về tham gia công tác Phật sự cho tỉnh Giáo hội Phật giáo Bình Định.
Qua thời gian công tác Phật sự một năm tại Tỉnh Giáo hội ở Qui Nhơn, năm 1964 Trung ương Giáo hội Phật giáo quyết định bổ nhiệm Hòa thượng Trụ trì chùa Pháp Lâm, Đà Nẵng, hướng dẫn đồng bào Phật tử tại đây tu học.
Mãn nhiệm kì 2 năm Phật sự tại Đà Nẵng, năm 1966, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định mời Hòa thượng về Tổ Đình Long Khánh để tham gia công tác giáo dục, đào tạo tăng tài, tại Bình Định.
Năm 1966-1970, Hòa thượng làm giáo thọ tại các trường Bồ Đề chùa Long Khánh, trường Bồ Đề Nguyên Thiều, trường Phật học Nguyên Thiều. (Hòa thượng cũng là người đồng sáng lập Tu viện Nguyên Thiều và trường Trung cấp Phật học Nguyên Thiều.)
Năm 1970, Hòa thượng được Chư Tăng Tổ đình Thập Tháp mời tham gia công tác giáo dục về chuyên khoa Phật học và làm Giám học của Phật học viện Phước Huệ trong hai năm.
Năm 1972, Trung ương Giáo hội Phật giáo quyết định cử Hòa thượng nhận lãnh trách nhiệm hoằng pháp Cao nguyên, bổ nhiệm Hòa thượng về Trụ trì chùa Tỉnh hội (chùa Bửu Thắng), Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Ngày 08 tháng 03 năm 1972, Hòa thượng chính thức nhận nhiệm vụ Trụ trì chùa Bửu Thắng. Hòa thượng bắt tay vào việc đầu tiên là chỉnh đốn thiền môn, trang nghiêm tổ đình, hướng dẫn đạo tràng tu học.
Chùa Bửu Thắng là trung tâm hành đạo của Tỉnh hội Phật giáo Gia Lai, có Văn phòng Hành chính Ban đại diện Phật giáo Tỉnh hội - Văn phòng Ban hướng dẫn Gia đình Phật tử tỉnh Gia Lai. Lúc này, Hòa thượng đảm nhận trách nhiệm Trú trì, đồng thời, tham gia mọi công tác Phật sự của tỉnh nhà.
Sau tháng 4/1975 đất nước hồn tồn độc lập, địa bàn hành chánh tỉnh Gia Lai sáng lập thêm tỉnh Kon Tum và tỉnh Phú Bổn, do vậy mọi hoạt động của Giáo hội nói chung, cũng như của Hòa thượng nói riêng ngày càng nhiều, đòi hỏi thật nhiều hy sinh và dấn thân phụng sự.
Chùa Tỉnh hội vừa là trung tâm sinh hoạt Phật giáo của tỉnh Gia Lai, đồng thời là trung tâm của hai tỉnh: Kon Tum và Phú Bổn. Ngài là bậc Cao tăng Trụ trì chùa Tỉnh hội, nên trách nhiệm Phật sự đối với Giáo hội và quần chúng ngày càng lớn lao hơn.
Suốt những thập niên 80 của thế kỉ 20, tình hình kinh tế khó khăn chung, Hòa thượng cũng theo di huấn Tổ Lâm tế “nhứt nhật bất tác, nhứt nhật bất thực: Sáng bổ củi, làm vườn, chiều tối kệ kinh, dạy bảo đồ chúng… Chùa Bửu Thắng là trung tâm An cư Kiết hạ của Chư Tăng tồn tỉnh. Nên hằng năm Hòa thượng ra sức chăm lo nơi ăn, chỗ nghỉ… cho Chư Tăng trong 3 tháng An cư Kiết hạ, công việc tuy đơn giản nhưng không kém phần lao khổ.
Đối với Gia đình phật tử, Hòa thượng nhắc nhở các anh chị trưởng phải biết hi sinh thời gian công việc, lo dạy dỗ các em tu học không để đánh mất nền văn hố cao đẹp, cố gắng giữ gìn nền đạo đức của tổ tiên. Hòa thượng cũng nhắc nhở các vị Trụ trì, các Ban Hộ tự, Bổn tự quan tâm giúp đỡ Gia đình Phật tử để tiếp nối hậu lai, báo Phật ân đức.
Để ghi nhận và tán dương những đóng góp của Hòa thượng với Đạo pháp và Giáo hội, tại Đại hội Phật giáo tồn quốc nhiệm kỳ V, 2002–2007 Hòa thượng được Đại hội Tấn phong lên hàng Giáo phẩm Hòa thượng. Cũng tại Đại hội này, Hòa thượng được suy tôn vào Hội đồng Chứng Minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Tại Đại hội Phật giáo tỉnh Gia Lai nhiệm kỳ II (2002–2007) và nhiệm kỳ III (2007-2012), Hòa thượng được cung thỉnh Cố vấn, chứng minh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh.
Gần 40 năm đảm nhiệm chức vụ Trú trì tổ đình Bửu Thắng, vì tuổi cao, sức yếu Hòa thượng đã đề cử Thượng toạ Tâm Tường thay thế mình làm Trú trì chùa Bửu Thắng. Tại cuộc họp mở rộng
ngày 23-9-2006 giữa Ban Trị sự tỉnh Gia Lai cùng Ban hộ tự và tồn thể phật tử chùa Bửu Thắng, tồn thể Tăng Ni, Phật tử đã nhất tâm cung thỉnh Hòa thượng giữ chức Viện chủ chùa Bửu Thắng và Hòa thượng đã hoan hỷ nhận lời. Suốt cuộc đời tu học, hành đạo của Hòa thượng ở nhiều nơi, nhưng có lẽ chùa Bửu Thắng và đất Gia Lai là nơi Hòa thượng dừng chân lâu nhất.
Điểm nổi bật của Hòa thượng là suốt cuộc đời tu tập và hoằng dương Chánh pháp là Hòa thượng luôn đề cao và nghiêm trì giới luật, là tấm gương sáng ngời trong việc hành trì Phật pháp. Hòa thượng cũng khuyến khích, sách tấn tăng ni, nhất là thế hệ Tăng Ni trẻ thực hành Phật pháp, gìn giữ mạng mạch của Phật giáo, đồng thời khuyên Chư Tăng nên tập trung về một nơi để An cư Kiết hạ hằng năm để thúc liễm thân tâm, trau giồi giới định tuệ. Quả thật, Hòa thượng là cây đại thọ cho ngôi nhà Phật pháp, là bóng đại bồ đề che mát cho tỉnh nhà.
“Thân như điện ảnh hữu hồn vô.” Vạn pháp đều vô thường, đúng theo chân lý Phật dạy, với 86 năm hiện hữu trên cuộc đời, thân xác hữu hình như ngôi nhà trải qua thời gian dài sử dụng đến thời kỳ hư hoại. Như Bồ tát Duy Ma thị hiện tật bệnh để hố độ chúng sanh, những năm cuối cuộc đời, thân xác Hòa thượng mang nhiều trọng bệnh. Dù các hiếu tử của Hòa thượng đã nhiệt tâm chữa trị, nhưng thuận thế vô thường, Hòa thượng đã thâu thần thị tịch trong không khí thiêng liêng, với âm vang của lời kinh kệ, cùng tiếng niệm Phật siêu thốt của hàng đệ tử xuất gia và tại gia. Hòa thượng viên tịch vào lúc 10 giờ kém 10 ngày 19 tháng 11 năm 2010 (giờ tỵ, ngày 14, tháng 10, năm Canh Dần) tại tổ đình Bửu Thắng, thế thọ 86 tuổi, hạ lạp 59 năm.
*