Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 2: Tiểu sử soạn và dịch giả (Trang 9 - 16)

 
TIỂU SỬ SOẠN VÀ DỊCH GIẢ



PHẬT ÂM (BUDDHAGHOSA)

Còn gọi là Phật Minh, Giác Âm, Phật Đà Cù Sa, Người ở Phật-đà-già da, nước Ma Kiệt Đà ( Magadaha), thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V. Sư xuất thân trong gia đình Bà-la-môn, ban đầu học Phệ-đà, tinh thông Du-già, Số luận v.v…, về sau, Sư quy y Phật giáo1, tinh thông các kinh điển. Vì mục đích hoằng truyền Phật pháp, rống tiếng của sư tử mà Sư xoạn các chú thích bộ luận Phát Trí ( Nànadaya), luận Thù Thắng Nghĩa
( Atthasàlini ) và luận Pháp Tập.
Vào năm 409 – 432 Tây lịch kỷ nguyên, Sư vượt biển sang Tích Lan, trú tại Đại tự (Mahà vihàra), theo Trưởng lão Tăng-già-ba-la( Sanghapàla thera) nghiên cứu thánh điển tang trữ tại chùa ấy, rồi đem dịch sang tiếng pàli, và soạn Thanh Tịnh Đạo luận ( Visddhimagga), Thiện
 
_________________
 1  Xuất gia tại một ngôi Tự viện gần Bồ Đề Đạo Tràng, do người Tích Lan tạo lập, thọ giáo Trưởng lã Ly Bà Đa ( Revata), học tập Tam tạng Pàli.
Kiến Luật chú tự ( Samantapàsàdikà) chú giải Luật tạng2  v.v…Đồng thời, Sư đem giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ ra soạn thuật thành một hệ thống hoàn chỉnh. Trong đó, có thể nói Thanh Tịnh Đạo Luận là một tác phẩm toát yếu toàn bộ Tam tạng kinh điển và Luận sớ. Về sau, Sư đem bốn bộ kinh Nikàya dịch sang tiếng Ba-lợi (Pàli), và soạn chú sớ tại chùa Kiền Đà La (Granthakara parivena), xứ A-nỗ-lạp-đạt-phổ-lạp (Anuràdhapura). Giải thích Trường Bộ kinh thì có Cát Tường Duyệt Ý Luận (Sumangalavilàsinì); giải thích Trung Bộ kinh thì có Phá Trừ Nghi Chướng Luận (Papancasùdanì); giải thích Tương Ưng Bộ kinh thì có Hiển Dương Tâm Nghĩa Luận (Sàrtthappakàsinì); giải thích Tăng Chi Bộ kinh thì có Mãn Túc Hi Cầu Luận (Manorathapùranì). Đến khi ấy Tam Tạng Ba Lợi mới cực kỳ hoàn bị.
Những chú thích của Sư không chỉ hạn cuộc chữ nào nghĩa nấy của bản văn, mà bao quát cả các loại giải thích về lịch sử, địa lý, thiên văn, âm nhạc, thực vật, động vật v.v…, đặc biệt, đối với phong tục tập quán của người Ấn Độ cổ đại, Sư còn làm thêm ký thuật liên quan đến những văn hiến trọng yếu dùng để nghiên cứu về Ấn Độ. Người Tích Lan ca ngợi học vấn uyên bác của Sư và cung kính Sư như là Bồ tát Di Lặc tái thế. Lúc cuối đời, Sư trở về cố quốc an hưởng tuổi già. Nhưng trong lịch sử Phật giáo Miến Điện bảo Sư là người Miến Điện,
 

_____________________
2 Sách này còn có tên là Thiện Kiến luật Tỳ Bà Sa; Thiện Kiến luận
khoảng năm 400, từ nước Kim Địa3  vào Tích Lan du học, rồi 3 năm sau, đem kinh điển trở về phục hưng Phật giáo Miến Điện4 .

NÀNAMOLI THERA (Na-na-ma-lợi trưởng lão) [1905-1960]

Tôn giả Nànamoli sinh ngày 25-6-1905 tại Anh quốc, thế danh là Osbert Moore (Áo-tư –bá-đặc-ma-nhĩ). Thiếu thời, Tôn giả từng học và tốt nghiệp tại Ngưu Tân Ái Tăc Đặc Học Viện. Trong lúc thế chiến thứ 2 xảy ra, Tôn giả phục vụ trong hàng ngũ Lục quân Anh, và đóng quân tại Ý Đại Lợi. Do nhân duyên dun rủi, Tôn giả cùng người bạn là Harold Musson (Cáp-la-đức Mặc Tốn), đọc được một cuốn sách viết về Phật giáo của người Ý là J.Evolav(Nghệ-a-na); vì thế, hai người phát tâm quy hướng Phật giáo.
Sau khi đệ nhị thế chiến kết thúc, Sư trở về nước, đến năm 1949 Sư cùng Mặc Tốn quyết tâm sang Tích Lan nghiên cứu Phật học, và may mắn được một trưởng lão người Đức là Nại-na-đề-lộ-biện hướng dẫn gia nhập Tăng đoàn, dưới quyền điều khiển của Đại đức Đại-na-nhã-biện-tì-trí-la-na-na. Sang năm sau (1950), hai người thọ Cụ túc với Đại-na-nhã-biện nên tôn vị này làm thầy, và được pháp hiệu là Nànamoli.
Đến năm 49 tuổi (1954), Na-na-ma-lợi chuyên tâm



____________________
3Kim Địa: ngày nay nằm về hạ lưu Miến Điện cho đến bán đảo Mã-lai-á.
4Căn bản Phật Điển nghiên cứu; The Life and Word of Buddhaghosa. (PQĐTĐ, tr 2643 a-c).
nghiên cứu ngôn ngữ Pàli, Tân-cáp-lợi và Miến Điện. Không bao lâu sau đó, Sư rất tinh thông các ngôn ngữ nầy, nhờ vậy có điều kiện nghiên cứu sâu về Phật pháp, về trở thành một học giả uyên thâm. Từ đó, Sư cộng tác với Hiệp hội Thánh điển Pàli để phiên dịch các kinh luận Pàli sau đây sang Anh văn:

1. Thanh Tịnh Đạo luận (Visuddhimagga);

2. Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidà-magga)
3. Chỉ Đạo luận (Nettipakarana);
4. Tạng luận Thích (Pitakopadesa).


Ngoài ra, Sư còn viết về Lịch sử đức Phật và dịch kinh Trung bộ. Chừng ấy công trình phiên dich cũng đủ chứng minh trình độ Phật học uyên thâm của Sư.
Sư sống rất giản dị, tuân thủ giới luật một cách tinh nghiêm5. Tính tình hòa nhã, trầm lặng, ít nói, và mỗi lời nói của Sư là lời vàng ngọc, đầy tính chất trí tuệ và truyền cảm. Sư xem việc sinh tử nhẹ như long hồng. Thế nên, trong lúc chiến tranh , đã bao lần đối diện với cái chết, nhưng Sư đều thoát khỏi.
Sư viên tịch năm 1960. Từ lúc xuất gia cho đến lúc xả báo thân, ròng rã 11 năm trời, Sư cống hiến trọn vẹn cho sự nghiệp phiên dịch kinh điển, và truyền bá chánh pháp. Sư mất sớm, thật là một sự tổn thất lớn đối với Phật giáo6.




____________________
5 Trong suốt 11 năm trường, Sư chỉ mặc ròng y vàng, tượng trưng cho sự thanh khiết, vá cũng hiếm khi xỏ chân vào dép.
6 Tây Dương Phật giáo học giả truyện, William Periris soạn bằng Anh văn, Mai Nãi Văn dịch ra Hán văn, xb 1986, tr.73.
LIỄU THAM HAY DIỆP QUÂN (1916-1985)
 
Sư sinh năm 1916, tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, xuất gia lúc còn trẻ, được pháp hiệu là Liễu Tham. Sau đó, Sư tham học với Đại sư Thái Hư tại viện Giáo lý Hán tạng. Năm 1944, gặp cơ duyên thuận tiện, Đại sư cho phép Sư cùng Quang Tông và Bạch Tuệ sang Tích Lan du học. Từ năm 1953-1956, Sư dốc tâm học Anh văn và Pàli văn, đồng thời theo nhà học giả Pàli Bát Nhã Nan Đà (Pannanda) chuyên nghiên cứu Thanh Tịnh Đạo Luận. Thế rồi, Sư đem phần luận văn học được mỗi ngày dịch sang Hán văn. Sang năm 1957, Sư trở về nước mang theo bản Thanh Tịnh Đạo Luận đã dịch, rồi cho ấn hành chừng 100 bản để đáp ứng nhu cầu học Phật của người trong nước. Sau đó, vì hoàn cảnh khó khăn, Sư phải hoàn tục. Đến năm 1978, Sư mới có thì giờ đem bản dịch còn nhiều lầm lẫn trước kia ra hiệu đính, tới năm 1980 thì hoàn chỉnh. Nhân bài phát biểu của Sư đăng trên tạp chí “Lan Khải chi Quang Báo”, các học giả trong nước thấy rõ giá trị của dịch phẩm, nên yêu cầu Sư cho xuất bản. Do vậy, Nhà xuất bản Hoa Vũ đã ấn hành thành 3 tập vào năm 1987.

Sư nổi tiếng thông minh từ bé, đước duyên lành sang Tích Lan du học trong 14 năm (1944-1957). Sau khi về nước, do nghịch cảnh, Sư phải trở về thế tục, nhưng vẫn lấy việc nghiên cứu Phật học và nghiên Phật học và phiên dịch kinh điển làm sự nghiệp. Ngoài bản dịch trên, Sư còn dịch kinh Pháp cú và Nhiếp A Tì Đạt Ma Nghĩa luận thuộc về hệ thống Nam tạng. Sư viên tịch vào năm 1985 tại quê nhà.7


________________________
7 PQĐTĐ, tr. 165. a; Thanh Tịnh Đạo luận, quyển thượng, Đài Loan

LIST OF ABBREVIATIONS USED
(BẢNG TRA CHỮ TẮT)


 
A.Anguttara Nikàya: Kinh Tăng Chi Bộ.
AA. Anguttara Nikàya Atthakathà  (Commentary):
Manorathapùranì: Tăng Chi Bộ Kinh Nghĩa Thích.
Cp. Cariyàpitaka: Hành Tàng.
Dh. Dhammapada Atthakathà (Commentary): Pháp Cú
Thí Dụ.
Dhs. Dhammasanganì: Pháp Tụ Luận.
DhsA. Dhammsanganì Atthakathà (Commentary):
Atthasàlinì: Pháp Tụ Luận Nghĩa Thích.
DhsAA. Dhammasanganì Tìkà (Sub-commentary): Mùla
Tìkà (pt. 1) Dhk. Dhàtukathà: Giới Luận.
D. Dìgha Nikàya Atthakathà (Commentary):
Sumangalavilàsinì: Trường Bộ Kinh Chú Thích.
It. Itivuttaka: Phật Thuyết Như Vậy.
Jà. Jàtaka ( Fausboll’s ed.): Kinh Bản Sinh ( chuện tiền thân).
Kv. Kathàvatthu: Luận Sự.
Mv. Mahàvamsa: Đại Sử.
________________________________________________________________________
Xb. 1987.

M. Majjhima Nikàya: Kinh Trung Bộ.
MA. Majjhima Nikàya Atthakathà (Commentary):
Papancasùdanì: Trung Bộ Kinh Chú Thích.
Miln. Milinda-panhà: Di Lan Đà Vương Vấn Kinh.
Netti. Netti-pakarana: Chỉ Đạo Luận.
NdI. Mahà Niddesa: Đại Nghĩa Thích.
Nd2. Cùla Niddesa (Siamese ed.): Tiểu Nghĩa Thích.
Ps. Patisambhidàmagga Atthakathà  (Commentary): Saddhammappakàsinì (Sinhalese Hewavitarne ed.): Vô Ngại Giải Đạo chú Thích.
Ptn1. Patthàna, Tika Patthàna
Ptn2. Patthàna, Duka    Patthàna ( Siamese and Burmese eds.)
Pm. Paramattha-manjùsà, Visuddhimagga Atthakathà (Commentary) = Mahà Tìkà (Vis. Chs. I to XVII Sinhalese Vidyodaya ed.; Chs. XVIII to XXIII Burmese ed.) Thanh Tịnh Đạo Luận Chú Thích.
Pe. Petakopadesa: Tạng Luận Thích.
Pv. Petavatthu: Ngạ Quỷ Sự.
S. Samyutta Nikàya: Kinh Tương Ưng Bộ.
SA. Samyutta Nikàya Atthakathà ( Commentary): Sàratthappakàsinì: Tương Ưng Bộ Kinh Chú Thích.
Sn. Sutta-nipàta: Kinh Tập.
SnA. Sutta-nipàta Atthakathà ( Commentary): Paramatthajotikà: Kinh Tập Chú Thích.
Thag. Thera-gàthà: Trưởng Lão Tăng Kệ.
Ud. Udàna: Tự Thuyết Kinh.
Vbh. Vibhaíga: Phân Biệt.
VbhA. Vibhaíga Atthakathà (Commentary): Sammohavinodanì: Phân Biệt Chú Thích.
VbhAA. Vibhanga TìKà (Sub-commentary): Mùla-Tìkà (pt. 2)
Vv. Vimàna-vatthu: Thiên Cung Sự.
Vin. i. Vinaya Pitaka (3)- Mahàvagga: Đại Phẩm.
Vin.ii. Vinaya Pitaka (4)- Cùlavagga: Tiểu Phẩm.
Vin. iii. Vinaya Pitaka (1)- Suttavibhanga 1: Kinh Phân Biệt 1.
Vin. iv. Vinaya Pitaka (2)- Suutavibhanga 2: Kinh Phân Biệt 2.
Vin. v. Vinaya Pitaka (5)- Parivàra: Phụ Tùy.
Vis. Visuddhimagga (P.T.S.ed. and Harvard Oriental Series ed.): Thanh Tịnh Đạo Luận.

***
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »