Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Chư Tôn Thiện Đức & Cư Sĩ Hữu Công Phật Giáo Thuận Hóa - Tập 2

Tác giả: Thích Trung Hậu - Thích Hải Ấn. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 792.

Chương 126: Cư Sĩ Lê Đình Thám (1897 – 1969) Pháp Danh : Tâm Minh (Trang 650 - 671)

Cư sĩ Lê Đình Thám (1897 – 1969)
Pháp danh : Tâm Minh
Cư sĩ Lê Đình Thám gốc người Quảng Nam (Đông Mỹ, Điện Bàn), là thứ nam của cụ Lê Đĩnh và cụ bà Phan Thị Hiệu, sinh ngày 1 tháng 5 năm Đinh Dậu (1897). Ông sinh trưởng trong một gia đình yêu nước, nên sớm được gần gũi các nhà ái quốc tiền bối, như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu. Cụ Lê Đĩnh nguyên là Đông các Đại học sĩ sung Binh bộ Thượng thơ triều Tự Đức. Cư sĩ Tâm Minh có anh ruột là Lê Đình Dương, lúc nhỏ cùng theo Tây học, đỗ Á khôi bằng Đông Dương Y sĩ, ông Lê Đình Thám đỗ Thủ khoa khóa năm 1916. Năm 1926 về nhiệm sở Y tế Hội An và tại đây một hôm, nhân thăm chùa Tam Thai ở núi Non Nước, đọc được trên vách chùa bài kệ của Tổ Huệ Năng:
菩提本無樹,       
明鏡亦非臺
本來無一物
何處惹塵哀
          Bồ-đề bổn vô thọ,                  
          Minh cảnh diệc phi đài;
          Bổn lai vô nhất vật,      
          Hà xứ nhạ trần ai.
Chính nhờ bài kệ mà ông đã để ý đến Phật giáo. Năm 1928, được đổi về Huế với chức vụ Y sĩ trưởng Viện Bào chế và Vi trùng học Pasteur, cùng năm ấy ông đã đến thăm chùa Trúc Lâm yết kiến Hòa thượng Giác Tiên, và nhờ Ngài giảng lại bài kệ trên, cơ duyên tỏ ngộ nên Cư sĩ xin qui y Tam Bảo, phát tâm Bồ-đề, nguyện phụng hành và truyền bá Chánh pháp. Pháp danh Tâm Minh, Pháp tự Châu Hải được Hòa thượng Bổn sư cho từ đó. Năm 1930 Cư sĩ đỗ thêm bằng Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp. Năm 1932 Cư sĩ đã cùng với chư Tôn đức xuất gia và các vị Cư sĩ nhiệt tâm đứng ra sáng lập Hội Phật học. Năm 1933 làm Giám đốc Bệnh viện Bài Lao Huế. Năm 1945, nội các Trần Trọng Kim mời làm Giám đốc Y tế Miền Trung và Bệnh Viện Trung ương Huế.
Sau ngày tồn quốc kháng chiến (1946) Cư sĩ được Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mời làm Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến miền Nam Trung Bộ tại Liên khu V. Năm 1949, Cư sĩ được Chính phủ mời ra Việt Bắc làm Chủ tịch Ủy ban Hòa bình thế giới của Việt Nam. Công việc bận rộn, nhưng Cư sĩ vẫn không quên hành Phật sự. Cư sĩ tham gia diễn giảng và dịch trọn bộ Kinh Lăng Nghiêm. Năm 1969. Cư sĩ an nhiên qua đời đúng vào ngày mồng 07.03. Kỷ Dậu tại Hà Nội.
Về việc đạo, Cư sĩ cũng không quên bổn phận, đã hết lòng cùng chư Tôn đức và thiện hữu thực hiện các Phật sự:
- Thành lập các Phật học Đường có đủ 3 cấp : Sơ, Trung và Cao đẳng mà Cư sĩ là người đứng vào hàng bảo trợ và giảng sư;

các lớp nầy đã đào tạo rất nhiều Tăng tài hữu công cho Giáo hội sau này.
- Xuất bản Tạp chí Viên Âm để truyền bá Chánh Pháp mà Cư sĩ là chủ nhiệm kiêm chủ bút cho đến 1945 .
- Phát triển Hội Phật học bằng cách thành lập các Tỉnh Hội khắp miền Trung và thành lập cơ quan lãnh đạo là Tổng Trị sự.
- Thành lập Xuất bản Phật học Tùng thư để xuất bản các loại sách phổ thông và nghiên cứu như Kinh Lăng Nghiêm, Luận Nhân Minh...
*
1. Tưởng niệm
 
 
 
 
 
Tang lễ Cư sĩ Bác sĩ Lê Đình Thám
đã cử hành trọng thể tại Hà Nội
Bác sĩ Lê Đình Thám, Ủy viên đồn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới, Phó hội trưởng Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, đã từ trần sau một
thời gian bị bệnh nặng. Ngày 24 – 4, tại Hà Nội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam và Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam đã tổ chức trọng thể tang lễ Bác sĩ Lê Đình Thám.
Hồ Chủ tịch đã gởi vòng hoa đến viếng Bác sĩ Lê Đình Thám.
Đồng chí Phạm Văn Đồng, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ, đến viếng và đặt vòng hoa.
Đếng viếng và dự tang lễ Bác sĩ Lê Đình Thám còn có các đồng chí thay mặt Trung ương Đảng do đồng chí Nguyễn Duy Trinh dẫn đầu, đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại diện Bộ Quốc phòng, các đồng chí và các vị trong đồn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban bảo vệ hòa bình của Thế giới của Việt Nam, Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, đại diện Trung ương Đảng Dân chủ Việt Nam, đại diện Trung ương Đảng Xã hội Việt Nam, đại diện các đồn thể, các tôn giáo, đại diện Hội Liên hiệp Hoa kiều ở Việt Nam, đại diện Ban Liên lạc đồng hương tỉnh Quảng Nam (quê hương Bác sĩ Lê Đình Thám) và nhiều nhân sĩ, trí thức ở Trung ương và Hà Nội.
Ông Nguyễn Phú Soại, Quyền trưởng Phái đồn đại diện thường trực Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tại miền Bắc, cũng tới viếng và dự tang lễ.
Đồng chí Hồng Quốc Việt, Ủy viên đồn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã đọc lời điếu :
“Với lòng thương tiếc vô hạn, chúng ta vĩnh biệt Bác sĩ Lê Đình Thám, người anh em, người bạn chiến đấu của chúng ta, đã từ trần sau một thời gian đau bệnh nặng.
Cụ Lê Đình Thám sính ngày 1 – 5 – 1897, đến nay đã thọ 72 tuổi. Sinh trưởng trong một gia đình văn thân yêu nước, cụ đã
sớm được gần gũi các nhà ái quốc tiền bối, như các cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu,v.v… Do đó, từ lâu, cụ đã tha thiết với sự nghiệp đấu tranh cho độc lập và tự do của nước nhà.
Năm 1916, sau khi thi đỗ, cụ ra làm thầy thuốc, và từ năm 1930, cụ đã chuyên nghiên cứu Phật học.
Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, lòng yêu nước của cụ càng có điều kiện phát huy. Từ đó đến nay, trong suốt hơn hai mươi năm qua, cụ một lòng đi theo cách mạng, tin tưởng vào đường lối sáng suốt của Đảng và Hồ Chủ tịch, tin tưởng vào ý chí cách mạng và khả năng vô tận của nhân dân ta. Cụ đã tích cực làm mọi công tác mà Đảng, Chính phủ, Mặt trân và nhân dân giao phó.
Ngay khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, cụ được phân công tổ chức một viện quân y ở Quảng Nam. Sau đó, cụ được cử làm Giám đốc Sở thương binh và cựu binh, rồi làm Chủ tịch Hội Liên Việt Liên khu 5 và Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, hành chính Liên khu 5.
Năm 1950, cụ ra Việt Bắc dự hội nghị kháng chiến hành chính tồn quốc rồi ở lại nhận công tác tại Việt Bắc. Cụ tham gia Ban chấp hành Trung ương Hội Liên Việt đồng thời làm Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam.
Hiện nay, cụ là Ủy viên đồn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Hội trưởng Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới.
Cụ đã tham gia nhiều cuộc hội nghị lớn của phong trào hòa bình thế giới. Trong các hoạt động quốc tế, cụ là một chiến sĩ lão
thành trong phong trào nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân mới và cũ. Trung thành với đường lối đối ngoại của Đảng và Chính phủ ta, cụ đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhiệt tình ủng hộ sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp trước đây và chống đế quốc Mỹ hiện nay.
Do cả quá trình hoạt động bền bỉ như vậy, cụ đã được nhân dân ta tin yêu và được nhiều nhân sĩ và chiến sĩ hòa bình trên thế giới quý mến.
Cụ đã được Quốc hội, Chính phủ và Hồ Chủ tịch tặng thưởng huân chương Độc lập hạng ba và huân chương kháng chiến hạng nhất”.
Đồng chí Hồng Quốc Việt nói tiếp :
“Cụ Lê Đình Thám không còn nữa ! cụ mất đi, Tổ quốc và nhân dân ta mất một người con yêu dấu, Mặt trận Tổ quốc chúng ta mất một người bạn chiến đấu trung thành, ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam mất một người lãnh đạo tích cực, Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam mất một vị Phó Hội trưởng uyên tâm và tận tụy.
Chúng ta vô cùng thương tiếc cụ, quyết biến đau thương thành sức mạnh. Chúng ta xin hứa với cụ là ra sức làm tốt mọi công tác để mau đưa sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hồn tồn”.
Mọi người đã mặc niệm để tưởng nhớ Bác sĩ Lê Đình Thám.
2.
Ý kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng về Cố Bác Sĩ Lê Đình Thám
(Nguyên Ủy viên Đồn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  - Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hòa bình thế giới của Việt Nam, nguyên Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới. - Nguyên Phó Hội trưởng Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam.)
Tôi biết cụ Lê suốt thời gian công tác, cái kỷ niệm tốt nhất khiến tôi nhớ mãi : cụ là người yêu nước, là người trung thực, là người luôn sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì mà bác Hồ giao cho lúc bấy giờ; và làm một cách chu đáo, có trách nhiệm, trọn vẹn. Cho nên cụ được anh em tín nhiệm, người đồng sự tín nhiệm.
Lúc bấy giờ quan hệ quốc tế thì có mấy người đâu!
Và tôi còn nhớ là, cụ rất khiêm tốn, rất hiền từ, rất là đáng kính trọng. Và, (cười thân mật) cụ lúc nào đi ra nước ngồi về cũng có tặng chút quà cho tôi (cười thoải mái).
Công việc của tui phải nói là rất túi bụi, mà gặp cụ chỉ lúc có việc thôi, không thường xuyên.
Nhưng mà, biết con người, mà Bác Hồ cũng rất quý.
Hà nội, ngày 7 tháng 8 năm 1996.
(Ghi theo lời phát biểu trong dịp gặp gỡ với Nhạc sĩ Lê Đình Lực và Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm – con trai và con rễ của cụ Lê Đình Thám chiều ngày 7 tháng 8 năm 1996)
Phạm Văn Đồng
Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
3.
Phát biểu của ông Nghiêm Xuân Yêm
(Trong buổi lễ đưa hài cốt cụ Lê Đình Thám từ nghĩa trang Văn Điển về nghĩa trang Mai Dịch ngày 20 – 4 – 1986)
Cụ Lê Đình Thám nguyên Ủy viên Đồn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới, ra đi đến nay vừa tròn 17 năm.
Lúc sinh thời, với những hoạt động sôi nổi của cụ cho độc lập dân tộc, đấu tranh bảo vệ hòa bình và với tấm lòng bác ái. Nhân hậu cụ đã để lại cho chúng ta lòng ngưỡng mộ với một nhà khoa học, nhà nghiên cứu xã hội học uyên thâm; là một nhân sĩ yêu nước, cụ đã cống hiến suốt đời mình cho sự nghiệp vĩ đại của dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.
Hôm nay, thực hiện chủ trương của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam và gia đình đưa hài cốt của Cụ đến nơi an nghỉ xứng đáng với cống hiển của cụ.
Nhân ngày đáng ghi nhớ này, thay mặt đồn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi gởi lời thăm hỏi đến các cụ, các ông bà, các anh chị và các cháu trong gia đình cùng đưa tiễn cụ đến nơi an nghỉ hôm nay.
Sau đây xin mời các vị và gia đình cùng chúng tôi thắp nén nhang tưởng niệm cụ Lê Đình Thám.

4.
Con người và tư tưởng Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Nguyễn Lang
(Việt Nam Phật giáo  Sử luận -  quyển 3)
Cụ Tâm Minh có nhiều tài năng. Trong những số đầu của Nguyệt san Viên âm, cụ tự tay viết cả truyện ngắn (ký tên T.M.), truyện dài (ký tên Châu Hải), chuyện hài hước (ký tên Ba Rảm), gọi đó là những :  “Biệt Khai Phương Tiện”. Tuy rằng truyện ngắn và truyện dài của cụ có nhiều ý vị, nhưng vì độc giả Viên âm muốn dành hết số trang cho Giáo lý nên đến số thứ Tư, cụ hy sinh hai mục đó và chỉ còn giữ lại mục câu chuyện khôi hài. Tức là câu chuyện của chú Cửu Giới.
Số Viên âm ra mắt đầu tiên ngày 01-12-1933.
Trên bìa Viên âm có chữ  SEERBA.
Nghĩa là :  Société d’Etude et d’Exercice de la Religion Bouddhique en Annam.
Nghĩa chữ :  “Viên Âm là tiếng tròn. Từc tiếng hồn tồn như chánh pháp mà đức Phật đã thuyết ra. Phật là đấng Viên giác, tự giác, giác tha, giác hạnh, viên mãn; cho nên lời nói tròn, việc làm tròn, giáo pháp tròn, tròn theo bổn tánh thanh tịnh. Tròn làm sao, trong tròn, ngồi tròn, trên tròn, dưới tròn, cùng tam giới khắp mười phương lớn nhỏ xa gần, đâu đâu cũng tròn cả.”.
Khả năng học Phật của cụ Tâm Minh có thể nhận ra các thiên khảo luận như: Kết sinh tương tục luận, và trong các bản dịch thuật và chú giải các kinh như Thủ lăng nghiêm. Tuy cụ làm nhiều việc trọng đại cho đạo pháp, nhưng lúc nào cũng giữ thái độ khiêm cung và sự khiêm cung nầy được trông thấy nơi một

bài thơ cụ làm và đăng trong Viên âm số 17 tháng 09 năm 1935, như sau :
Bấy lâu vật vả kiếp phù trầm,
Nay đặng vào tai tiếng Phạm âm,
Tùy tiện trau dồi gương chánh kiến,
Ứng cơ giảng giải lý duy tâm.
Ngộ mê vẫn đủ ngôn, thân, ý,
Sinh tử nguyên vì sát, đạo, dâm.
Tam bảo từ bi xin mật hộ,
Cho khi hoằng pháp khỏi mê lầm.
Có thể là cụ Tâm Minh Lê Đình Thám đã trao truyền được chí nguyện hoằng pháp cho thế hệ đi sau. Rảnh tay về Viên âm, cụ dồn nghị lực xây dựng cơ sở cho một Phật Học Viện lớn tại Kim Sơn gọi là :  Tòng Lâm Kim Sơn, để dời tất cả các lớp Phật học từ Kinh đô về.
 Dự án chưa thành thì Cách mạng tháng Tám xẩy ra và công việc bị đình trệ.
 Cụ Tâm Minh thật xứng đáng có một chỗ đứng quan trọng trong lịch sử Phật giáo cận đại.
 Cụ là người dễ mến, đầy nhiệt tình. Cụ luôn luôn được bao quanh với bạn bè. Bên cụ có những nghệ sĩ tài ba như Bửu Bác, Nguyễn Khoa Tồn (Công việc trùng tu Tổ đình Từ đàm để làm trụ sở cho Hội An nam Phật học được thành tựu, phần lớn là nhờ sự có mặt của cụ Nguyễn Khoa Tồn, tượng Phật hiện đang thờ ở chánh điện Từ đàm là do cụ điêu khắc).
 Cụ Tâm Minh không hề xa cách với tuổi trẻ. Có khi cụ hồn nhiên như trẻ con Một hôm cụ từ nhà ở số 31 đường Nguyễn Hồng, cụ đi bộ lên Từ đàm. Dưới dốc Nam giao, cụ gặp hai đứa
trẻ đánh cờ tướng bên đường. Cụ ghé mắt xem, thấy một bên đang bí nước. Cụ liền ngồi xuống và chỉ cờ cho em bé. Và, cụ ngồi chơi đánh cờ với bọn trẻ hơn một giờ đồng hồ, rồi mới đứng dậy tiếp tục lên chùa.
 Có công, có lòng với Cách mạng, cụ đã thao thức muốn điều hợp học thuyết xã hội chủ nghĩa với Phật pháp. Cụ được mời ra Bắc. Cụ ra Hà nội bằng đường mòn Hồ chi Minh, dọc theo dãy Trường sơn năm 1949.
 Năm 1956, cụ được gặp các Đại biểu miền Nam tại Đại hội Buddha Jayanti. Cụ rất phấn khởi khi nghe tin Phật giáo miền Nam.
 Cụ đã xuất bản cuốn kinh Thủ Lăng Nghiêm do cụ đã dày công phiên dịch và chú giải.
 Ngày xuất bản kinh nầy năm 1961 tại chùa Quán sứ, chắc chắn là một ngày vui và một niềm an ủi lớn cho cụ.
Là vị đệ tử tại gia xuất sắc nhất của tổ Giác Tiên. Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là một người có tư chất cực kỳ thông minh và trái tim đầy nhiệt tình.
 Bước đầu gặp Phật pháp với bài kệ của tổ Huệ Năng được viết trên vách ở chùa Tam Thai, đã gây một ấn tượng sâu trong tâm não.
Tuy thế, mãi đến khi về làm việc tại bệnh viện Huế, mới gặp được một người giải thích cho cụ một cách thỏa đáng về bài kệ. Người đó là tổ Giác Tiên.
 Thấy được diệu lý của bài kệ, phát tâm quy y Tam bảo, bái nhận và tôn thờ Hòa thượng Giác Tiên làm thầy.
5.
Tưởng nhớ Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám - Người trí thức Phật tử ưu tú thế kỷ XX, Người sáng lập Gia đình Phật tử Việt Nam
Võ Đình Cường
Trong sự nghiệp chấn hưng Phật giáo nước nhà, tại miền Trung, vào những năm của thập kỷ 1930, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là người đã cống hiến nhiều công lao xuất sắc, đưa Phật giáo miền Trung phát triển vững chắc và sâu rộng.
Tượng Bác sĩ Tâm Minh tại chùa Từ Đàm - Huế
Để ghi nhớ những công lao của một cư sĩ ưu tú của Phật giáo, chư vị Tôn đức Giáo phẩm Thừa Thiên-Huế đã tạc một bức tượng bán thân cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám trong khuôn viên Tổ đình Từ Đàm, Huế. Có thể nói đây là vị Cư sĩ duy nhất từ trước đến nay có vinh hạnh lớn được chư vị Tôn đức quý mến và dựng tượng tưởng niệm.
Cư sĩ Tâm Minh không chỉ đã cống hiến nhiều công lao chấn hưng Phật giáo nước nhà, mà còn là người tiên phong sáng lập các tổ chức giáo dục Thanh, Thiếu niên Phật giáo, nhờ vậy Gia đình Phật tử có nhân duyên ra đời và phát triển như ngày hôm nay.
Bác sĩ Lê Đình Thám sinh năm Đinh Dậu (1897) tại làng Đông Mỹ (Phú Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, xuất thân trong một gia đình khoa bảng, vọng tộc; thân sinh là cụ ông Lê Đỉnh đã giữ chức Đông các Đại học sĩ (một chức lớn trong Triều) kiêm chức Binh bộ Thượng thư (tương đương Bộ Trưởng Quốc phòng ngày nay) dưới triều Tự Đức; thân mẫu là cụ bà Phan Thị Hiệu; và người anh ruột là Lê Đình Dương, lớn hơn ba tuổi.

Tuổi thiếu niên
Lúc nhỏ, bác sĩ cùng anh trực tiếp học chữ Hán với cụ thân sinh. Hai người tiếp thu rất nhanh, thông đạt kinh sách, làm được thi phú, nhưng bác sĩ Thám tỏ ra xuất sắc và nổi tiếng ở quê nhà.
Thời kỳ đi học, từ cấp I đến Đại học, bác sĩ luôn đứng đầu lớp và chiếm giải Khôi nguyên trong tất cả các kỳ thi. Ông Lê Thanh Cảnh, bạn học của bác sĩ và là hội viên An Nam Phật học, có đăng bài viết trên tạp chí Quốc Học - Huế, kể lại câu chuyện: Lê Đình Thám đã giải một bài tốn mà thầy dạy là ông Le Bris, người Pháp, không giải được, khiến ông này vô cùng thán phục và đã nhấc bổng trò Thám lên cao mà nói to: “Đây là thầy của tôi”. Cũng trong bài viết này, ông Lê Thanh Cảnh còn kể lại, bác sĩ Thám có một thiên năng nhớ bài rất nhanh, chỉ nhẩm qua hai lần là thuộc không sót một chữ.
Tuy học hành xuất chúng nhưng cách cư xử của người học trò Lê Đình Thám với bạn bè cùng lớp rất chân tình, hòa ái, được thầy yêu, bạn mến.
Đường đời
Bác sĩ Lê Đình Thám tốt nghiệp Thủ khoa y sĩ Đông Dương tại Hà Nội năm 1916. Thời bấy giờ đó là ước mơ của bao người mong được công thành, danh toại để hưởng phú quý vinh hoa, nhưng đối với người thanh niên ấy hưởng thụ không phải là mục đích mà lại luôn trăn trở trước cảnh nước mất, nhà tan. Thực dân Pháp biết bác sĩ Thám xuất thân trong một gia đình có truyền thống yêu nước cho nên chúng rất chiếu cố đến bác sĩ, đã thuyên chuyển bác sĩ đi nhiều tỉnh như những cuộc lưu đày.
Trong thời gian từ năm 1916 đến năm 1925, bác sĩ Thám thay đổi chỗ công tác các bệnh viện như Bình Thuận, Sông Cầu, Quy Nhơn, Tuy Hòa.
- Năm 1926, bác sĩ lại bị đổi về Hội An, Quảng Nam, tại đây bác sĩ Lê Đình Thám cùng với những người yêu nước khác đứng ra làm lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Vì lý do này, người Pháp lại đẩy bác sĩ ra tỉnh Hà Tĩnh.
- Năm 1928, bác sĩ Thám mới được chuyển về Huế giữ chức Y sĩ trưởng Viện bào chế và Vi trùng học Pasteur.
- Năm 1930, bác sĩ đỗ thêm bằng bác sĩ Y khoa ngạch Pháp quốc.
- Năm 1933, làm Giám đốc bệnh viện Bài lao Huế.
- Năm 1945, Chính phủ Trần Trọng Kim mời bác sĩ Thám giữ chức Giám đốc Y tế Trung phần kiêm Giám đốc Bệnh viện Huế.
- Mùa Đông năm 1946, bác sĩ về quê ở Quảng Nam tham gia kháng chiến chống Pháp.
- Năm 1947, bác sĩ Thám giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Trung bộ tại Liên khu V.
- Mùa hè năm 1949, bác sĩ được mời ra Bắc và được đề bạt giữ chức Chủ tịch Phong trào Vận động Hòa bình Thế giới của Việt Nam.
Tinh thần phục vụ xã hội
Bác sĩ Lê Đình Thám được bạn bè và những người đồng liêu đánh giá là người làm việc rất tận tụy, quên mình. Đối với các bệnh nhân, ông đối xử ân cần, bình đẳng, không phân biệt địa vị xã hội, người giàu, kẻ nghèo…
Là một bác sĩ, bác Thám không ngừng trau dồi nghề nghiệp, đã cùng bác sĩ người Pháp, ông Normet, Giám đốc Y tế Trung kỳ, phát minh ra Sérum (dịch truyền) Normet cùng một số dược liệu khác được y giới Pháp-Việt thời đó rất trọng vọng.
Năm 1933, trong thời gian giữ chức Giám đốc Bệnh viện Bài lao Huế, bác sĩ Thám đã làm việc hết sức tận tình, nổi tiếng là một danh y chẩn đốn và điều trị giỏi.
Cơ duyên đến với đạo Phật
Các tài liệu viết về tiểu sử của bác sĩ Lê Đình Thám đều có đề cập đến giai thoại về cơ duyên bác sĩ đến với Đạo Phật. Vào thời gian làm việc tại bệnh viện Hội An năm 1926, khi đi tham quan thắng cảnh chùa Tam Thai (thường gọi là chùa Non Nước), Đà Nẵng, bác sĩ đã đọc được bài kệ của Tổ Huệ Năng khắc trên vách chùa:
Bồ đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài.
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai.
Phụng sự Chánh pháp
Từ đó, bài kệ này ăn sâu vào tâm thức, làm cho bác sĩ Lê Đình Thám suy nghĩ và thôi thúc phải tìm hiểu cặn kẽ hơn. Vì vậy, vào năm 1928, khi bác sĩ được đổi từ nhiệm sở ở Hà Tĩnh về Huế giữ chức Y sĩ trưởng Viện Bào chế và Vi trùng học Pasteur, bác sĩ đã lên chùa Trúc Lâm xin yết kiến Hòa thượng Giác Tiên, được Hòa thượng khai ngộ về ý nghĩa và nguyên nhân phát sinh bài kệ trên. Hốt nhiên tâm đạo bừng sáng, bác sĩ đã thành kính xin quy y với Hòa thượng Giác Tiên, được Hòa thượng ban cho Pháp danh là Tâm Minh. Từ khởi điểm này, cuộc đời của bác sĩ Thám gắn bó với Phật giáo và hết mình phụng sự Chánh pháp.
Tiếp theo từ năm 1929 đến năm 1932, với tinh thần tha thiết cầu học, bác sĩ Lê Đình Thám còn thọ giáo với Hòa thượng Phước Huệ, một bậc Cao Tăng đức độ và uyên thâm ở chùa Thập Tháp,
tỉnh Bình Định. Vào thời điểm này, ở Trung Quốc, ngài Thái Hư Đại sư đang phát động công cuộc chấn hưng Phật giáo nên đã tác động mạnh đến Phật giáo Việt Nam, và thôi thúc bác sĩ Thám phải làm sao vực dậy Phật giáo nước nhà đang bị ngủ quên.
Năm 1932, vâng lời của Chư tôn Thiền đức: Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đã quy tụ một số đồng lữ, những người tha thiết với đạo, có địa vị và uy tín trong xã hội như các cụ: Ưng Bàng, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Viễn Đệ, Nguyễn Khoa Tồn, Ưng Bình, Bửu Bác… (gồm 18 người), đã đi đến việc thành lập Hội An Nam Phật Học (ANPH) (thời Pháp đô hộ, miền Trung từ Thanh Hóa trở vào Bình Thuận gọi là An Nam) do bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám làm Hội trưởng. Ban đầu Hội đặt trụ sở tại chùa Trúc Lâm, sau đó, khi chùa Từ Đàm đại trùng tu xong, Hội dời văn phòng về đây. Mấy năm tiếp theo, Hội ANPH mở rộng hệ thống tổ chức đến các Chi hội, Khuôn hội rồi hầu hết các tỉnh miền Trung và Cao nguyên (bây giờ là Tây nguyên)...
Mở các trường Phật học
Trong các hoạt động của mình, Hội ANPH rất chú trọng đến việc đào tạo Tăng tài, do vậy các trường Phật học được thành lập như sau:
- Năm 1933, mở trường ANPH tại chùa Vạn Phước, sau đó dời về chùa Báo Quốc do Hòa thượng Trí Độ làm Đốc giáo.
- Năm 1935, mở trường Sơn Môn Phật Học, lớp Đại học mở tại chùa Trúc Lâm do Hòa thượng Giác Tiên làm Giám đốc; lớp Trung học mở tại chùa Tường Vân do Hòa thượng Tịnh Khiết làm Giám đốc.
Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là người mẫn tiệp, uyên thâm triết học Đông-Tây, nhất làvề Kinh Luận, do vậy được Chư vị Cao
Tăng mời dạy các trường nói trên. Trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (tập III), trang 89 có ghi: “Lê Đình Thám có lẽ là người cư sĩ đầu tiên ở thế kỷ XX đã dự phần vào việc đào tạo Tăng tài. Phật học của Ông được các bậc Tôn túc công nhận là thâm uyên, cho nên Ông đã được mời vào giảng dạy trong các Phật học đường Trúc Lâm và Tường Vân…”. Mặc dù có một kiến thức cao rộng, nhưng cung cách của bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám rất khiêm nhã và trân trọng, mỗi lần có giờ giảng, bác sĩ luôn mặc áo tràng và đảnh lễ Chư Tăng trước khi lên bục giảng.
Tốt nghiệp khóa học đầu tiên của Phật học đường Báo Quốc gồm có các Học Tăng tiêu biểu như Thiện Siêu, Trí Quang, Thiện Minh, Thiện Hoa, Trí Tịnh,… Chư vị này về sau trở thành những vị giáo phẩm lãnh đạo cao cấp, lèo lái con thuyền Phật giáo Việt Nam vượt qua phong ba bão táp trong thời kỳ bị chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp năm 1963.
Nhà sáng lập các tổ chức giáo dục Thanh Thiếu niên Phật tử
Vào ngày 14 tháng 8 năm 1938, trong kỳ Đại hội đồng của Tổng hội ANPH tại Huế, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đã phát biểu: “Không có thành tựu bền vững nào lại không nhắm tới hàng ngũ Thanh Thiếu niên. Họ là những người tiếp nối chúng ta trong ngày mai…”. Một câu nói xuất phát từ suy nghĩ sâu xa và có tầm nhìn chiến lược mà sau đó đã hình thành các tổ chức giáo dục Thanh Thiếu niên Phật tử.
Bắt nguồn từ mối quan tâm trên, vào mùa Thu năm 1940, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám đã thành lập Đồn Thanh niên Phật học Đức dục (ĐTNPHĐD) do đích thân bác sĩ điều khiển. Thành phần Đồn ĐTNPHĐD đầu tiên gồm có: Cố vấn: Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám; Đồn trưởng: anh Phạm Hữu Bình; Đồn phó: anh Đinh Văn Nam (nay là Hòa thượng Minh Châu); Thư ký: anh Ngô
Điền; và các ủy viên: anh Ngô Thừa, Võ Đình Cường, Đinh Văn Vinh, Nguyễn Hữu Quán, Nguyễn Khải, Lê Kiểm, Phạm Quỵ, Hồng Ngọc Phu, Lê Đình Duyên. Năm sau có các anh mới: Ưng Hội, Tráng Thông, Lâm Công Định.
Đồn TNPHĐD thành lập Phật học Tùng thư để xuất bản kinh sách mà phần lớn do ĐTNPHĐD biên soạn.
Ngày Phật đản 8 tháng 4 năm Giáp Thân - 30.04.1944 (đến năm 1952 mới thống nhất làm lễ Phật đản vào ngày Rằm tháng Tư theo Nghị quyết của Hội Liên Hữu Phật giáo Thế giới), Đại hội Thanh Thiếu niên Phật tử tại rừng Quảng Tế, Huế, đã đi đến thành lập Gia đình Phật Hóa Phổ (GĐPHP). Các GĐPHP đầu tiên gồm có Gia đình Tâm Minh (do bác sĩ Lê Đình Thám là Phổ trưởng); Gia đình Thanh Tịnh (do bác sĩ Tôn Thất Tùng làm Phổ trưởng); Gia đình Tâm Lạc (do bác Phạm Quang Thiện làm Phổ trưởng) và Gia đình Sum Đồn (do bác Nguyễn Hữu Tuân làm Phổ trưởng). Đến năm 1951, đại hội GĐPHP tại chùa Từ Đàm, Huế đã quyết định đổi danh xưng thành Gia đình Phật tử, như vậy GĐPHP là tiền thân tiếp cận của Gia đình Phật tử Việt Nam.
Chủ trương thành lập báo Viên Âm
Nhằm truyền bá giáo lý Phật đà và thông tin các hoạt động Phật sự, bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám đã chủ trương Nguyệt san Viên Âm (nghĩa là tiếng nói tròn đầy), số đầu tiên ra mắt độc giả vào ngày 01.03.1933, với chức danh Chủ nhiệm kiêm chủ bút, các thành viên trong ĐTNPHĐD nói trên đều tham gia viết bài. Đến tháng 5 năm 1942, bắt đầu từ số 48, bác sĩ Lê Đình Thám giao hẳn tờ Viên Âm cho ĐTNPHĐD quản lý và phụ trách biên tập.
Cuộc đời bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám từ ngày quy y Tam bảo ở chùa Trúc Lâm, Huế cho đến lúc trái tim nhân ái của Bác sĩ
ngừng đập vào ngày 23.04.1969 (nhằm ngày 07 tháng 03 năm Kỷ Dậu), mộ táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, trong bất cứ hồn cảnh nào, ở đâu, bác sĩ cũng đã thể hiện một Phật tử tài năng và chân chính. Sự nghiệp phụng sự Chánh pháp và công lao sáng lập các tổ chức giáo dục Thanh, Thiếu niên Phật tử của bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám thật rực rỡ, trường tồn mãi với Phật giáo nước nhà cũng như với Gia Đình Phật Tử Việt Nam.
 
6.
Nhớ Cụ Lê Đình Thám
Trần Phong
Tôi đã từng gặp cụ trên từng nẻo đường núi rừng Việt Bắc – có lần trên những lối đi gập ghềnh ở các dốc đèo De, lúc dừng nghỉ dưới bóng cây đa Tân Trào, hay đứng trầm ngâm cạnh đình Hồng Thái… trong những lần cụ đi thăm lại những địa điểm lịch sử và đi thăm bè bạn ở quanh đó. Gặp nhau, tôi chỉ biết cụ là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hành chính Liên khu 5, một người đáng kính. Đến sau chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng miền Bắc, tôi mới có dịp gần gũi cụ nhiều hơn.
Sau ngày tiếp quản Thủ đô, Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam mà Bác sĩ Lê Đình Thám là Chủ tịch, có trụ sở riêng. Tôi được điều động về phụ trách công tác văn phòng ở đó, hằng ngày làm việc và tiếp xúc trực tiếp với cụ. Và trong gần năm năm, tôi đã có dịp cùng với cụ đi dự nhiều hội nghị quốc tế ở hầu khắp năm Châu – qua Trung Quốc, Liên Xô, Phần Lan, Ai Cập, Ấn Độ, Miến Điện… cụ đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng về khả năng thu phục nhân tâm. Với tấm lòng trong sáng của một người trí thức Việt Nam giàu lòng yêu nước, cụ rất xúc động nhìn thấy trên tất cả các diễn đàn quốc tế, thế giới nhiệt tình ca tụng tấm gương chiến đấu
anh dũng của “Việt Nam – Hồ Chí Minh – Điện Biên Phủ”. Cụ đã có thái độ thể hiện rõ tầm nhìn trải rộng của nhân dân ta – thành thật biết ơn đối với mọi sự ủng hộ và giúp đỡ về tinh thần và vật chất – tăng thêm nguồn sức mạnh cho cuộc đấu tranh chính nghĩa.
Như cố vấn Phạm Văn Đồng đã có lần nói về cụ : Tôi biết cụ Lê suốt thời gian công tác. Cái kỷ niệm tốt nhất khiến tôi nhớ mãi : cụ là người yêu nước, là người trung thực, là người luôn sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì mà Bác Hồ giao cho lúc bây giờ và làm một cách chu đáo, có trách nhiệm, trọn vẹn…
Đến đâu, cụ cũng được chính phủ và nhân dân các nước tiếp đón trọng vọng. Và các nhà hoạt động chính trị thế giới – dù theo khuynh hướng chính trị nào – đều dễ gần gũi, mến mộ cụ. Và cụ đã góp phần khơi dậy trong lòng mọi người nhiệt tình ủng hộ cuộc chiến đấu thần kỳ của nhân dân ta.
Sẽ là một thiếu sót lớn nếu không nhắc đến các mối quan hệ của cụ với Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thường là trong các ngày lễ Phật thành đạo, lễ Phật đản, lễ Vu Lan.v.v… cụ đều đến dự lễ và đi viếng nhiều cảnh chùa, hoặc chùa Quán Sứ, chùa Bà Đá hay chùa Trấn Quốc, và thân mật đàm đạo với các vị Trú trì, trao đổi với các tu sĩ về giáo lý nhà Phật hay về các mặt hoạt động Phật giáo gắn liền đạo với đời, thắt chặt thêm mối quan hệ gắn bó giữa đạo pháp và dân tộc.
Mãi sau này, tôi mới có dịp hiểu biết cặn kẽ hơn, sâu sắc hơn tình cảm yêu nước của một người trí thức yêu nước xuất thân từ gia đình văn thân được gần gũi với các nhà ái quốc tiền bối – một lòng đi theo cách mạng với niềm tin sâu sắc vào khả năng vô tận của nhân dân.
*
Tôi còn nhớ như in buổi “tiễn đưa” tôi lên đường nhận nhiệm vụ mới. Trong dịp được phép về thăm gia đình trước ngày lên đường đi B, tôi nhận được mấy chữ của cụ mời đến dự bữa cơm thịnh soạn, khi chỉ còn lại cụ và tôi, cụ nói vừa đủ nghe :
- Rất vui được gặp anh trước lúc đi xa. Chúng ta đã biết nhau nhiều, nhưng chưa hiểu nhau hết đâu. Tôi có vài kinh nghiệm sâu sắc muốn nói với anh, gọi là “thổ lộ tâm can”…
Tôi hơi bất ngờ trước những lời nói nghiêm trang của cụ – trái với ý nghĩ của tôi là đến gặp cụ để “lễ phép” từ giã một vị thủ trưởng đáng kính. Và hôm nay – rất khác với lệ thường ở con người nhỏ nhẹ ít nói, cụ chủ động nhắc lại nhiều chuyện cũ tưởng đã quên từ lâu. Cụ nói :
- Sau lần họp hội nghị quốc tế về hòa bình ở Hen-xin-ki (Phần Lan) và trở về dự Hội nghị Hòa bình tồn Liên Xô ở Lê-nin-grat, anh có biết trong đầu óc tôi đã nảy ra những ý nghĩ gì không? Ở Phần Lan – qua những “đêm trắng” – tôi cứ thao thức về hình ảnh của Lê – nin ở túp liều  Ra-dơ-líp. Về Lê-nin-grat, đi thăm chiến hạm “Rạng Đông” với các loạt pháo lệnh  tiến công cung điện Mùa Đông của Nga hồng, mở đầu Cách mạng Tháng Mười Nga…, tôi cứ liên tưởng đến những bước đi của Bác Hồ – từ hang Pác Bó ở tận biên giới phía Bắc, ra “lời kêu gọi” tồn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa – Giống như tiếng pháo lệnh mở đầu cách mạng Việt Nam. Vì sao có niềm tin ở khả năng cách mạng của nhân dân ta như thế?  Vấn đề không phải là một nguyện vọng xuất phát từ chủ quan thuần túy, mà phải có cơ sở kiến thức khoa học của nó. Vậy thì xuất phát điểm của kiến thức khoa học đó là ở chổ nào?...
Tôi lắng nghe những lời nói trầm tĩnh, mang nhiều ý nghĩa triết lý sâu sắc đó một cách thích thú, và có tâm lý đợi chờ lời giải đáp
từ cách nhìn của một nhà trí thức Tây học uyên bác. Cụ mỉm cười và chân thành thổ lộ:
- Mình cũng biết qua những : Ban ATK định dời nhà dân để bảo vệ an tồn căn cứ địa, nhưng Bác Hồ chủ trương là phải gần gũi, thật sự giúp đỡ, chăm lo đời sống và cảm hóa người dân, và chính nhân dân sẽ làm công tác bảo vệ thay mình. Và những lời khuyên bảo đó đã được thực tế chứng tỏ. Thật đúng như lời Bác nói : “không nên sợ người ta không theo mình. Chỉ sợ lòng mình không đủ rộng”.
Dừng lại giây lát để thấm giọng bằng một ngụm trà, cụ chậm rãi nói tiếp:
- Anh biết không, hình ảnh Bác Hồ ở trong tôi, nói theo ngôn ngữ nhà Phật, là hình ảnh của một vị Bồ tát sáng chói các đức tính “tri túc dục thiểu” – hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về mọi tâm tư và tình cảm sâu kín nhất của mọi tầng lớp người trong xã hội, với đạo đức hết sức trong sáng, tất cả mọi hành động đều chỉ vì cuộc sống hạnh phúc của con người, của cả nhân loại… với kinh nghiệm bản thân, tôi cũng thấy theo chân Bác, tâm trí mình trong sáng hơn, lòng mình “thanh tịnh” hơn. Và cả dân tộc mình, đi theo con đường soi sáng bởi trí tuệ và đạo đức cao đẹp của Bác – nhất định sẽ làm nên những sự tích “thần kỳ”.
… Đã hơn 30 năm từ buổi gặp mặt thân tình với cụ Lê Đình Thám trước “chuyến đi xa”, tôi vẫn còn nghe lời chúc tụng đầy niềm tin của cụ: chúc anh mạnh khỏe, gặp nhiều may mắn và “ra đi chiến thắng lại về…”. Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cụ, hình ảnh của con người trí thức hiền từ khiêm tốn, nói năng nhỏ nhẹ, song ẩn dấu một tấm lòng cương nghị, mạnh bước hòa nhập đội ngũ đấu tranh đầy gian khổ của dân tộc, sống mãi nơi tôi.
 
 
 *
/156
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »