Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 13: Chương 6: Định - những tùy niệm khác (Trang 93 - 112)

 
Chương 6

ĐỊNH - NHỮNG TÙY NIỆM KHÁC
(Anussati Kammatthàna-niddesa)

1. NIỆM CHẾT
Sau sự tu tập về sáu tùy niệm là tu tập về niệm chết. Ở đây chết là sự gián đoạn mang căn được giới hạn trong một đời sống. Cái chết nầy có thể chia thành hai loại: Chết đúng thời hạn và chết phi thời. Chết đúng thời hạn xảy đến hoặc do hết phước đức, hoặc do hết thọ mạng, hoặc do hết cả hai cùng lúc. Cái chết do hết phước đức như người bị chết đói, mặc dù thân thể không đau ốm gì. Cái chết do hết thọ mạng như những người già chết mà chúng ta thường thấy. Còn chết phi thời là cái chết đã xảy đến đột ngột do ác nghiệp đời trước đã gây,
nên đời nầy bị người ta giết hại bằng vũ lực hoặc bằng binh khí.
Một người muốn tu tập phép quán nầy, cần đi vào độc cư và chuyên tâm tác ý  một cách trí tuệ như sau: “Chết sẽ xảy đến, mạng căn sẽ bị gián đoạn.” Hay “chết, chết”. Hành giả có thể tác ý đến cái chết một cách chung chung, hoặc tác ý cụ thể đến những người trước đây đã thọ tưởng hưởng đầy đủ dục lạc mà mình từng quen biết, nhưng giờ đây họ đã ra người thiên cổ. Hành giả nghĩ đến trường hợp người ấy và thầm nhủ: “Cái chết thực sự đã xảy đến”, làm như vậy, tức là niệm chết một cách có trí tuệ.
Khi một người tu tập niệm chết như vậy thì những triền cái của vị này được điều phục, niệm được an trú với cái chết làm đối tượng, và có thể đạt đến cận hành định.

TÁM CÁCH NIỆM CHẾT
Nhưng, nếu hành giả nhận thấy sự tu tập niệm chết không được tiến bộ thì có thể áp dụng tám cách làm sau: 1/ Có sự xuất hiện của một kẻ sát nhân; 2/ Sự thành công bị phá sản; 3/ So sánh; 4/ Thân thể bị san sẻ với nhiều chúng sinh; 5/ Mạng sống mong manh; 6/ Không tướng; 7/ Sự giới hạn của đời người; 8/ Sự ngắn ngủi của sát na.
1/ Có sự xuất hiện của một kẻ sát nhân nghĩa là vị ấy nên nghĩ về mạng sống của mình cũng như của mọi người là rất mong manh, như đang bị một kẻ sát nhân rình rập định sát hại bất cứ lúc nào. Bởi vì, mọi chúng sinh từ lúc mới chào đời là đã tuần tự du hành tiến về cái chết. Do vậy mà có một bài kệ cảnh tỉnh như sau:
“ Ngày nay đã qua
Mạng sống giảm dần
Như cá ít nước
Nào có vui gì!
Đại chúng cần phải tinh tấn
Như cứu đầu cháy
Phải nghĩ vô thường
Chớ có phóng dật.”
2/ Sự thành công bị phá sản, nghĩa là mọi sự thành công dù vẻ vang đến đâu cũng đều chứa cái mần móng của sự thất bại và suy tàn. Hơn nữa, mọi sức khỏe sẽ chấm dứt bằng tật bệnh, mọi tuổi trẻ sẽ chấm dứt bằng già nua, mọi sự sống chấm dứt bằng cái chết. Tất cả sự tồn sinh trên thế gian đều do sinh mà có, bị già ám ảnh, bị tật bệnh tấn công thình lình, và bị cái chết đánh gục.
3/ Bằng cách so sánh là so sánh mình với những hạn người có danh vọng, công đức, sức mạnh, thần thông, trí tuệ với đức Phật Độc giác và đức Phật toàn giác. Những vị có tài năng đức hạnh, sự nghiệp và công hạnh cao cả, chung cuộc cũng phải tuân theo luật vô thường, không thoát khỏi cái chết. Thế thì, chắc chắn cái chết cũng sẽ đến với ta như đã đến với các vị ấy.
4/ Thân thể bị san sẻ với nhiều chúng sinh, nghĩa là thân thể của ta có nhiều chúng sinh cư trú, mà luận chủ cho là có tám mươi gia đình vi trùng, sống bám vào thân ta từ ngoài gia cho đến thân xương tủy.
5/ Mạng sống mong manh là mạng sống con người liên quan mật thiết với những yếu tố khác nhau để được tồn tại 
một cách tạm bợ. Nếu khi thở vào mà không thở ra, khi nóng lạnh bất hòa, khi bốn đại mâu thuẫn nhau, hay không được tiếp tế thức ăn, thì mạng sống liền kết thúc.
6/ Không tướng, nghĩa là có tính cách bấp bênh, không thể định trước được. Người ta không thể biết trước là mình chết vì bệnh gì, chừng nào chết, thọ bao nhiêu tuổi, và sẽ chết tại nơi nào. Đó là sự vô tướng hay tính cách bất định của cái chết.
7/ Sự giới hạn của đời người là mạng sống con người tối đa cũng cỡ độ trên  trăm tuổi, nhưng mấy ai sống đến tuổi đó, có người chỉ sống được 70, 50, 20 v.v… Thậm chí có người từ giã cuộc đời từ lúc còn nằm trên nôi. Đó là sự giới hạn của đời sống.
8/ Sự ngắn ngủi trong sát na, nghĩa là đời của chúng sinh vô cùng ngắn ngủi chỉ trong khoảng một niệm. Như cái bánh xe khi lăn chỉ nghỉ trên một điểm (điểm tiếp giáp với đất). Mạng sống chúng sinh cũng chỉ trong khoảnh khắc, khi niệm ấy qua đi, chúng sinh ấy được coi như đã kết thúc. Đó là niệm chết theo nghĩa sự ngắn ngủi trong sát na.
Tóm lại, khi hành giả tưởng niệm về sự chết bằng một trong tám cách nói trên, tâm vị ấy sẽ an trú trong chánh niệm, những triền cái bị áp đảo, và những thiền chi xuất hiện. Vị ấy sẽ không còn tham luyến đối với các hữu, không còn bám víu vào đời sống, không bị cấu uế chi phối, tướng vô thường dần dần phát triển trong tâm. Nhờ đó, khi chết vị ấy chết một cách tỉnh táo, không vọng tưởng. Trong khi chúng sinh chưa tu tập niệm chết thường niệm chết thường là nạn nhân của hãi hung kinh sợ,   
bối rối dữ dội vào lúc chết. Khác hẳn những chúng sinh ấy, người tu tập niệm chết dù không đạt được bất tử ngay trong hiện tại, ít ra cũng hướng đến một cảnh giới tốt đẹp khi thân hoại mạng chung.

2. NIỆM THÂN HAY THÂN HÀNH NIỆM

Pháp môn thân hành niệm này do đấng Đạu Giác khám phá và công bố để cho các đệ tử dùng làm một đề tài thiền quán. Trước khi Phật phát hiện, trong hành ngũ ngoại đạo chưa hề có pháp môn này. Những ai tu tập pháp thiền này sẽ được lợi ích như đoạn kinh mô tả: “Hỡi các tỳ kheo, ai thưởng thức thân hành niệm, người ấy nếm vị bất tử, ai không thưởng thức thân hành niệm, người ấy không được nến vị bất tử.” (A. I, 45)
Thông thường pháp quán thân niệm gồm có mười bốn đề mục: Niệm hơi thở (sẽ xếp thành mục riêng); nói về thế ngồi; các loại tỉnh giác; về pháp quán bất tịnh; quán tứ đại; và về chín pháp quán tử thi nơi nghĩa địa “đề mục này đã được nói ở trước”.
Ở đây, chủ yếu đề cập đến 32 vật bất tịnh như kinh văn mô tả: “Lại nữa, này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo quán sát thân này, từ dưới bàn chân trở lên cho đến đỉnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này đầy tóc, lông, móng, răng, da, thịt, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, phân, mật, đàm, niêm dịch, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mũi, nước khớp xương, nước tiểu vào não.” (M III, 90)
Ba mươi hai vật này được xếp thành sáu nhóm như sau:
- Nhóm một (tóc lông), gồm năm thứ: tóc, lông, móng, răng, da.
- Nhóm hai (thịt xương), gồm năm thứ: thịt, gân, xương, tủy, thận.
- Nhóm ba (tim phổi), gồm năm thứ: tim. Gan, hoành cách mô, lá lách, phổi.
- Nhóm bốn (ruột rão), gồm năm thứ: ruột nôn, màng ruột, mỡ da, phân, não.
- Nhóm năm (máu mủ), gồm sáu thứ: mật, đàm, nủ, máu, mồ hôi, mỡ.
- Nhóm sáu (nước tiểu), gồm sáu thứ: nước mắt, nước mũi, nước miếng, niêm dịch, nước khớp xương, nước tiểu.
Ở đây chỉ kể ba mươi hai vật bất tịnh và chia thành sáu nhóm; nhưng các luận điển của Bắc truyền được kể thành ba mươi sáu vật, và chia thành sáu nhóm:
Nhóm I gồm có mười hai thứ ở ngoài thân là: tóc, lông, móng, răng, ghèn, nước mắt, nước mũi, nước bọt, phân, nước tiểu, cáu bẩn, mồ hôi.
Nhóm II gồm có mười hai thứ ở trong thân là: da, da non, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, lớp mỡ da, mỡ, óc, màng bọc gân thịt.
Nhóm III gồm có mười hai thứ nằm sâu trong thân là: gan, mật, ruột, dạ dày, lá lách, thận, tim, phổi, bàng quang, mề phân, đờm đỏ, đờm trắng16.
______________________
16 Kinh Đại Bát Niết Bàn Đại thừa, quyển 24. Đại Sơ Diễn Nghĩa Sao, quyển 30.
Một hành giả muốn tu tập đề mục thiền này, trước hết phải đến thụ mục giáo với một vi thầy đã có kinh nghiệm tu tập về nó. Vị thầy chỉ cần dạy cho hành giả bảy điều thiện xảo để áp dụng cho việc tu tập như sau:
1/ Học thuộc tên gọi của các vật;
2/ Làm cho nó thuộc nằm long;
3/ Biết rõ màu sắc của mỗi vật;
4/ Biết rõ phương hướng;
5/ Biết rõ phương hướng;
6/ Biết rõ vị trí;
7/ Biết rõ giới hạn.
Đó là bảy thiện xảo mà một hành giả muốn tu tập về quán tưởng 32 vật bất tịnh trước hết phải học tập. Tiếp đến vị thầy cần phải hướng dẫn về mười thiện xảo trong việc chú tâm như sau: 1/ Về thứ tư; 2/ Không quá nhanh; 3/ Không quá chậm; 4/ Tránh phân tâm; 5/ Vượt qua khái niệm; 6/ Lần lượt loại bỏ; 7/ Về định; 8/ -10/ Về bản kinh trình bày rõ vấn đề trên.
Nói chung, hành giả khi bắt đầu học thuộc phải nhớ rõ thứ tự của từng vật; khi khảo sát không nên quá nhanh, cũng không được quá chậm; vì nhanh hay chậm đều làm cho vật ấy không hiện rõ ràng. Đồng thời phải chú tâm không được để tâm bị phân tán trong những đối tượng bên ngoài. Khi tâm phân tán thì thiền định bị thối thất. Tiếp đến là vượt qua khái niệm, nghĩa là phải quên tên gọi của chúng mà chú trọng khía cạnh ghê tỏm của chúng. Thế rồi, cần lần lượt loại bỏ những phần nào không hiên rõ. Nhờ đó mà hành giả phát sinh định tâm. Nhưng hành giả
phải biết cách điều hòa mới đạt được kết quả tốt nhất. Nếu một Tỳ kheo tu tập tăng thượng tâm mà chỉ tác ý đến tướng định, thì tâm dễ trở nên giải đãi. Trái lại nếu tinh tấn quá mức, thì cũng dễ sinh ra trạo cử. Thế nhưng, nếu chỉ tác ý đến tưởng xả, thì tâm cũng không tập trung đúng mức để diệt trừ các lậu hoặc. Về ba bản kinh: Ba bản tính này chủ yếu lý giải về sự khéo léo trong cách tu tập pháp thiền kể trên, như được diễn tả: “Này các Tỳ kheo, như một người thợ vàng thiện xảo sửa soạn lò bệ, đốt lò và đổ vàng thô vào đó để luyện, thì vị ấy thỉnh thoảng thụt bệ, thỉnh thoảng rưới nước, thỉnh thoảng ngồi canh chừng. Nếu người thợ vàng ấy chỉ có một thụt ống bệ vàng sẽ cháy; nếu chỉ có một bệ rưới nước, thì vàng sẽ nguội lạnh; và nếu chỉ ngồi nhìn mãi thì vàng không được tôi luyện đúng mức. Nhưng nếu vị ấy thỉnh thoảng thụt bệ, thỉnh thoảng rưới nước, thỉnh thoảng ngồi canh chừng thì vàng trở sẽ trở nên nhu nhuyến, dễ sử dụng, tươi sáng không vỡ bể và dễ uống nắn, muốn làm đồ trang sức như dây chuyền, kiền vàng đều làm được dễ dàng.
Cúng vậy, này các Tỳ kheo, có ba tướng mà Tỳ kheo tu tập tảng thượng tâm cần phải thỉnh thoảng tác ý… thì tâm vị ấy trở nên nhu nhuyến, dễ sử dụng và tập trung đúng mức để diệt trừ lậu hoặc. Vị ấy sẽ có khả năng chứng đắc bất cứ trạng thái nào mà vị ấy mong muốn chứng đắc nhờ vào trí tuệ.” (A. I, 256)

3.BÀN VỀ CHI TIẾT VỀ 32 UẾ VẬT
Khi khởi sự tu tập, trước hết hành giả hãy khảo sát đối tượng thứ nhất của ba mươi hai uế vật, tức là tóc
v.v… Phương pháp khảo sát là dựa vào năm yếu tố đã đề cập trên, tức là: màu sắc, hình dáng, phương hướng, xuất xứ và giới hạn của nó.
Trước hết, về màu sắc của tóc, bình thường tóc có màu đen, ngoại trừ vài trường hợp có những màu sắc khác.
- Về hình dáng, tóc có hình ống dài.
- Về phương hướng, chúng ở phía trên.
- Về xuất xứ, chúng ở trong lớp da sát lớp da bao bọc cái sọ.
- Về giới hạn, ở hai bên chúng là hai vành tai, phía trước là cái trán, và phía sau là cái gáy.
Nói chung, chủ yếu của phương pháp khảo sát là làm nổi bật tính chất bất tịnh của chúng.
Hành giả lần lượt khảo sát 31 vật còn lại cũng theo phương cách vừa kể. Nhưng ở đây, chúng ta cũng nên ghi nhận vài vật cụ thể mà luận chủ đã khảo sát tỉ mỉ để hiểu rõ và đối chiếu với y học hiện đại:
Chẳng hạn về răng, luận chủ bảo rằng từ răng cửa cho đến răng cùng được chia làm bốn loại: từ loại răng một chân, đến hai chân, ba chân và cuối cùng là bốn chân.
Về xương có tất cả 300 xương, bao gồm 64 đốt xương chân, 64 xương sụn phụ thuộc vào thịt, 18 xương sống, 24 xương sường (gồm cả hai bên), 14 xương ngực, 7 xương cổ v.v…; cộng tất cả thành số lượng kể trên.
Về quả tim, luận chủ bảo: ở người có trí tuệ trái tim hơi rộng, còn ở người không có trí tuệ, nó chỉ có một cái đài hoa sen.
Về mật, gồm có mật tại chỗ và mật luân lưu. Mật luân lưu rải ra như một giọt dầu lan trên mặt nước khắp cả châu thân, từ tóc, lông v.v… Khi túi mật bị xáo trộn, sinh vật sẽ nổi điên khùng, mất hết tàm quí, và làm những việc không suy nghĩ.
Về đàm, nó có màu trắng, khi thức ăn rơi xuống bao tử lớp đàm sẽ phủ lên trên giống như nắp đậy thùng phân. Nếu đàm yếu, thì bao tử trở nên hôi hám ghê tỏm vì mùi phân hay mùi trứng thối.
Về máu: máu của người có tính tham thì màu đỏ; tánh sân thì màu đên; tánh si thì giống như nước rửa thịt; máu của người hay suy nghĩ thì giống như canh đậm màu; ở người có tánh tình thì giống như hoa màu vàng. Ở người có tánh tuệ thì trong sáng, không vẩn đục. Đó là trạng thái của máu tùy theo tâm tính của mỗi hạng người.
Về nước ở khớp xương: đây là chất nhờn ở trong những khớp xương nơi cơ thể. Nó có nhiệm vụ làm cho trơn khớp. Nếu chất nước nầy thiếu hụt thì một người đi đứng, cử động rất vất vả, làm cho tứ chi bị đau nhức.
Khi hành giả chú tâm quan sát về màu sắc, hình dáng, phương hướng, trú xứ và ranh giới của 32 nầy cho đến lúc dù mắt không trông thấy, chúng vẫn hiện rõ trong tâm. Đó là sự tu tập về học tướng đã nhuần nhuyễn, rồi phát triển tính chất ghê tỏm của chúng làm cho tâm cảm thấy nhàm chán, đó là tợ tướng xuất hiện. Khi hành giả khai triển được tợ tướng, làm cho nó rõ ràng, thì định tướng sẽ khởi lên. Nhưng, nên nhớ rằng pháp quán về 32 vật bất tịnh này chỉ ở trong lãnh vực sơ thiền, chứ không có trong các tầng thiền cao hơn.
3. NIỆM TỨC HAY NIỆM HƠI THỞ
Bây giờ đến phần mô tả sự tu tập tu niệm hơi thở kể như một đề mục thiền. Đề tài này được Thế Tôn trình bày cặn kẽ thành mười sáu công đoạn như sau: Nầy các Tỳ kheo, thế nào là niệm hơi thở được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ đưa đến an lạc, loại trừ các nhiễm ô, làm cho tịnh chỉ các tư duy bất thiện khi chúng sinh khởi lên? Ở đây, nầy các Tỳ kheo, một Tỳ kheo đi đến khu rừng, hay đến một gốc cây, hoặc ngôi nhà trống, ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú niệm trước mặt, luôn tỉnh giác, vị ấy thở vào thở ra:
1. Khi thở vô dài, vị ấy biết “Tôi thở vô dài”. Khi thở ra dài, vị ấy biết “Tôi thở ra dài”.
2. Khi thở vô ngắn, vị ấy biết “Tôi thở vô ngắn”. Khi thở ra ngắn, vị ấy biết “Tôi thở ra ngắn”.
3. Vị ấy tập “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”.
4. Vị ấy tập “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”.
5. Vị ấy tập “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra”.
6. Vị ấy tập “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra”.
7. Vị ấy tập “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Cảm giác tâm hành, tôi sẽ trở ra”.
8. Vị ấy tập “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra”.  
9. Vị ấy tập “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra”.
10. Vị ấy tập “Khiến tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Khiến tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra”.
11. Vị ấy tập “Khiến tâm cởi mở, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Khiến tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra”.
12. Vị ấy tập “Khiến tâm cởi mở, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”.
13. Vị ấy tập “Quán vô thường, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán vô thường, tôi sẽ thở ra”.
14. Vị ấy tập “Quán tan hoại, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán tan hoại, tôi sẽ thở ra”.
15. Vị ấy tập “Quán tịch diệt, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán tịch diệt, tôi sẽ thở ra”.
16. Vị ấy tập “Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập “Quán tù bỏ, tôi sẽ thở ra”.17

4. KHAI TRIỂN ĐỀ TÀI THEO BỐN NIỆM XỨ

a. Quán niệm thân thể nơi thân thể
“Hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể bằng cách áp dụng bốn đề mục đầu (như trên), để tu tập như sau: “Tôi có ý thức rõ rệt, về trọn cả hơi thở mà tôi đang hít vào. Tôi có ý thức về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở ra. Tôi đang hít vào và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng. Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng”. Cũng
________________________
17 Tương Ưng V, 321- 2
như khi quay một vòng dài, người thợ tiện khéo tay ý thức rằng mình đang xoay một vòng dài, và khi xoay một vòng ngắn, ý thức rằng mình đang xoay một vòng ngắn. Người hành giả mỗi khi hít vào một hơi dài. Mỗi khi thở ra một hơi dài, ý thức rằng mình đang thở ra một hơi dài. Mỗi khi hít vào một hơi ngắn, ý thức rằng mình đang hít vào một hơi ngắn. Mỗi khi thở ra một hơi ngắn, ý thức mình đang thở ra một hơi ngắn. Người ấy tự mình tập luyện như sau: “Tôi cso ý thức tõ rệt về trọn cả hơi thở mà tôi đang thở vào. Tôi có ý thức về cả trọn một hơi thở mà tôi đang thở ra. Tôi đang thở vào và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng. Tôi đang thở ra và làm cho sự điều hành trong thân thể tôi trở nên tĩnh lặng”. Cứ như thế, hành giả sống thường trực trong sự quán niệm thân thể trong thân thể, hoặc quán niệm bên trong lẫn bên ngoài. Người ấy sống trong sự thường trực quán niệm quá trình sinh ra khởi thân thể. Hay người đó quán niệm “có thân thể đây”, để quán chiếu và ý thức được sựu có mặt sự có mặt của thân thể, và như vậy, người ấy sống một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Đó là phương pháp quán niệm thân thể nơi thân thể.

b. Quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ
Hành giả quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ bằng cách vừa theo dõi hơi thở, từ 5 đến 8 đã nói ở trên, vừa ý thức mỗi khi có một cảm thọ khoái lạc: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc”. Mỗi khi có một cảm thọ khổ đau, người
ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau”. Mỗi khi có một cảm thọ không khoái lạc, cũng không khổ đau, người ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ không khoái lạc cũng không khổ đau”. Khi có một cảm thọ khoái lạc vật chất, người ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc vật chất”. Khi có một cảm thọ khoái lạc tinh thần, người ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khoái lạc tinh tinh thần”. Khi có một cảm thọ khổ đau vật chất, người ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ khổ đau vật chất”. Khi có một cảm thọ khổ đau tinh thần, người ấy ý thức thần: “Ta đang có một cảm thọ đau khổ tinh thần”. Khi có một cảm thọ vật chất không khoái lạc cũng không khổ đau, người ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ vật chất không khoái lạc, cũng không khổ đau”. Khi có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc, cũng không khổ đau, người ấy ý thức rằng: “Ta đang có một cảm thọ tinh thần không khoái lạc cũng không khổ đau”. Cứ như thế, hành giả trong sự thường trực quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài cảm thọ ấy; hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài cảm thọ ấy. Người ấy sống trong sự thường trực quán niệm quá trình sinh khởi cảm thọ hay quá trình hủy diệt cảm thọ. Hoặc người quán niệm: “có cảm thọ đây”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của cảm thọ đó; và như thế, người đó sống một cách tự nhiên, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Đó là phương pháp quán niệm cảm thọ nơi cảm thọ của một thiền quả.
c. Quán niệm tâm thức nơi tâm thức
Hành giả quán niệm tâm thức nơi tâm thức bằng cách kết hợp với các đề mục hơi thở (từ 9 đến 12) như sau: “Mỗi khi tâm thức có tham dục, người ấy ý thức là tâm thức mình có tham dục. Mỗi khi tâm thức không có tham dục, người ấy ý thức là tâm thức mình không có tham dục. Mỗi khi tâm thức không có tham dục, người ấy ý thức và tâm thức mình không có tham dục. Mỗi khi tâm thức có sân hận, người ấy ý thức là tâm thức mình có sân hận. Mỗi khi tâm thức không có sân hận, người ấy ý thức là tâm thức mình không có sân hận. Mỗi khi tâm thức si mê, người ấy ý thức là tâm thức mình ai mê. Mỗi khi tâm thức không si mê, người ấy ý thức là tâm thức mình không si mê. Mỗi khi tâm thức có thu nhiếp, người ấy ý thức là tâm thức mình có thu nhiếp. Mỗi khi tâm ý thức trở thành khoáng đạt người ấy ý thức là tâm thức mình trở thành khoáng đạt. Mỗi khi tâm thức mình trở thành hạn hẹp, người ấy ý thức là tâm thức mình trở nên hạn hẹp. Mỗi khi tâm thức đạt đến trạng thái cao nhất, người ấy ý thức rằng tâm thức mình đạt đến trạng thái cao nhất. Mỗi khi tâm thức có định người ấy ý thức tâm thức mình có định. Mỗi khi tâm thức mình có định, hành giải ý thức rằng tâm thức mình không có định. Mỗi khi tâm thức mình giải thoát, hành giả ý thức rằng tâm thức mình giải thoát. Mỗi khi tâm thức mình không giải thoát, hành giả ý thức rằng tâm thức mình không giải thoát.
Cứ như thế, hành giả sống trong sự thường trực quán niệm nơi tâm thức, hoặc quá niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài tâm thức ấy, hoặc quán niệm bên trong lẫn bên ngoài. Người ấy sống trong sự thường
trực quán niệm quá trình sinh khởi của tâm thức hay quá trình hủy diệt của tâm thức, hoặc cả quá trình sinh khởi lẫn hủy diệt của tâm thức. Hoặc người ấy quán niệm: “có tâm thức đấy”, đủ để quán chiếu và ý thức được sự có mặt của tâm thức; và như vậy, người ấy sống một cách tự do, không bị thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Đó là phương pháp quán niệm thức nơi tâm thức của một thiền giả dựa trên hơi thở”.
d. Quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức (quán pháp trên các pháp)
Hành giả quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức qua hơi thở (từ 13 đên 16 đã nói ở trên) về 5 hiện tượng ngăn che (từ 5 triền cái) như sau:
1. Khi có ái dục, hành giả ý thức rằng mình có ái dục. Khi không có ái dục, hành giả ý thức rằng mình không có ái dục. Khi một niềm ái dục bắt đầu sinh khởi, hành giả ý thức được sự sinh khởi ấy. Khi một niệm ái dục đã sinh, đang được khử diệt, hành giả ý thức được sự khử diệt ấy. Khi một niệm ái dục đã được khởi diệt, không còn có thể tái sinh nữa, hành giả cũng ý thức về điều đó.
2.Khi có sân hận, hành giả ý thức rằng mình có sân hận. Khi không có sân hận, hành giả ý thức rằng mình không có sân hận. Khi một niệm sân hận bắt đầu sinh khởi, hành giả ý thức được sự sinh khởi ấy. Khi một niệm sân hận đã sinh, dạng được trừ diệt, hành giả ý thức được sự trừ diệt ấy. Khi một niệm sân hận đã được trừ diệt không còn có thể tái sinh được nữa, hành giả cũng ý thức về điều đó.
3.Khi có mê muội và buồn ngủ, hành giả ý thức rằng mình có mê muội và buồn ngủ. Khi không có mê muội và buồn ngủ, hành giả ý thức rằng mình không có mê muội và buồn ngủ. Khi sự mê muội và buồn ngủ bắt đấu sinh khởi, hành giả ý thức được sự sinh khởi ấy. Khi sự mê muội và buồn ngủ đang được khử diệt, hành giả ý thức được sự khử diệt ấy. Khi sự mê muội và buồn ngủ đã được khử diệt không còn có thể tái sinh được nữa, hành giả cũng ý thức về điều đó.
4. Khi có dao động bất an (trạo) và hối hận (hối), hành giả ý thức rằng mình có dao động bất an và hối hận. Khi không có dao động bất an và hối hận, hành giả ý thức rằng mình không có dao động bất an và hối hận. Khi dao động bất an và hối hận phát sinh, hành giả ý thức rằng dao động, bất an và hối hận vừa phát sinh. Khi dao động, bất an và hối hận đang được khử diệt. Khi dao động bất an và hối hận đã được khử diệt không còn có thể tái sinh được nữa, hành giả cũng có thể tái sinh được nữa, hành giả cũng ý thức về điều đó.
5. Khi có mỗi nghi ngờ, hành giả ý thức rằng mình đang có nghi ngờ. Khi không có nghi ngờ, hành giả ý thức rằng mình không có nghi ngờ. Khi sự nghi ngờ bất đầu sinh khởi, hành giả ý thức được sự sinh khởi đó. Khi sự nghi ngờ đã phát sinh và đang được khử diệt, hành giả đã ý thức được sựu khử diệt đó. Khi sự nghi ngờ đã được khử diệt và không còn tái sinh được nữa, hành giả cũng ý thức được điều đó.
Cứ như thế, hành giả sống trong  sự thường trực quán
niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức, hoặc quán niệm bên trong, hoặc quán niệm bên ngoài; hoặc quán niệm cả bên trong lẫn bên ngoài đối tượng tâm thức ấy. Người ấy sống thường trực trong sự quán niệm quá trình sinh khởi lẫn quá trình hủy diệt. Hoặc người ấy quán niệm: “Có đối tượng tâm thức đây”, và như vậy, người ấy sống một cách tự do, không bị bất cứ một thứ gì trong cuộc đời làm vướng bận. Đó là quán niệm đối tượng tâm thức nơi đối tượng tâm thức của một thiền giả, lấy hơi thở làm căn cứ”18.
Hành giả muốn tu tập pháp môn niệm hơi thở thông qua bốn niệm xứ cần phải tìm một nơi yên tĩnh cách xa mọi tiếng động, vì tiếng động là cây gai đối với pháp thiền này. Hơn nữa, luận chủ còn cho rằng trú xứ còn liên quan đến thời tiết và tính tình của mỗi người. Chẵn hạn về mùa nóng, thích hợp nơi núi rừng. Về mùa rét, thích hợp dưới gốc cây; về mùa mưa, thích hợp nơi khoảng trống. Lại nữa, đối với người đàm thạnh, thì thích hợp nơi núi rừng; đối với người mật thạnh, thì thích hợp dưới gốc cây; đối với người phong thạnh thì thích hợp chỗ khoảng trống. Đối với người tánh si, thích ở nơi rừng; đối với người tánh sân, thích hợp gốc cây; đối với người tánh tham, thích hợp khoảng trống.
Bản luận có nêu một ví dụ về niệm hơi thở: Cũng
____________________
18 Thích Nhất Hạnh. ,Phép lạ của sự tĩnh thức, An Tiêm xb. 1976, tr. 75-83
như một con khỉ đang chạy lăng xăng, muốn cho nó nằm yên một chỗ, cần phải dùng một sợi dây buộc nó vào một cây cọc. Con khỉ chỉ cho tâm thức chúng ta, sợi dây chỉ cho niệm, và cây cọc chỉ cho hơi thở.
Đông thời bảng luận cũng cho biết hơi thở không có ở các trường hợp:
- Một em bé còn nằm trong bụng mẹ,
- Một người đã chết,
- Những người đã đắc thiền thứ tư,
- Những người sinh vào sắc giới hoặc vô sắc giới,
- Và những người đã đắc Diệt tận định.

Luận chủ bảo rằng, đề mục thiền niệm hơi thở nầy rất khó tu tập. Đây là lãnh vực mà chỉ có tâm của chư Phật, các bật Duyên Giác và Thanh văn mới quen thuộc, còn những người tầm thường thật không dễ dàng gì khi tu tập pháp môn nầy. Hơn nữa, những ai đắc quả do tu tập pháp thiền nầy thì có thể định trước được thời điểm chết của mình.
Tóm lại, pháp niệm hơi thở với mười sáu đề mục trên đây nếu được tu tập sẽ đưa đến kết quả lớn, lợi ích lớn, như Thế Tôn đã dạy: “Nầy các Tỳ kheo, niệm hơi thở khi được tu tập, được làm cho sung mãn, thì bốn niệm xứ được viên mãn. Bốn niệm xứ khi được tu tập, được làm cho sung mãn thì bảy giác chi sẽ viên mãn. Bảy giác chi được tu tập, được làm cho viên mãn, sẽ viên mãn minh kiến và giải thoát”. (M. III. 82)

5. NIỆM DIỆT (Niết-bàn)
Một người muốn tu tập niệm diệt, hãy đi vào độc cư
để tưởng đến những đức tính đặc biệt của sự tịch diệt (Niết-bàn). Đó là sự ly tham, vì ly tham được xem là yếu tố tối thượng trong tất cả pháp hữu vi cũng như vô vi, là nhiếp phục kiêu mạn, nhổ tận gốc rể của khát ái, vì khát ái là yếu tố gắn bó bốn loài chúng sinh, 5 thú, 7 thức và 9 cõi, là chấm dứt tái sinh đạt đến Niết-bàn. Đặc tính Niết-bàn này được Thế Tôn mô tả như sau: “Nầy các Tỳ kheo, ta sẽ dạy cho các ngươi cái vô vi, chân lý, bỉ ngạn, cái khó thấy, cái bất hoại, cái trường cửu, cái không biến dị, cái bất tử, cái hiền thiện, cái an ổn, cái kỳ diệu, cái nguyên vẹn, cái không sầu, cái thanh tịnh, hòn đảo, chỗ trú”. (S. IV, 360-72).
Tóm lại, một Tỳ kheo chuyên tâm tưởng đến tịch diệt sẽ ngủ trong an lạc và thức trong an lạc, các căn tịch tịnh, tâm được bình an, vị ấy có tàm quí, tin tưởng, quyết định đạt đến đạo quả cao cả, và được sự tôn trọng cung kính của những vị đồng phạm hạnh. Và dù cho vị ấy không được quả vị nào cao hơn, ít nhất cũng hướng đến một thiện thú.



 
***
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »