Chương 9
ĐỊNH-MÔ TẢ
A. BỐN LOẠI THỰC PHẨM
Bây giờ, đến phần trình bày sự tu tập bất tịnh tưởng đối với thức ăn. Thông thường, thức ăn được chia thành bốn loại sau đây:
1. Đoàn thực ( thức ăn vật chất)
2. Xúc thực.
3. Tư niệm thực ( hành thực)
4. Thức thực.
Ở đây, thức ăn có công dụng nuôi sống: Đoàn thực nuôi thân thể vật chất. Xúc thực, nuôi ba cảm thọ ( lạc,khổ và bất khổ bất lạc). Hành thực, nuôi sự tái sinh trong ba cõi hữu. Còn Thức thực, nuôi danh sắc vào lúc tái sinh.
Khi có Đoàn thực thì có chấp thủ, đem lại nguy hiểm.
Khi có Xúc thực thì có ái, đem lại nguy hiểm.
Khi có Hành thực thì có tái sinh, đem lại nguy hiểm.
Khi có Thức thực thì có kiết sinh ( nối kết với sự tái sinh) đem lại nguy hiểm.
Trong kinh ví dụ chúng ta phải nhờ thức ăn đoàn thực để nuôi thân xác nầy chẳng khác gì một người phải ăn thịt con mình để vượt qua bãi sa mạc hoang vu20.
Một người muốn tu tập quán bất tịnh về thức ăn, cần phải học thuộc đề mục thiền nây, rồi tìm một nơi vắng vẻ, sống độc cư,để quán tưởng mười khía cạnh bất tịnh của thức ăn sau đay: Ra đi, tìm kiếm, sử dụng,sự tiết lậu, chỗ chứa, vật không tiêu hóa, vật được tiêu hóa, kết quả, sự tuông ra, sự vấy bẩn.
1. Sự ra đi: Một người dù đã xuất gia, sống trong một giáo phái cao cả, vẫn phải cần đến thức ăn để duy trì đời sống.
2. Tìm kiếm: Do vậy, người ấy hằng ngày tay cầm bát đi lang thang từ nhà này đến nhà khác như một kẻ ăn mày, để nhận lấy thức ăn từ những thí chủ hảo tâm.
3. Sử dụng: Nhưng đến lúc sử dụng, thức ăn đã mất hết màu sắc và hương vị nguyên sơ của nó.
4. Sự tiết lậu: Thức ăn ấy khi nuốt khỏi cổ, các dịch vị sẽ tiết ra để tiêu hóa nó, bấy giờ nó đã trở thành một thứ đáng buồn nôn.
5. Chỗ chứa: Nơi chứa đựng nó chẳng khác gì một
___________________
20 Tương ưng II, 98
thùng chứa phân đã mười năm, hoặc sáu, bảy mươi năm không rửa, hoặc sáu, bảy mươi năm không rửa, nếu người ấy sống đến 70-80 tuổi.
1. Không tiêu hóa: Nếu không được tiêu hóa, trộn lẫn với những thức ăn còn lại hôm trước, trở thành một thứ đáng gớm ghiếc, và là nguyên nhân gây ra bệnh hoạn.
2. Được tiêu hóa: Nếu nó được tiêu hóa, nó sẽ sản xuất ra đủ thứ dơ dáy gồm tóc, lông, răng, móng v.v…
3. Kết quả: Khi nó được tiêu hóa, nó sản xuất đủ thứ dơ dáy gồm tóc, lông…, Khi nó không được tiêu hóa thì nó phát sinh một trăm thứ bệnh khởi đầu là bệnh ngứa ngáy…
4. Sự tuôn ra: Khi nuốt vào, nó được nuốt vào cùng với một đám đông tụ hợp vui vầy, nhưng khi tuôn ra, nó được tiết trong quạnh quẽ cô đơn.
5. Sự vấy bẩn: Vào lúc sử dụng nó, hành giả làm bẩn tay, môi, lưỡi, và những thứ nầy trở nên gớm ghiếc, vì dính đầy thức ăn.
Đó là tóm tắt về mười tính chất bất tịnh của thức ăn mà luận chủ đã quảng diễn khá phong phú.
Khi hành giả vận dụng “tầm” và “tứ” quán sát mười khía cạnh bất tịnh như trên, thì tính chất đáng ghê tởm của thức ăn hiện rất rõ nơi hành giả. Nhờ đó, tâm hành giả sẽ dễ dàng tập trung ở định cận hành. Và nếu chưa chứng được mục tiêu bất trong đời nầy, ít nhất vị ấy cũng hướng đến một thiện thú tốt đẹp.
B. BỐN ĐẠI CHỦNG
Những kinh chuyên trình bày về bốn đại gồm có các kinh chủ yếu sau đây: Kinh Đại niệm xứ (Mahàsatipatthàna, D. II, 294), Tượng tích dụ đại kinh
(Mahàhatthipàdùpamà, M. I, 184), Kinh Giáo giới La Hầu La (Ràhulovàda, M. I. 421) và Kinh Giới phân biệt (Dhàtuvibhanga, M.III, 240).
Kinh Đại Niệm xứ dành cho hạng người lợi căn, trình bày vắn tắt phương pháp thiền quán bốn đại chủng như sau: “Nầy các Tỳ kheo, như một đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể, sau khi giết một con bò, và ngồi ở ngã tư đường, xẻ nó ra thành từng miếng, cũng vậy, một Tỳ kheo quán sát thân nầy, dù đặt như thế nào, sửu dụng như thế nào cũng chỉ gồm có bốn đại: Trong thân nầy, đây là địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”. (D.II, 294).
Một cư sĩ hay một Tỳ kheo khi chưa tu tập phương pháp phân tích về tứ đại, thì thường thấy bản thân mình là một con người, một chúng sinh hay một tự ngã; nhưng khi Tỳ kheo ấy đã phân tích thân nầy cặn kẽ, thì cái tưởng về chúng sinh sẽ biến mất, mà chỉ còn thấy một khối vật chất gồm bốn đại chủng mà thôi.
Ngoài bản kinh kể trên mô tả vắn tắt dành cho hạng người lợi căn, ba kinh còn lại trình bày tương đối tỉ mỉ về bốn đại, dành cho hạng người bình thường, như kinh Giới Phân biệt mô tả:
1. Địa đại ở bên trong: “Nầy chư hiền, thế nào là địa đại ở bên trong?- Bất cứ cái gì ở nội thân thuộc cá nhân, thô phù kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương, tủy, thân, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, bao tử, phân và bất cứ vật gì khác, thuộc thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, đây gọi là nội địa giới (M. I.185).
2. Thủy đại ở bên trong: “Và chư hiền, thế nào là thủy giới ở bên trong? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chấp thủ như mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, mỡ da, nước mắt, nước miếng, nước mũi, nước khớp xương, và nước tiểu, và bất cứ thừ gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc nước, thuộc chất lỏng, bị chất lỏng, bị chấp thủ, đây gọi là nội thủy giới (M. I. 187)
3. Hỏa đại ở bên trong: “Và chư hiền, thế nào là nội hỏa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa thuộc chất nóng, bị chấp thủ, cái gì khiến cho thân thể nóng lên, thiêu đốt, biến hoại, cái gì khiến cho những vật được ăn uống, nhai nếm có thể khéo tiêu hóa, hay tất cả những gì khác thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc lửa, thuộc chất nóng, bị chấp thủ; đây gọi là nội hỏa giới (M. I. 188).
4. Phong đại ở bên trong: “Và này chư hiền, thế nào là nội phong giới? Cái gì thuộc về nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc về động tánh, bị chấp thủ, nghĩa là gió thổi lên, gió thổi xuống, gió trong bụng, gió trong ruột, gió thổi qua các chân tay, hởi thở vô, hơi thở ra, hay bất cứ cái gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thuộc gió, thuộc tánh động, bị chấp thủ, đây gọi là nội phong giới (M. I. 188)
Đối với những người lợi căn thì có thể quán sát về tứ đại ngay trong mình như sau:
“Trong thân nầy, cái gì thuộc chất cứng, thô là Địa đại (giới).
Cái gì thuộc chất lỏng, chảy được, làm cho dính liền, là Thủy đại.
Cái gì làm cho chín, làm cho nóng, là Hỏa đại.
Cái gì duy trì hay chuyển động là Phonh đại”.
Nghĩa là quán thân nầy như là tứ đại mà thôi, chứ không phải là một chúng sinh, và không có tự ngã.
Khi hành giả nỗ lực bằng cách đó, thì không bao lâu định cận hành sẽ sinh khởi, được tăng cường bởi tuệ, soi sáng sự phân loại của các đại chủng, nhưng chưa đạt đến định an chỉ, vì các đối tượng của nó là những đặc tính cá biệt.
Thế nhưng, nếu hành giả là hạng người thuộc căn cơ ình thường, thì nên tu tập đề mục thiền nầy theo bốn cách: 1. Lược thuyết các thành phần; 2. Quảng thuyết các thành phần; 3. Lược thuyết về các đặc tình; 4. Quảng thuyết về các đặc tính.
1. Lược thuyết các thành phần ( các thành phần nầy sẽ nói rõ ở phần Quảng thuyết)
Ở đây hành giả phân tích ngắn gọn như sau: “ Cái gì có tính chất kiên cứng, thuộc địa đại, gồm có hai mươi thành phần. Cái gì có tính chất dính liền thuộc thủy đại, gồm mười hai thành phần. Cái gì làm cho chín, thuộc hỏa đại, gồm có bốn thành phần. Cái gì có tính chất duy trì, thuộc phong đại, gồm có sáu thành phần”.
Như vậy, toàn bộ tứ đại gồm có tất cả bốn mươi hai thành phần. Khi hành giả phân tích chúng như vậy, chúng sẽ trở nên rõ rệt, và nhờ tác ý nhiều lần định cận hành sẽ khởi lên nơi hành giả.
2. Quảng thuyết các thành phần
Hành giả phân tích về bốn đại chủng nên dùng ba mươi hai vật bất tịnh làm đối tượng để phân tích. Nhưng điểm khác nhau là ở đây phân tích ba mươi hai vật nầy về phương diện bất tịnh.
Trong ba mươi hai vật này địa đại gồm có hai mươi thành phần: tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột non, ruột già, bao tử, phân, não.
Thủy đại gồm có mười hai thành phần: Mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, mỡ nước, nước mắt, nước dãi, nước mũi, nước khớp xương, nước tiểu.
Hỏa đại có bốn yếu tố: Cái làm cho nóng, cái làm cho chín, cái làm cho biến đổi và cái làm cho tiêu hóa. Cùng lúc hành giả tác ý đến các vật bất tịnh tóc, lông v.v…, cần phải chú tâm đến bốn yếu tố thuộc Hỏa đại như trên.
Phong đại gồm sáu yếu tố: Sự chuyển động đi lên, sự chuyển động đi xuống, sự chuyển động trong bụng, sự chuyển động trong ruột, sự chuyển động ngang tứ chi và hơi thở ra. Đó là cách chú tâm về phong đại theo sáu thành phần: Đồng thời cũng tác ý đến thân thể qua sáu thành phần thuộc phong đại trên đây.
3. lược thuyết về các đặc tính
Nếu đã tác ý về các thành phần của tứ đại như trên, mà chưa đạt được mục đích thì hành giả hãy tác ý một cách tóm lược về các đặc tính của chúng như sau:
“ Cái gì có tính chất cứng là thuộc Địa đại,
Cái gì có tính chất dính liền là thuộc Thủy đại,
Cái gì có tính chất làm cho chín là thuộc Hỏa đại,
Cái gì có tính chất bành trướng là thuộc phong đại.”
Đó là nói sơ lược về các đặc tính của bốn đại.
4. Quảng thuyết về thuyết các đặc tính
Nhưng nếu đề mục thiền ấy vẫn chưa đạt được thành công thì hành giả hãy tác ý một cách tỉ mỉ theo mười ba cách sau đây: a. Về ý nghĩa danh từ; b. Theo từng nhóm; c. Bằng những vi tế; d. Do đặc tính; đ. Do sự phát sinh; e. Về khía cạnh di động; g. Về tính chất khả phân và bất khả phân; h. Về giống và khác; i. Về phân định trong ngoài, k. Về sự bao gồm; 1. Về điều kiện; m. Về sự thiếu phản ứng tâm thức; n. Về sự phân tích các duyên (điều kiện).
a. Về phương diện ý nghĩa: Nếu một cách tổng quát thì bốn đại chủng đều là giới (dhàtu) mang tính chất đau khổ. Nhưng nói theo cách phân biệt thì cái gì trải ra gọi là địa; cái gì trôi chảy gọi là thủy; cái gì làm cho nóng, gọi là hỏa, cái gì chuyển động gọi là phong.
b. Theo từng nhóm: Trong 32 vật bất tịnh được chia thành hai nhóm, nhóm địa đại gồm hai thành phần và nhóm thủy đại gồm mười hai thành phần.
c. Bằng những vi thể: Trong thân ta, địa đại kể như đã nghiền thành bụi nhỏ như cỡ vi trần; nó được kết hợp với thủy đại, được duy trì bằng hỏa đại, và được tăng tưởng nhờ phong đại.
d. Về đặc tính: Địa đại có đặc tính cứng; Thủy đại có đặc tính chảy; Hỏa đại có đặc tính nóng; và Phong đại có đặc tính bành trướng.
đ. Về nguồn gốc phát sinh: Trong 32 vật gồm địa đại và thủy đại là do thời sinh và tâm sinh; hỏa đại làm tiêu hóa thức ăn, là nghiệp sinh; phong đại, tức hơi thở là tâm sinh.
e. Về khía cạnh dị đồng: Bốn đại chủng tuy đặc tính, nhiệm vụ và tướng trạng khác nhau, nhưng chúng cùng có chung một đặc tính là thuộc về sắc pháp.
g. Về tính khả phân và bất khả phân: Bốn đại có thể phân tích riêng theo đặc tính của chúng, đó là tính khả phân; nhưng chúng cùng gồm chung trong bốn phương diện: màu, mùi, vị và dưỡng chất, đó là tính bất khả phân.
h. Về phương diện giống và khác: Mặc dù chúng cùng chung với sắc pháp nhưng hai đại địa và thủy có tính nặng, hai đại hỏa và phong có tính nhẹ. Đó là chỗ khác nhau của chúng.
i. Về phân định trong ngoài: Bốn đại ở nội giới làm cơ sở cho thức tồn tại, còn bốn đại ở ngoại giới thì làm đối tượng cho thức nhận biết.
k. Về sự bao gồm: Địa đại do nghiệp sinh được gồm chung với những đại do nghiệp sinh khác. Cũng thế, những đại do thức sinh được gồm chung với nhau.
l. Về phương diện điều kiện: Địa đại được giữ lại nhờ nước, được duy trì bởi lửa, và bành trướng nhờ phong. Như vậy, các đại đều là nhân duyên cho nhau, đại nầy làm điều kiện cho đại khác tồn tại.
m. Về sự thiếu phản ứng ý thức: Địa đại không biết “ ta là địa đại”, hoặc “ ta là điều kiện cho các đại khác tồn tại”. Đó là tính chất không có phản ứng ý thức của chúng.
n. Về sự phân tích các duyên ( điều kiện): có bốn duyên cho bốn đại chủng, đó là: nghiệp, thức, dưỡng chất, và nhiệt độ ( thời tiết). Nghiệp là sinh duyên cho những gì nghiệp sinh, và là thân y duyên cho những cái còn lại. Thức là sinh duyên cho những gì do thức sinh, và là hậu sinh duyên, hữu duyên, bất ly khứ duyên cho những thứ còn lại. Dưỡng chất và Nhiệt độ cũng tương tự như hai loại trên.
LỢI ÍCH CỦA PHÁP MÔN NÀY
Vị Tỳ kheo chuyên phân tích về bốn đại thì dễ thấu hiểu được tính không của các pháp, do đó có thể đoạn trừ được cái tưởng về chúng sinh, về tự ngã, nhiếp phục được sự sợ hãi, dứt được niệm ưa ghét. Nếu không đạt được Niết bàn hiện tại, thì cũng hướng đến một thiện thú tốt đẹp trong tương lai. Vị nầy thường có được năm viện lợi ích sau đây:
(1). An trú trong giới luật của bậc thánh.
(2). Trí tuệ khai phát, thấy đúng chân tướng của các sự vật.
(3). Có thể đạt được thần túc thông, như một thân hiện ra nhiều thân.
(4). Bảo đảm một cuộc sống tốt đẹp sau khi tái sinh trong cõi dục giới, hoặc sinh vào phạm thiên giới.
(5). Có thể đạt được diệt thọ tưởng định ngay trong hiện tại.
Đó là năm lợi ích của người tu tập về pháp môn phân tích bốn đại chủng
***