Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Thanh tịnh đạo luận toản yếu

Tác giả: Hòa thượng Thích Phước Sơn. Năm xuất bản: 2010. Số trang: 258.

Chương 26: Chương 7: Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh (Trang 229 - 238)

 
Chương 7

ĐẠO PHI
ĐẠO TRI KIẾN THANH TỊNH
( Maggàmagga- Nanadassana-Visuddhi- Niddesa)

Trí biết được cái gì là đạo, cái gì là phi đạo, gọi là Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh. Khi trí nầy xuất hiện thì cùng lúc hào quang cũng xuất hiện. Đồng thời hành giả cũng làm phát sinh ba thứ tuệ: Tuệ phát sinh do biết rõ đặc tính của sắc là bức não, đặc tính của thọ là cảm nhận gọi là Tuệ tri kiến. Tuệ phát sinh do biết đặc tính của sắc là vô thường, của thọ là vô thường, thì gọi là Tuệ suy đạt. Tuệ phát sinh do từ bỏ thường tưởng, thì gọi là Tuệ từ bỏ.
”Tuệ từ bỏ nầy diễn tiến như sau:
(1) Quán các hành là vô thường, hành giả từ bỏ
thường tưởng.
(2) Quán các hành là khổ, hành giả từ bỏ lạc tưởng.
(3) Quán các hành là vô ngã, hành giả từ bỏ ngã tưởng.
(4) Quán các hành là không đáng ưa, hành giả từ bỏ thích thú.
(5) Quán là ly tham, hành giả từ bỏ tham.
(6) Quán diệt, hành giả từ bỏ sinh ( sinh khởi).
(7) Quán xả ly, hành giả từ bỏ chấp thủ.
Hành giả quán một cách tổng quát như sau:
” Bất cứ sắc nào,quá khứ, hiện tại hay vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, hạ liệt hay thù thắng, xa hay gần, tất cả sắc ấy là vô thường, là khổ, là vô ngã. Bất cứ thọ nào, bất cứ tưởng nào, và bất cứ thức nào, chúng cũng đều mang ba đặc tính kể trên. Đây là một loại quán tổng quát”.
QUÁN BỐN MƯƠI ĐẶC TÍNH CỦA NĂM UẨN
Hành giả phân tích 5 uẩn, thấy chúng có những đặc tính: vô thường, khổ, như bệnh, cục bướu, như mũi tên, mối họa, xa lạ, phân hóa, cơn dịch, tai ương, khủng bố, đe dọa, phù du, khả hoại, không bền, vô hộ, không chỗ trú, không chỗ nương, trống rỗng, vô vi, không, vô ngã nguy hiểm, bị biến đổi, không có lõi, gốc rễ của tai ương, sát nhân, bị hoại diệt, hữu lậu, hữu vi, mồi của ma, phải bị sinh, già, bệnh, chết, sầu, bi, ưu, não, bị cấu uế. Khi quán sát các đặc tính trên, hành giả sẽ nỗ lực tinh cần, và dần dần đạt đến thanh tịnh, Niết bàn.
- Quán vô thường có 50 yếu tố: Hành giả quán mỗi uẩn gồm có mười thứ sau đây: Vô thường, tan rã, phù du, khả hoại, không bền, bị biến đổi, không có lõi, phải đoạn diệt, hữu vi, phải chết. Mỗi uẩn có mười thứ nên năm uẩn thành ra 50 thứ.
- Quán vô ngã có 25 thứ: mỗi uẩn gồm năm thứ sau đây: xa lạ, trống rỗng, vô vị, không, vô ngã. Như vậy, năm uẩn thành 25 thứ.
- Quán khổ có 125 thứ: dùng 25 pháp còn lại (trong số 40 đặc tính kể trên) nhân cho 5 uẩn, thành ra 125 thứ:
Như vậy, hành giả quán về 5 uẩn trên 3 phương diện vô thường, khổ và vô ngã, sẽ gồm có 200 đặc tính tất cả.
Bây giờ hành giả phải đi sâu hơn nữa vào từng uẩn một, trước hết quán về sắc với các khía cạnh. Sắc do nghiệp sinh; sắc do tâm sinh; sắc do đoàn thức sinh và sắc do thời tiết sinh.
1/. Hành giả phân tích Sắc do nghiệp sinh về sáu phương diện: (1) Nghiệp; (2) Cái do nghiệp sinh; (3) Cái có nghiệp làm duyên; (4) Cái do tâm sinh, có nghiệp làm duyên; (5) Cái do đồ ăn sinh, có nghiệp làm duyên; (6) Cái do thời tiết sinh có nghiệp làm duyên.
2/. Hành giả phân tích Sắc do tâm sinh theo 5 phương diện: (1) tâm; (2) do tâm sinh; (3) do duyên tâm; (4) do thực phẩm, có tâm làm duyên; (5) do thời tiết sinh có tâm làm duyên.
3/. Tiếp đến, hành giả lại phân tích Sắc do đoàn thực sinh, căn cứ trên 5 phương diện: (1) Đoàn thực; (2) do đoàn thực sinh; (3) do duyên đoàn thực sinh; (4) do đoàn thực
sinh và do duyên đoàn thực; (5) do thời tiết sinh và đoàn thực làm duyên.
4/. Hành giả lại phân tích Sắc do thời tiết sinh, căn cứ trên 5 phương diện:  (1) Thời tiết; (2) do thời tiết sinh; (3) do thời tiết làm duyên; (4) do thời tiết sinh và thời tiết làm duyên; (5) do đoàn thực sinh có thời tiết làm duyên.
Không phải dừng lại ở đây, mà hành giả còn đề cập đến bảy pháp quán về sắc; đó là: (1) lấy lên, đặt xuống; (2) sự thay đổi theo thời gian; (3) do đoàn thực sinh; (4) do thời sinh; (5) do nghiệp sinh; (6) do tâm sinh; (7) do tự nhiên.
1. Lấy lên, đặt xuống: lấy lên nghĩa là lúc sinh ra, đặt xuống nghĩa là lúc chết.
2. Sự thay đổi thep thời gian: Hành giả có thể dùng con số ước lệ một đời người là 100 năm, chia thành ba giai đoạn, hoặc chia làm mười thập niên như sau: thập niên thơ ấu, thập niên thể thao, thập niên thẩm mỹ, thập niên sức mạnh, thập niên trí tuệ, thập niên suy tàn, thập niên cúi xuống, thập niên còng lưng, thập niên lẩm cẩm, thập niên nằm dài. Hoặc chia thành bốn mùa trong năm, hoặc chia thành hai tháng một, hoặc chia từng nửa tháng, hoặc chia thành ngày đêm, hoặc chia mỗi ngày đêm thành 24 giờ, hoặc chia nhỏ thành những động tác. Tất cả các thời phần đều không ra ngoài vô thường, khổ, vô ngã, đối với cái sắc thân của chúng ta.
3. Do đoàn thực sinh: Sắc sẽ biến đổi khác nhau rõ rệt ở trạng thái đói và trạng thái no của hành giả.
Do thời sinh: Sắc sẽ biến đổi rõ rệt khi thời tiết nóng, hoặc thời tiết lạnh.
5. Do nghiệp sinh: Sắc sẽ khác nhau rõ rệt trong từng căn môn, vì sắc sinh ở nhãn căn không giống với sắc ở nhĩ căn v.v...
6. Do tâm sinh: Sắc sẽ hiện rõ rệt khi một người gặp cảnh vui hay cảnh buồn, vi tâm thay đổi thì sắc diện cũng thay đổi.
7. Do tự nhiên: Mạng sống con người trải qua bao thăng trầm, nhưng cũng không vượt qua ba tính chất vô thường, khổ và vô ngã.
Đó là bảy phép quán về sắc pháp dựa trên ba tính chất vô thường, khổ và vô ngã. Bản luận còn đề cập đến bảy phép quán về vô sắc, đó là: (1) Theo nhóm; (2) Theo đôi; (3) Theo sát na; (4) Theo loạt; (5) Bằng cách trừ tà kiến; (6) Trừ kiêu mạn; (7) Trừ chấp thủ.
1. Theo nhóm: chẳng hạn hành giả dùng nhóm năm thứ là xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư, kết hợp để quán tưởng, thì gọi là theo nhóm;
2. Theo đôi: Hành giả quán về sắc pháp có ba tính chất vô thường, khổ và vô ngã, đồng thời thấy cái tâm năng quán cũng bao hàm ba tính chất trên, đó là quán theo đôi;
3. Theo sát na: Hành giả khởi sự quán sắc pháp với ba tính chất, và kế tiếp tâm thứ hai, thứ ba v.v..., cũng quán ba tính chất trên, đó gọi là theo sát na;
Theo loạt: tiếp theo hành giả quán như trên với tâm thứ tư, và quán tâm thứ tư bằng tâm thứ năm... Tâm thứ mười bằng tâm thứ mười một, như vậy gọi là quán theo loạt;
5. Bằng cách trừ tà kiến: Khi hành giả không thấy có một hữu tính nào ở trong sắc và vô sắc, thì ngã tưởng được từ bỏ, do thế, vị ấy không khởi lên tà kiến, nên gọi là Trừ tà kiến.
6. Trừ kiêu mạn: Khi hành giả phân biệt các hành với cái tâm đã trừ ngã tưởng, thì kiêu mạn không khởi lên nữa, đó gọi là trừ kiêu mạn.
7. Trừ chấp thủ: Khi hành giả phân biệt các hành với cái tâm đã trừ kiêu mạn, thì tham ái không khởi lên nữa, mà tham ái không khởi, thì chấp thủ được đoạn trừ, nên gọi là trừ chấp thủ.
Khi hành giả đi sâu phân tích các hành thì thấy chúng không có một quyền năng tự tại để mà thi thố, do thế chúng là vô ngã.
- Thấy chúng có đó rồi lại không, do thế, chúng là vô thường;
- Thấy chúng phải chịu sự chi phối của sinh và diệt, do thế, chúng là khổ.
Như vậy có từ bỏ tà kiến nơi một người thấy các hành là vô ngã; có sự từ bỏ kiêu mạn nơi một người thấy các hành là vô thường; có sự từ bỏ chấp thủ nơi một người thấy các hành là khổ.
MƯỜI TÁM TUỆ QUÁN CHÍNH
Sau khi đã quen thuộc với các đề mục thiền sắc và vô sắc hành giả dần dần sẽ thâm nhập một phần trong mười tám tuệ quán sau đây:
1. Quán vô thường từ bỏ thường tưởng;
2. Quán khổ từ bỏ lạc tưởng; 
3.Quán vô ngã từ bỏ ngã tưởng;
4. Quán xả ly từ bỏ sự thích thú;
5. Quán ly tham từ bỏ tham;
6. Quán diệt từ bỏ sinh;
7. Quán xả từ bỏ chấp thủ;
8. Quán hoại từ bỏ tưởng kiên cố;
9. Quán sự sụp đổ của các hành từ bỏ sự tích lũy của nghiệp;
10. Quán biến chuyển từ bỏ tưởng về sự dài lâu;
11. Quán vô tướng từ bỏ tướng;
12. Quán vô dục từ bỏ dục;
13. Quán không từ bỏ được tà giải;
14. Quán tuệ từ bỏ tà giải do chấp thủ một cái lõi;
15. Quán chánh tri kiến từ bỏ tà giải do mê mờ;
16. Quán nguy hiểm từ bỏ tà giải do ỷ lại;
17. Quán tư duy từ bỏ không tư duy;
18. Quán yểm ly từ bỏ tà giải do chấp trước (PS. I, 32)
TRÍ QUÁN SING DIỆT
Sau khi tác ý về sự sinh diệt của các pháp, hành giả thấy sự xuất sinh của uẩn như sau:
1. Cùng với sự xuất sinh của vô minh, có sự xuất sinh của sắc uẩn;
2. Cùng với sự xuất sinh của ái, có sự xuất sinh của sắc uẩn;
3. Cùng với sự xuất sinh của nghiệp, có sự xuất sinh của sắc uẩn;
4. Cùng với sự xuất sinh của đoàn thực, có sự xuất sinh của sắc uẩn;
5. Ai thấy được đặc tính của xuất sinh, sẽ thấy được sự sinh của sắc uẩn.
Trái lại, về phương diện diệt của sắc uẩn, hành giả sẽ thấy rằng: (1) với sự chấm dứt của vô minh, có sự chấm dứt cửa sắc uẩn; các pháp còn lại (2) (3) (4) và (5) cũng tương tự như thế khi diệt ái, nghiệp, đoàn thực và thấy được đặc tính của xuất sinh.
Hành giả tiếp tục tác ý đến bốn uẩn còn lại cũng theo hai phương diện sinh và diệt như sắc uẩn vừa nêu. Bấy giờ, hành giả sẽ thấy rõ sự sinh của các uẩn đi kèm với sự sinh của vô minh v.v..., và sự diệt của các uẩn khi vô minh v.v... diệt, đó là tính chất sinh diệt theo duyên của các uẩn. Do vậy, có thể nói: Các pháp nầy dường như từ không mà có, sau khi hiện hữu, chúng lại trở thành không. Và như vậy, năm uẩn có một đời sống ngắn ngủi giả tạm như những giọt sương mai dưới ánh mặt trời , như bọt nổi trên nước, như hạt mè trên mũi dùi, như làn chớp. Và chúng không có lõi như trò ảo thuật, như ảo giác, như mộng, như vòng lửa quay, như thành Càn thát bà (thành của yêu quái), như bọt sủi, như thân cây chuối v.v... Đó là tính chất hư ảo của các pháp.
NHỮNG CÁU UẾ CỦA TUỆ
Khi hành giả mới được tuệ giác còn yếu ớt, thường vấp phải 10 chướng ngại, hay 10 cấu uế của tuệ sau đây: (1) Hào quang; (2) Trí tuệ; (3) Hỷ; (4) Khinh an; (5)
Lạc; (6) Quyết định; (7) Tinh tấn; (8) Vững chãi; (9) Xả; (10) Ràng buộc.
1. Hào quang: khi hành giả tác ý các hành là vô thường, ánh sáng sẽ phát sinh, rồi vị ấy cho mình đã đạt được thành quả, do đó, tâm bị chi phối bởi trạo cử, nên không thấy đúng chân tướng của các pháp là vô thường, khổ và vô ngã. Cũng thế, các yếu tố từ (2) đến (10) vốn là những khích lệ khi tuệ vừa mới phát sinh, nhưng nếu tự đắc, tự mãn cho mình đã đạt được những thành quả cao cả, mình là bậc thánh, thì thành ra cấu uế, chướng ngại trên con đường thành tựu viên mãn. Do đó, nên gọi những thứ đó là cấu uế của tuệ.
Nhưng khi thấy hào quang phát sinh, hành giả thận trọng quán sát, nhận rõ hào quang ấy là vô thường, hữu vi, duyên sinh, khả hoại; hành giả nên xem hào quang ấy là không phải của ta, không phải là ta, không phải tự ngã của ta. Thấy như vậy hành giả sẽ không bị dao động nao núng vì hào quang. Do đó, trí hành giả sẽ trở nên thanh tịnh trong sáng.
Tóm lại. Khi hành giả hiểu biết chính xác cái gì là đạo và cái gì là phi đạo, thì cái tri kiến đó được gọi là Đạo tri kiến thanh tịnh.

 
***
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »