Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 8: Chương 1: Mô tả đinh - chọn đề mục thiền quán (Trang 43 - 52)


Chương 1

MÔ TẢ ĐỊNH CHỌN ĐỀ MỤC THIỀN QUÁN
( Kammatthàna- gahana- niddesa)

Khi một người người đã đứng vững trên đất giới và đang chấp nhận một pháp môn khổ hạnh thì sẽ dễ dàng tu tập định. Nhưng cần khảo sát cá tính của từng người, để chọn pháp định nào thích hợp nhất mới có kết quả tốt đẹp. Để nắm vững vấn đề định, chúng ta sẽ lần lượt trình bày các khía cạnh sau: Định nghĩa định, đặc tính của định, phân loại định, những trợ duyên và những trở ngại, làm cách nào để tu tập và lợi ích của tu tập định.
 
1. ĐỊNH NGHĨA ĐỊNH
Tiếng Pàli “Samàdhi” được dịch là định. Định nghĩa là tập trung tâm ý vào một đề tài hay một đối tượng duy nhất không được phân tán hay xao lãng.

2. ĐẶC TÍNH CỦA ĐỊNH
Đặc tính của định là không phân tán, loại trừ mọi dạo động, tán loạn của tâm trí.

3. PHÂN LOẠI VỀ ĐỊNH
Khái quát, định được xếp thành nhiều loại, từ một loại, hai loại đến năm loại.

a. Định một loại: Ý nghĩa tổng quát đã nói trên.
b. Định hai loại: Định cận hành và Định an chỉ. Định cận hành là sự nhất tâm đạt được nhờ các phép quán tưởng: Sáu tưởng niệm, quán xác chết, quán sự bình an, quán bất tịnh của thức ăn, phân tích tứ đại, và sự nhất tâm có trước định an chỉ. Định an chỉ là sự nhất tâm theo liền sau các việc đã chuẩn bị sẵn.
- Định thế gian và xuất thế gian: Định thế gian là sự nhất tâm có tánh thiện ở ba cõi dục, sắc, vô sắc. Định xuất thế gian là định thuộc thánh đạo.
- Định câu hữu hỷ và định không hỷ. Định câu hữu hỷ là sự nhất tâm ở hai thiền đầu trong bốn thiền và ba thiền đầu trong 5 thiền. Định không hỷ là sự nhất tâm trong hai thiền cuối.
c. Định ba loại: Đinh bậc hạ, bậc trung và bậc thượng. Định mới đạt được là bậc hạ, định chưa phát triển là bậc trung và định đã đến mức độ thuần thục là bậc thượng.
 Định câu hữu hỷ, định câu hữu lạc và định câu hữu xả: Định câu hữu hỷ, địn ở hai thiền đầu trong tứ thiền hay tam thiền đầu trong ngũ thiền. Định câu hữu lạc: Định ở tam thiền trong hệ thống tứ thiền và tứ thiền trong hệ thống ngũ thiền. Định câu hữu xả: định ở thiền cuối cùng trong hai hệ thống.
Định có giới hạn, định đại hành và định vô lượng. Định có giới hạn là sự nhất tâm trong cận hành định. Định đại hành là sự nhất tâm trong thiện pháp thuộc sắc giới và vô sắc giới. Định vô lương là sự nhất tâm liên hệ đến thánh đạo.

d. Định 4 loại: Định khó tiến lâu đắc, định khó tiến mau đắc, định dễ tiến lâu đắc và định dễ tiến mau đắc. Khi một người tu tập những pháp thiền không thích hợp, thì khó tiến lâu đắc. Khi một người ít cấu uế, nhưng căn môn cùn nhụt, thì tu tập dễ tiến nhưng lâu đắc. Khi một người nhiều cấu uế, nhưng căn môn sắc bén thì tu tập khó tiến nhưng mau đắc.
Ngoài ra còn có 4 loại khác. Đó là, ở sơ thiền, dùng 5 thiền chi tầm, tứ, hỉ, lạc và nhất tâm để loại trừ 5 triền cái (tham, sân, nghi, thùy miên, trạo cử). Ở nhị thiền bỏ tầm và tứ, còn lại 3 thiền chi. Ở Tam thiền bỏ hỉ, còn hai thiền chi. Ở Tứ thiền bỏ lạc, còn nhất tâm và xả.
đ. Định 5 loại: Đó là 5 thiền, dùng hệ thống 4 thiền, nhưng chia nhị thiền thành hai là thiền không tầm có tứ và thiền không tầm không tứ, do đó thành ra 5 thiền. 
4. NHỮNG CHƯỚNG NGẠI TRONG SỰ TU TẬP

Khi khảo sát về những trở ngại đối với việc tu tập, các luận sư thường ghi nhận mười chướng ngại sau đây: Chướng ngại về trú xứ, gia đình, lợi dưỡng, đồ chúng, việc xây cất, du lịch, quyến thuộc, ưu não, sách vở và thân thông:
- Có người trong lúc tu tập hay bận tâm quyến luyến đến chỗ ở của mình.
- Hoặc bị tình cảm gia đình trói buộc.
- Hoặc vì những lợi dưỡng làm cho hệ lụy.
- Hoặc vì đồ chúng bủa vây chiếm hết thì giờ tu tập.
- Hoặc công việc xây cất chi phối tâm trí.
- Hoặc ưa thích du lịch đó đây, mất hết thì giờ.
- Hoặc do quyến thuộc lôi kéo.
- Hoặc do sự buồn bực làm cho trở ngại.
- Hoặc vì đọc nhiều sách kinh làm tâm trí phân tán.
- Hoặc đặc sự tu tập vào mục đích đạt được thần thông.

5. KHẢO SÁT CÁ TÍNH
 
 Để chọn đề tài tu tập thích hợp cho từng đối tượng, các luận sư thường chia thành sáu loại Cá tính như sau: Cá tính nặng về tham, nặng về sân, về si, về đức tín, về trí tuệ và tư duy. Đồng thời có những mối tương quan giữa các đức tính trên:
- Người thiên về đức tin thường đi đôi với người nặng về tham. Tính tham không từ bỏ cái gì có hại, còn đức tin thì không từ bỏ cái gì có lợi.
- Người thiên về trí tuệ thường đi đôi với tánh sân.
Tính sân sinh khởi bằng cách buộc tội chúng sinh, trong khi tuệ sinh khởi bằng cách buộc tội các hành.
 - Người thiên về tư duy thường đi đôi với tính si, và đặc tính của tầm cũng gần với đăc tính của si. Tính si không an là do bối rối, tầm không an là do suy nghĩ nhiều.
Nếu phân tích thêm, ta sẽ thấy dục và mạng đều liên hệ mật thiết với tham, và kiến chấp hay tà kiến thì bắt nguồn từ si. Phần lớn những đức tính mà chúng ta hiện có thường bắt nguồn từ tiền kiếp:
- Người nhiều tham có thể đời trước họ đã làm nhiều việc mà họ ưa thích;
- Người nhiều sân có thể đời trước họ thường hay đâm chém hay làm những việc tàn bạo khác;
- Người nhiều si, có thể kiếp trước họ đã từng uống nhiều rượu, ít chú ý đến học vấn. Đó là quan điểm lấy nguồn gốc từ kiếp trước.
Hơn nữa, quan điểm nầy còn cho rằng bốn đại có ảnh hưởng tâm tính của mỗi người. Chẳng hạn:
- Một người có tánh si là do hỏa đại và địa đại tăng thịnh.
- Người có nhiều sân là do thủy đại và phong đại tăng thịnh.
- Nhưng người nhiều tham là vì bốn đại quân bình.
Về khí chất, kẻ nặng về tham thì dư đàm, người nặng về si thì dư phong. Tuy nhiên, những quan điểm vừa nêu cũng không hoàn toàn đúng hẳn.
Nhưng muốn nhận xét một người thiên về tính nào nhiều hơn, luận chủ căn cứ vào hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ, nhận thức và tâm trạng để xếp loại.
Về hành vi, cử chỉ:
- Người có tính tham khi đi tự nhiên, bước chân cẩn thận, tự nhiên và khoan thai.
- Người có tính sân, bước đi hấp tấp, đặt chân xuống và dở chân lên đều nhanh nhẹn.
- Người có tính si, dáng đi bối rối, để chân xuống và nhất chân lên một cách do dự.

Khi làm việc:
- Người tham làm việc một cách từ tốn, cẩn thận;
- Người sân làm việc một cách căn thẳng;
- Người si làm việc một cách vụng về.

Khi ăn:
- Người tham thích ăn thực phẩm ngọt ngào, béo bổ;
- Người sân ưa đồ dai và chua;
- Người si không có lựa chọn nhất định.

Khi nhìn sự vật:
- Người tham chú ý những gì mình thích, kể cả những chi tiết vụng vặt, mà không quan tâm nhiều đến những khuyết điểm.
- Người sân khi thấy một sắc pháp hơi khó ưa, thường xoi mói các khuyết điểm nhỏ, mà bỏ qua những đức tính khác;
- Người si không có những chủ kiến nhất định, khen chê theo ý của người khác.

Về tâm trạng:
- Người tham thường có tâm trạng lừa dối, gian lận, kiêu mạn, ác dục, bất mãn, làm đỏm, kheo khoang.
- Người sân thường có tâm trạng giận dữ, thù hằn, phỉ báng, thống trị, ganh tị, biển lận.
- Người si thường có tâm trạng đờ đẫn, dao động, lo âu, bất định, bám víu không chịu xả bỏ.
- Người có tính tâm, tính tình rộng rãi, mong muốn gặp những bậc thánh, mong nghe diệu pháp, vui vẻ, hồn nhiên, thành thực tin tưởng những gì gợi lên niềm tin.
- Người có tánh tuệ, ngoan hiền, biết vừa đủ trong ẩm thực, chánh niệm tỉnh giác, ưa sự thức tỉnh, có ý thức tôn trọng những nguyên tắc.
- Người có tính tư duy, thích nói, dễ hòa mình, không ham thích làm việc phước thiện, khó hoàn tất được những công việc đã làm.

Tuy nhiên, những chỉ dẫn trên về cách nhận dạng tính tình không phải được lưu truyền trong kinh hay luận, mà chỉ được diễn tả theo quan điểm của các bậc thầy, do đó, không thể xem là một chân lý hoàn hảo. Vì ngay cả một người có tính tham, hay sân cũng không dễ gì đánh giá chính xác được tính tình của họ, nếu ta chưa thực sự giác ngộ. Vả lại, ít có người nào chỉ thuần nhất tham hay sân, mà thường xen lẫn nhiều đức tính khác nhau, và tùy theo mỗi cảnh ngộ khác nhau.

6. PHÂN LOẠI ĐỀ MỤC

Tiếp theo sự khảo sát cá tính là sự lựa chọn những đề mục thích hợp để tu tập. Luận chủ đã khái quát các đề mục ấy thành bốn mươi loại: Mười biến xứ, mười bất tịnh, mười chỗ tưởng niệm, bốn phạm trú, bốn vô sắc xứ, một tưởng và một phân tích.
Mười biến xứ: đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng , đỏ, trắng, ánh sáng, hư không.
Mười bất tịnh: thây phình trướng, thây bầm xanh, thây máu mủ, thây nứt nẻ, thây thú ăn, thây phân lìa, thây rã rời, thây chay máu, thây sâu đục, bộ xương.
Mười chỗ tưởng niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên, niệm Chết, niệm Thân, niệm hơi thở và niệm diệt.
Bốn phạm trú: Từ, Bi, Hỉ, Xả.
Bốn vô sắc: Không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu, Phi tưởng phi phi tưởng.
Một tưởng: tưởng đồ ăn bất tịnh.
Một phân tích: phân tích bốn đại chủng.
Trong bốn mươi đề mục trên, thì hai mươi hai đề mục có tướng trạng bên ngoài, đó là mười biến xứ, mười bất tịnh của tử thi, niệm thân và niệm hơi thở. Mười hai đề mục lấy tự tính để làm đối tượng, đó là tám trong mười tưởng niệm-trừ niệm thân và niệm hơi thở, tưởng thức ăn bất tịnh, phân tích bốn đại chủng, Thức vô biên xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Còn những đề mục khác không thể phân loại như thế được.
Xét về những duyên ( điều kiện) làm cơ sở để chứng đắc các thiền, chín biến xứ, trừ biến xứ hư không, là những điều kiện để chứng Vô sắc xứ.
Mười biến xứ là những điều kiện để chứng đắc các loại thắng trí (thần thông). Ba phạm trú (vô lượng tâm) đầu là điều kiện để chứng phạm trú thứ tư. Mỗi vô sắc cấp dưới là điều kiện cho vô sắc trên nó một bậc. Phi 
tưởng phi phi tưởng xứ là điều kiện để chứng diệt thọ tưởng định. Tất cả là điều kiện phát sinh trí tuệ để sống an lạc trong những sinh thú tốt đẹp.

7. ĐỀ MỤC THÍCH HỢP CHO CÁC CÁ TÍNH

Mười phép quán bất tịnh của tử thi và niệm thân là những đề mục thích hợp cho người nhiều tham dục.
Bốn phạm trú và bốn biến xứ về màu sắc là những đề mục thích hợp cho người hay sân.
Niệm hơi thở thích hợp cho người có tính si và người có tính tư duy.
Sáu niệm đầu cho mười tưởng niệm thích hợp cho những người có tịnh tín.
Niệm chết, niệm diệt, phân tích bốn đại, tưởng thức ăn bất tịnh, là những đề mục thích hợp cho những người có tính tuệ.
Những biến xứ còn lại và những vô sắc thích hợp cho mọi loại tính tình. Và bất cứ biến xứ nào cũng cần có giới hạn cho người có tính tư duy và vô hạn cho người có tính si.
Những cách phân biệt trên là nói theo thể thức đối trị trực tiếp và hoàn toàn thích hợp, nhưng kỳ thực không có phép tu nào mà không trừ bỏ được tham, hổ trợ được tín v.v... Nói một cách khái quát thì: ”Tu bất tịnh quán để trừ tham dục; tu từ bi quán để từ bỏ sân hận; niệm hơi thở để từ bỏ tầm tư duy; tưởng vô thường để từ bỏ ngã mạn” (A.IV, 358).
Khi một hành giả đã quyết tâm hạ thủ công phu, liều bỏ tính mệnh thì không có một nỗi sợ hãi nào hay một chướng ngại nào là không vượt qua được. 
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »