Chương 3
CĂN ĐẾ
(Indriya-Sacca-Niddesa)
MẢNH ĐẤT CHO TUỆ TĂNG TRƯỞNG
A. MÔ TẢ VỀ CĂN
Tiếp theo giới là căn, gồm có 22 thứ: Nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn, nữ căn, nam căn, mạng căn, lạc căn, khổ căn, (thân lạc, thân khổ), hỷ căn, ưu căn, xả căn, tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, vị tri đương tri căn, cụ tri căn, dĩ tri căn.
Trước hết, về ý nghĩa thì mắt, v.v… đã được giải thích ở phần mô tả về xứ thuộc chương II, ở đấy sẽ giải thích về ba căn cuối cùng.
Vị tri đương tri căn: Căn nầy khởi lên ở giai đoạn đầu của Dự vô lưu đạo, nơi một người đã nhập lưu.
Dĩ tri căn: Vì nó là sự hiểu biết rốt ráo, nó là hậu quả của căn vừa rồi.
Cụ tri căn: nó khởi lên nơi một người đã đoạn trừ lậu hoặc, biết rốt ráo về bốn chân lý.
Vì sao gọi là căn? Căn gồm có mấy nghĩa:
1. Nó là dấu hiệu của chủ tể;
2. Được vị chủ tể chỉ dạy;
3. Được vị chủ tể thấy rõ;
4. Được vị chủ tể hoàn chỉnh;
5. Được vị chủ tể nuôi dưỡng. Vị chủ tể ở đây nhằm chỉ đức Thế Tôn, vì Ngài là vị chủ tể tối thượng.
Nhiệm vụ của nhãn căn là phát sinh ra nhãn thức, và các tâm sở tương ưng. Nhĩ, tỉ, thiệt, thân căn cũng thế.
Chia theo cảnh giới:
Mười căn thuộc dục giới: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, nữ, nam, lạc, khổ, ưu.
Tám căn thuộc cả bốn cảnh giới (Dục, Sắc, Vô sắc và Siêu thế): Ý căn, xả căn, mạng căn, tín, tấn, niệm, tịnh, tuệ.
Một căn thuộc cả ba cảnh giới (Dục, Săc, Siêu thế) Hỷ.
Ba căn thuộc Siêu thế: Vị tri đương tri căn, Dĩ tri căn, và Cựu tri căn.
B. MÔ TẢ VỀ ĐẾ
Kế tiếp căn là đế, tức bốn Thánh đế: Thánh đế về khổ, thánh đế về khổ tập, thánh đế về khổ diệt và thánh đế về đạo diệt khổ.
Khổ gồm bốn nghĩa: Bức bách, hữu vi, bốc cháy và biến đổi; tính chất của nó là chân thật, không hư ngụy,
không thể khác.
Nguồn gốc hay tập khởi của thể với ý nghĩa tích tập, căn nguyên, trói buộc, chướng ngại.
Diệt có nghĩa là thoát ly, tách rời, vô vi, bất tử.
Đạo có nghĩa là lối ra, nguyên nhân, thấy, ưu thắng (Ps. 2, 104)
(1). Nguyên nghĩa của Khổ (Dukkha): Du là xấu xa, ác độc; kham là trống rỗng. Thế nên, chân lý thứ nhất (khổ) là “xấu”. Vì nó là nơi thường lai vãng của nhiều sự hiểm nguy, và nó trống rỗng, vì không trường cửu, không đẹp, không vui, không có tự ngã.
(2). Chân lý thứ hai Tập (Samudaya): Sam là liên kết; U chỉ sự khởi lên như udita (đi lên); Aya chỉ lý do. Như vậy, chân lý nầy là lý do cho sự khởi lên của khổ, khi phối hợp với những duyên còn lại.
(3). Chân lý thứ ba Diệt (Nirodha): Ni chỉ sự vắng mặt; Rodha là nhà tù. Chân lý này chỉ sự vắng mặt của mọi sinh thú, vì nơi đây không có sự bức não của khổ được xem như nhà tù.
(4). Chân lý thứ tứ Đạo hay Khổ diệt đạo (Nirodha-Gamini-Patipadà): Con đường đưa đến chấm dứt khổ nên gọi là Khổ diệt đạo.
Cả bốn chân lý này được gọi là Thánh đế, vì chỉ có những bậc thánh mới thâm nhập được chúng. Lại nữa, những sự thật cao cả được gọi là sự thất của các bậc thánh. Hoặc, bốn thánh đế này là chân thật, không hư ảo, không thể khác, nên gọi là thánh đế. Đó là ý nghĩa của chữ đế.
Bản luận lại mô tả: “Không có niềm đau nào ngoài khổ; không có nguồn khổ nào khác hơn tham ái; không có nguồn an tịnh nào ngoài tịch diệt (Niết bàn); và không có lối thoát nào ngoài chánh đạo.”
Về thứ tự: Khổ đế được nêu trước tiên, vì nó dễ hiểu, vì nó thô phù, vì nó chung cho tất cả chúng sinh. Chân lý khổ tập nêu kế tiếp để chỉ rõ nguyên nhân. Rồi chân lý về diệt để hiển thị rằng khi nhân chấm dứt thì quả sẽ kết thúc. Chân lý về đạo được nói sau rốt để chỉ ra con đường, phương tiện đạt đến diệt. Và cổ đức cũng bảo: tri khổ, đoạn tập, tu đạo, chứng diệt. (Biết khổ để đoạn trừ các nguyên nhân của khổ (tập), nên phải thực hành các pháp môn (tu đạo), do đó mà chứng đạt sự tịch diệt).
Luận Vibhanga nêu ra 12 thứ Khổ: Sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, gần gũi cái không ưa, xa lìa cái yêu mến, cầu không toại ý, nói tóm, năm thủ uẩn là khổ.
Về nguồn gốc của khổ có ba thứ: Dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Về Diệt chỉ có một, đó là Niết bàn.
Về Đạo có 8 thứ đó là Bát chánh đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh diệt, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. (Vbh. 104)
1. Chân lý về khổ
Thông thường khổ gồm có ba loại là:
(1). Khổ khổ (dukkha-dukkha), tức nỗi khổ ở nội tại-Khi cảm thọ khổ về thân và tâm, gọi là khổ khổ, vì tự tính của nó là khổ.
(2). Hỏi khổ (Viparinàma-dukkha), khổ do biến hoại – Khi cảm thọ lạc về thân và tâm, gọi là hoại khổ,
vì đó là nhân sinh ra khổ khi cảm thọ ấy biến mất.
(3). Hành khổ (Sankhàra-dukkha), khổ về các phương diện, hoặc ngấm ngầm, hoặc lộ liễu-Xả thọ và các hanh khác trong ba cõi là hành khổ, vì chúng bị bức bách trong sinh diệt.
Phân tích về 12 thứ khổ:
a. Sinh ( Jàti): Sinh là khổ, vì nó là cội nguồn cho khổ trong các đọa xứ; nào là nỗi khổ khi đầu thai, khi ở trong bào thai và khi sinh ra. Lúc đang sống, chúng sinh cũng phải chịu bao nhiêu nỗi khổ. Nếu ở địa ngục thì khổ vì bị lửa dữ thiêu đốt. Nếu ở loài súc sinh thì phải chịu khổ vì bị đánh đập bằng roi, gậy, hoặc ăn nuốt lẫn nhau. Nếu sinh ngạ quỷ thì đau khổ vì đói khát bức bách. Nếu sinh vào a-tu-la thì đau khổ vì giá lạnh, tối tăm.
b. Già: là căn bản cho sự đau khổ thể xác và tâm hồn, khởi lên do nhiều duyên, như tứ chi nặng nề, các căn suy yếu, tuổi trẻ tan biến, sức lực phá sản, trí nhớ sút kém, bị người khi dể v.v…
c. Chết: là sự chấm dứt mạng căn nơi một chúng sinh, có nhiều nguyên nhân, như chết do thọ mạng hết, do công đức tận, hoặc chết bất đắc kỳ tử, bị tai nạn đột ngột xảy ra.
d. Sầu: là sự nung nấu đốt cháy tâm can nơi người bị mất thân quyến, hay bị mất mát những gì mình yêu quí.
đ. Bi: là sự đau buồn do mất mát người thân, của cải v.v…, được biểu hiện bằng những hành vi cử chỉ người khác có thể thấy được.
e. Khổ: là sự khổ đau, bức bách của thân xác.
. Ưu: sự khổ sở về tâm.
h. Não: sự thiêu đốt tâm can.
Sầu như chảo dầu nấu trên bếp lửa riu riu. Bi như nấu trên bếp lửa mạnh. Não như những gì còn lại trong chảo sau khi nấu, còn tiếp tục cho đến khi chảo khô.
i. Oan gia tụ hội: sự gặp gỡ những người và vật mình oán ghét.
k. Ái biệt ly: phải xa lìa những người, vật mà ta yêu mến.
l. Cầu bất đắc: sự mong cầu không toại ý.
m. Năm thủ uẩn là khổ: Vì năm uẩn là đối tượng của chấp thủ, như tấm bia thu hút những tên bắn, như ruồi nhặng bu trên thân con bò.
- Các nỗi khổ thuộc năm thủ uẩn thì sinh là cái khổ đầu tiên, già là khổ chặng giữa, chết là khổ chặng cuối.
- Khổ nung nấu tâm can, gọi là sầu.
- Khổ dưới hình thức than van khóc lóc, gọi là Bi.
- Cái khổ do thân tứ đại bị xáo trộn gọi là khổ.
- Nỗi khổ bức bách trong tâm hồn, gọi là ưu.
- Khổ ngấm ngầm, chồng chất nhiều lớp gọi là não.
- Khổ do thất vọng, gọi là cầu bất đắc khổ.
Chung quy, khi năm uẩn bị chấp thủ, chính là khổ.
Ở đây, Khổ uẩn được chia thành mười hai thứ. Thế nhưng, theo các luận điển của Đại thừa, Khổ uẩn được chia gọn thành tám thứ là: Sinh, lão, bệnh, tử, oán tắng hội, ái biệt ly, cầu bất đắc và ngũ ấm xí thạnh.
2. Chân lý về nguyên nhân khổ
Vấn đề này sẽ trình bày trong phần duyên khởi, chương IV.
3. Chân lý về sự diệt khổ
Nói đến diệt khổ, tức là diệt cái nguyên nhân của khổ, tức là khát ái, như bài kệ:
“ Như cây bị chặt đốn
Gốc cây còn vẫn mọc hoài
Ái tùy miên chưa nhổ
Khổ này sinh dài dài.”
Phương pháp diệt khổ theo Phật giáo và theo ngoại đạo:
Bản luận nêu một ví dụ để minh họa như sau: “ Như con sư tử chuyển sức mạnh tấn công người bắn nó chứ không hướng về mũi tên, cũng thế, đức Phật đề cập nguyên nhân chứ không nói hậu quả. Trái lại, ngoại đạo thì như con chó bị ném cục đất, nó sẽ hướng đến cục đất thay vì tấn công người ném. Ngoại đạo chỉ dạy chấm dứt khổ bằng cách hành thân hoại thể, mà lại không lo chấm dứt những ô nhiễm của tự tâm. (Pm,533)
Luận về Khổ diệt hay Niết bàn:
Niết bàn có thể đạt được nhờ đạo lộ chân chánh. Vì đã có các bậc thánh đạt được nó nhờ dùng phương tiện Giới, Định, Tuệ. Do thế, không thể bảo rằng Niết bàn là không có gì cả, vì ta không thể hiểu được. Điều hiển nhiên là không phải ai cũng thấy được Niết bàn, mà nó chỉ có thể đạt được bởi các vị A-la-hán, tức là những người đã đoạn tận tham, sân, si, đã cắt đứt mọi gốc rễ của khát ái.
Mục tiêu duy nhất mà đức Phật truyền dạy chính là Niết bàn. Theo bản luận thì Niết bàn có hai loại: Hữu dư y và Vô dư y.
(1). Hữu dư y Niết bàn, nghĩa là các cấu uế đã lắng dịu, nhưng hậu quả của sự chấp thủ trong quá khứ vẫn còn tồn tại.
(2). Vô dư y Niết bàn, nghĩa là đoạn tận các nghiệp đưa đên tái sinh trong tương lai, các uẩn không còn sinh khởi nữa, mà những uẩn đã sinh thì đã biến mất.
Đó là ý nghĩa Niết bàn theo bộ luật nầy. Nhưng trong Thành Duy Thức Luận, thuộc Đại Thừa thì Niết-bàn gồm có bốn loại, ngoài hai loại trên còn có hai tên gọi khác nữa là: Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn và Vô trụ xứ Niết bàn.
- Bản lại tự tính thanh tịnh Niết bàn: Tự tính của tất cả chúng sinh xưa nay vốn thanh tịnh, có vô lượng công đức, không sinh không diệt, vắng lặng như hư không, nhưng vì bị bụi bậm phiền não che khuất nên không hiển lộ được.
- Vô trụ xứ Niết bàn: Khi đã đoạn trừ hết mọi chướng ngại của tri thức, liền được trí tuệ siêu việt, không còn phân biệt giữa sinh tử và Niết bàn, không còn ưa thích hay chán ghét, phát đại trí, đại bi làm lợi ích cho chúng sinh đến cùng tận đời vị lai mà vẫn sống theo tự tính vắng lặng.24
_____________________
24 Thành Duy Thức Luận, q10, ĐTK.31, tr.55.
4. Chân lý về con đường đưa đến khổ diệt
Con đường dẫn đến khổ diệt chính là Tám chánh đạo. Tám pháp này được giải thích trong phần mô tả về các uẩn, nhưng ở đây cũng cần đề cập đến ý nghĩa của chúng như sau:
a. Chánh kiến (Samma-ditthi): Kiến giải chính xác, hiểu biết chính xác.
b. Chánh tư duy ( Samma-Sankappa): Suy nghĩ một cách chính xác, đúng đắn.
c. Chánh ngữ ( Samma-vaca): Nói lời chân thực, đúng đắn, dễ nghe, có lợi ích.
d. Chánh nghiệp ( Samma-Kammanta): Làm những việc chân chánh, như không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm v.v…
đ. Chánh mạng ( Samma-jìvati): Sinh sống bằng nghề nghiệp chân chính, lương thiện.
e. Chánh tinh tấn ( Samma-Viriya): Nỗ lực chính đáng, siêng làm việc thiện.
g. Chánh niệm ( Samma-sati): Nghĩ nhớ chân chánh, luôn tỉnh táo, cảnh giác từng việc nhỏ.
h. Chánh định ( Samma- samàdhi): Tập trung tư tưởng một cách chân chánh, không để ngoại vật chi phối làm rối loạn tâm trí.
Tám chánh đạo này liên quan đến các pháp như sau:
Chánh kiến dẫn đầu bao gồm trạch pháp như ý túc, tuệ căn, tuệ lực và trạch pháp giác chi.
Chánh tư duy bao gồm ba loại tầm là viễn ly tham, sân và hại.
Chánh ngữ bao hàm bốn loại thiện về khẩu.
Chánh nghiệp bao hàm ba nghiệp về thân, ngữ và ý.
Chánh mạng bao hàm thiểu dục, tri túc.
Chánh tinh tấn bao hàm bốn chánh cần, tấn căn, tấn lực và tinh tấn giác chi.
Chánh niệm bao hàm bốn niệm xứ, niệm căn, niêm lực và niệm giác chi.
Chánh định bao hàm bốn loại định là định có tầm tứ, định tâm, định căn, định lực và các giác chi Hỷ, Khinh an, Định, Xả.
Đồng thời Tám chánh đạo liên quan mật thiết đến ba Vô lậu học, như đoạn kinh sau đây mô tả:
Về Giới uẩn: ” Bất cứ Chánh ngữ nào, Chánh nghiệp nào, Chánh mạng nào, đều thuộc Giới uẩn.”
Về Định uẩn: Bất cứ chánh tinh tấn nào, Chánh niệm nào, Chánh định nào, đều thuộc Định uẩn.
Về Tuệ uẩn: Bất cứ chánh kiến nào, Chánh tư duy nào, đều thuộc về Tuệ uẩn.
( M.I,301)
Bản luận nêu ví dụ: Định ví như một người trông thấy hoa đẹp mà tự mình không hái được; Tinh tấn ví như người bạn đưa lưng ra cho người ấy đứng lên; Niệm ví như người đứng gần đưa vai làm điểm tựa; nhờ vậy mà người ấy hái được hoa. Nghĩa là Tinh tấn và Niệm là những yếu tố giúp sức rất đắc lực cho Định.
Những ví dụ về bốn Chân lý. Để làm sáng tỏ ý nghĩa của cả bốn chân lý, luận chủ đưa ra ví dụ:
[1]. Khổ ví như gánh nặng;
Tập ví như sự mang gánh nặng;
Diệt như gánh nặng được đặt xuống;
Đạo như phương tiện đặt gánh nặng.
[2]. Hoặc Khổ như chứng bệnh. Tập như nguyên nhân gây bệnh. Diệt như sự hết bệnh; Đạo như thuốc chữa bệnh.
Theo nghĩa tuyệt đối, cả bốn chân lý cần được hiểu là trống rỗng, vì không có người chịu khổ, người chứng sự diệt khổ, và người đi trên đạo lộ đến khổ diệt. Do đó:
Có khổ; nhưng không có người chịu khổ.
Có sở tác (tập), nhưng không có người tạo tác.
Có tịch diệt, nhưng không có người chứng đắc.
Có đạo lộ, nhưng không thực có người đi.
Tóm tắt, hai đế Khổ, Tập giống nhau, vì sâu xa, khó nắm, thuộc thế gian, hữu lậu. Nhưng chúng khác nhau về phương diện nhân và quả, cái cần liễu tri (khổ), và cái cần đoạn trừ (tập). Diệt, Đạo giống nhau, vì sâu xa, khó nắm, ví xuất thế, vô lậu. Nhưng chúng khác nhau khi chia đối tượng cần chứng (diệt), và cần tu tập (đạo). Lại nữa, Khổ, Diệt giống nhau, vì cùng là hậu quả; nhưng chúng khác nhau, vì khổ thuộc hữu vi, diệt thuộc vô vi. Tập, Đạo giống nhau, vì chúng cùng là nhân; nhưng khác nhau vì Tập thuần là bất thiện, Đạo thuần là thiện. Khổ và Đạo giống nhau, vì chúng cùng là hữu vi; nhưng khác nhau ở chổ Khổ thuộc thế gian, Đạo thì xuất thế. Cũng vậy, Tập và Diệt giống nhau, vì là pháp không phải hữu học hay vô học; nhưng khác nhau, vì Tập có đối tượng, Diệt thì không. Tạm sắp lại như sau:
Nhân : Tập, Đạo. Quả: Khổ, Diệt.
Thế gian: Khổ, Tập. Xuất thế gian: Đạo, Diệt.
Hữu vi: Khổ, Tập, Đạo. Vô vi: Diệt.
Hữu lậu: Khổ, Tập. Vô lậu: Diệt, Đạo.
Thiện: Đạo. Bất thiện: Tập.
Nói cách khác:
Khổ: quả, thế gian, hữu vi, hữu lậu.
Tập: nhân, thế gian, hữu vi, hữu lậu, bất thiện.
Diệt: quả, Xuất thế gian,vô vi, vô lậu.
Đạo: nhân, xuất thế gian, hữu vi, vô lậu, thiện.
Chương III mô tả về Căn và Đế, đến đây là chấm dứt.
***